Chia sẻ tài liệu bởi Page 20
BÀI 4:
XÁC ĐỊNH ĐỘ LƯU ĐỘNG CỦA HỖN HP BÊTÔNG
MỤC ĐÍCH THÍ NGHIỆM:
Làm quen với phương pháp và thao tác thí nghiệm xác đònh độ lưu động của
hỗn hợp bêtông dẻo thông thường.
Từ thực nghiệm, chúng ta đưa ra nhận xét về tính công tác của hỗn hợp
bêtông, khả năng lắp đầy khuôn của hỗn hợp bêtông dưới tác động của đầm
lèn, so sánh với độ lưu động thiết kế ban đầu.
1. THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH ĐỘ LƯU ĐỘNG CỦA HỖN HP BÊTÔNG:
Độ lưu động của hỗn hợp bêtông là chỉ tiêu quan trọng của hỗn hợp bêtông,
độ lưu động của hỗn hợp bêtông đánh giá khả năng dễ chảy của hỗn hợp bêtông dưới tác
dụng của trọng lượng bản thân hoặc gia công chấn động.
Độ lưu động của hỗn hợp bêtông được đánh giá thông qua độ sụt nón hoặc là
độ cứng của hỗn hợp bêtông. Đối với hỗn hợp bêtông dẻo thông thường thì độ lưu động
được đánh giá thông qua độ sụt nón.
1.1: Dụng cụ, thiết bò và nguyên vật liệu cần có trong thí nghiệm:
Côn thử độ
sụt hình nón cụt, kích
thước: chiều cao h = 300
mm, đường kính đáy
dưới D = 200 mm, đường
kính đáy trên d = 100
mm, côn nón cụt này
được áp dụng đối với cỡ
Từ cấp phối của 1m
3
bêtông, ta tính quy đổi cho việc chế tạo 12 lít
bêtông ( vì thử độ sụt nón thì cần 8 lít, đúc mẫu bêtông trong khuôn
150*150*150 thì cần ít nhất là 10,2 lít ) :
o Ximăng = 3,516 kg/12litbêtông
o Cát = 7,836 kg/12litbêtông
o Đá = 14,736 kg/12litbêtông
o Nước = 2,34 kg/12litbêtông
Nhào trộn hỗn hợp bêtông.
Nón cụt tiêu chuẩn được lau ẩm, đặt thẳng đứng trên nền phẳng +
cứng + không thấm nước.
Giữ và ép chặt nón cụt tiêu chuẩn xuống nền phẳng; đổ bêtông vào
nón cụt thông qua phễu; bêtông được đổ vào nón cụt thành 3 lớp; mỗi lớp được
đầm 25 cái bằng que đầm tiêu chuẩn, đầm từ ngoài vào trong, que đầm phải song
song đường sinh của nón cụt; kể từ lớp bêtông thứ hai, que đầm không được ăn
sâu xuống lớp bêtông phía dưới quá 2 cm.
Đầm xong, dùng bay xoa phẳng mặt của nón cụt, thu dọn bêtông rơi
vãi ở chân nón cụt. Từ từ nhất nón cụt ra ( trong vòng 5 – 7 giây ).
Đặt nón cụt tiêu chuẩn sát bên khối hỗn hợp bêtông, đặt que đầm lên
nón cụt, dùng thước đo khoảng cách từ mép dưới que đầm tới đỉnh cao nhất của
khối hỗn hợp bêtông. Ghi lại độ sụt đo được và so sánh với độ sụt thiết kế.
- Nếu SN > 8 thì hỗn hợp bêtông nhão phải tăng lượng cát và đá sao
cho C/Đ = const. Nếu SN < 3 thì hỗn hợp bêtông cứng phải tăng lượng nước
và ximăng sao cho N/X = const.
- Nếu khi rút côn mà khối mẫu bêtông bò đổ thì phải thử lại bằng mẫu
khác.
TRÌNH TỰ THỬ ĐỘ SỤT
2. TÍNH TOÁN KẾT QUẢ:
ta tháo khuôn và ngâm ngập các mẫu trong nước với t = 27
2
0
C.
- Trong một số trường hợp, nếu không sử dụng khuôn có kích thước 150x150x150 thì
cần phải nhân giá trò nén thực tế với hệ số quy đổi. Ví dụ như sau:
HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC MẪU (mm) HỆ SỐ TÍNH ĐỔI
Mẫu lập phương: 100 x100 x100 0,91
Mẫu lập phương: 150 x150 x150 1,00
Mẫu lập phương: 200 x 200 x200 1,05
Mẫu lập phương: 300 x300 x300 1,10
Mẫu lập phương: 71,4 x 143 1,16
Mẫu lập phương: 100 x 200 1,16
Mẫu lập phương: 150 x 300 1,20
Mẫu lập phương: 200 x 400 1,24
1.1: Dụng cụ, thiết bò và nguyên vật liệu cần có trong thí nghiệm :
Trong thí nghiệm này chúng ta sử dụng hỗn
hợp bt vừa mới thử độ sụt ( bài 4 ) để đúc
mẫu.
Bộ khuôn thép 3 ngăn, một ngăn có kích
thước 150x150x150.
Búa cao su, bay.
Que đầm bằng sắt tròn
16 dài 600 mm.
Bể dưỡng hộ.
Máy nén mẫu, và một số dụng cụ khác.
(kg/cm
2
)
là hệ số tính đổ phụ thuộc vào hình dáng mẫu thử
P
là lực nén phá hoại mẫu, kgf
F
là diện tích mặt chòu lực = 225 cm
2
Kết quả thí nghiệm xác đònh cường độ nén của bt lấy bằng trò số trung
bình cộng từ 3 giá trò cường độ của 3 mẫu thử. Cần xem xét điều kiện
sau: 0,85R
TB
<R
MIN
và R
MAX
<1,15R
TB
.
2. TÍNH TOÁN KẾT QUẢ:
Cường độ chòu nén của bêtông:
Mẫu
Kích thước
210,61
443,04
210.4
3
14,7×14,9
14,8×14,9
219,78
394,62
197.6 R
1
<R
3
<R
2
Sai số < 15% nên nhận 3 mẫu.
Cường độ chòu nén trung bình sau 7 ngày:
7
195.4 210.4 197.6
201
3
n
R
.
- Cả 3 mẫu được đúc với tỷ lệ nước, cát, đá, ximăng thích hợp, sai số nhỏ và điều kiện
bảo quản hợp lý nên 3 mẫu đều đạt yêu cầu.