Đề tài: “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất và việc vận dụng ở nước ta hiện nay” - Pdf 19

Tiểu luận Triết học
Luận văn
1
Tiểu luận Triết học
Đề tài: “Quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất và việc vận dụng ở
nước ta hiện nay”MỤC LỤC
. L i m uờ ởđầ
Xã hội loài người trong quá trình phát triển từ thời kỳ chiếm hữu nô
lệ, phông kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đã đánh dấu sự phát
triển mạnh của Lực lượng sản xuất và vai trò quan trọng của nó trong tiến
trình phát triển của xã hội. Đặc biệt là quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất”. Đây là quy luật hết sức phổ
biến trong công cuộc xây dựng của mỗi quốc gia, mỗi xã hội. Sự mâu thuẫn
hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ảnh hưởng rất
lớn tới nền kinh tế. Sự tổng hòa mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất là một điều kiện tất yếu cho sự phát triển của xã hội.
Hay nói cách khác, Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một
nền kinh tế. Do đó, nghiên cứu về quy luật này và việc vận dụng quy luật
này ở nước ta hiện nay sẽ giúp cho sinh viên chúng ta, đặc biệt là sinh viên
của khối kinh tế có được một nhận thức về sản xuất xã hội, hiểu được quy
luật vận động của nền kinh tế từ đó có thể góp một phần bé nhỏ của mình
vào sự nghiệp cây dựng đất nước.
2
Tiểu luận Triết học
Thấy được ý nghĩa quan trọng của vấn đề nên em đã chọn đề tài:
“Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất và việc vận dụng ở nước ta hiện nay”. Tuy nhiên do trình độ nhận
thức và hiểu biết còn hạn chế, do đó không tránh khỏi nhiều sai sót. Nên em

nhiên trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực
tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng
xản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liện sản
xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động
của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với
nhau tạo thành lực lượng sản xuất.
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, “lực lượng sản xuất hang
đầu của nhân loại là công nhân, là người lao động”. Chính người lao động là
chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động
của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động
vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản
của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công
cụ lao động do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức đã được vật
thể hoá”, nó “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản
xuất. Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày
càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học cộng nghệ đã tạo ra những thiết bị máy móc mới, công nghệ mới,
nguyên liệu mới,…Nó đã cho thấy sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa
học cộng nghệ trong sản xuất, trở thành yếu tố không thể thiếu của sản xuất
4
Tiểu luận Triết học
làm cho lực lượng sản xuất có những bước tiến nhảy vọt, tạo thành cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại. Có thể nói khoa học công nghệ hiện đại
là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
b. Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ
về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất,

năm 1853 rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người
ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức
những quan hệ sản xuất. Những quy luật này phù hợp với một trình độ phát
triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ”. Người ta thường coi
tư tưởng này của C.Mác là tư tưởng về “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”.
Cho đến nay, quy luật này hầu như đã được khẳng định cũng như các
nhà nghiên cứu Triết học Mác xít. Khái niệm “phù hợp” được hiểu với nghĩa
chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp quy luật, không phù hợp là không tốt, là trái
quy luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ “phù hợp” này.
Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà
nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng của quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất, từ đó hình thành những mối liên hệ chủ yếu cơ bản là mối
liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yếu tố này là gì ? Phù hợp hay không phù
hợp ? Thống nhất hay mâu thuẫn ? Trước hết cần xác định khái niệm phù
hợp với các ý nghĩa sau:
- Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự
“yên tĩnh” giữa các mặt ?
- Phù hợp là một xu hướng mà những người lao động không cân bằng
sẽ đạt tới ?
6
Tiểu luận Triết học
Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân
bằng là tuyệt đối. Đây chính là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển.
Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt
đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu nhìn nhận theo
một cách khác thì có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng yên, còn sự
không cân bằng là sự vậ động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm
thời, còn sự không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có

với việc xoá bỏ một phương thức sản xuất đã lỗi thời lạc hậu và thay thế nó
bằng một phương thức sản xuất mới phù hợp hơn. Sự xoá bỏ các hình thức
Quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân mà phải thông qua
một phương thức chính trị, pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực
tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm
bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành
những hình thức kìm hãm sự phát triển đó. Như C.Mác đã nhận định “Từ
một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật chất
của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước
tới nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển. Từ chỗ là những hình
thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng
xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách
mạng xã hội”. Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Một vấn đề quan trọng đặt ra trong quan hệ biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ: Sự phù hợp hay không
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng
sản xuất. Cần nhận thức một cách sâu sắc rằng, lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng cùng trong một bản chất – phương
thức sản xuất. Vì vậy chúng luôn liên hệ, quy định, rằng buộc và thích ứng
với nhau. Lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản
xuất phù hợp, đồng bộ với nó. Quan hệ sản xuất lạc hậu hơn, hoặc “vượt
trước”, “cao quá” so với lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến sự không phù hợp
8
Tiểu luận Triết học
(không thích ứng) giữa chúng và tất yếu là sẽ cản trở sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng lực lượng sản xuất không
phát hiện được hay phát hiện nhưng không giải quyết được cũng như giải
quyết sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố

đối hoá vai trò “đi trước”, “mở đường” của quan hệ sản xuất (mà thực chất
lúc đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu). Điều đó đã làm cho
khoảng cách giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ngày càng rộng ra,
và do đó làm cho nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng trong
những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX.
Ngày nay sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã được triển khai mạnh
mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to
lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng
quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần
thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở miền
Bắc và 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời kỳ băt đầu đổi mới.
Nhưng do chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nghèo, chậm phát
triển, lại trải qua chiến tranh kéo dài, nên gặp rất nhiều khó khăn. Hơn hết
trong quá trình đi lên chúng ta đa vấp phải những thiếu sót, cũng như sai lầm
trong đường lối. Đến Đại hội lần thứ VI của Đảng, với tư duy mới, chúng ta
nhận ra rằng, quan hệ sản xuất là vật cản của lực lượng sản xuất không chỉ
trong trường hợp quan hệ sản xuất đi sau mà còn cả trong trường hợp vượt
lên trước, tách rời lực lượng sản xuất. Nguyên lý quan hệ sản xuất phải phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất bao giờ cũng đúng trên
mỗi bước phát triển. Chính vì vậy, từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng đến
nay, chúng ta luôn luôn cố gắng thiết lập sự đồng bộ giữa các yếu tố trong
10
Tiểu luận Triết học
quan hệ sản xuất, trong lực lượng sản xuất và giữa quan hệ sản xuất với lực
lượng sản xuất. Điển hình nhất là những sự thay đổi trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp. Cơ chế “khoán 100” và “khoán 10” đã làm cho quan hệ sản
xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc của nền

hội, lẫn lộn đòng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Khong thấy rõ các
bước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, nên đã
tiến hành ngay cuộc cải cách xã hội đối với nền kinh tế quốc dân và xét về
thực chất là theo đường lối “đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quanh
hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập
chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể”.
Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng
rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên. Trên
con đường tìm tòi lối thoát của mình từ trong lòng nền xã hội đã nảy sinh
nhiều hiện tượng trái với ý muốn chủ quan của chúng ta, có nhiều hiện
tượng tiêu cực nổi lên trong đời sống kinh tế như quản lý kém, tham ô,…
Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với
những hình thức kinh tế - xã hội lạ được áp đặt một cách chủ quan. Kinh tế
thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc
phục nhữn hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết, về mặt này trên thực tế
chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ phải làm. Phải giải quyết đúng đắn mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục những
khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với
những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất luôn luôn thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao.
Quan điểm từ Đại hội VI cũng đã khẳng định không những khôi phục
thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể, mà phải phát triển chúng
theo chính sách rộng rãi của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là
phải nhận thức được vai trò quan trọng của thành phần kinh tế nhà nước
trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự
12
Tiểu luận Triết học
nêu gương về mặt năng xuất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối
với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể,

Chúng ta đều biết rằng, từ trước tới nay, công nghiệp hóa – hiện đại
hóa là khuynh hướng phát triển tất yếu của các nước. Và mỗi nước lại có
những cách thức khác nhau trong quá trình thực hiện đường lối phát triển
của mình. Đối với nước ta, đi lên từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát
khỏi nghèo nàn lạc hậu, nhanh chóng đạt tới trình độ của một nước phát
triển thì nhiệm vụ tất yếu phải có là đẩy minh sự nghiệp cong nghiệp hóa -
hiện đại hóa như là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc. Đại hội đại
biểu lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật - chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao. Quốc phòng an ninh vững chắc, dân
giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
Theo quan điểm của các nhà sang lập chủ nghĩa Mác - Lịch sử sản
xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan phổ biến:
một mặt con người phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự
nhiên đó, quan hệ này được biểu hiện ở lực lượng sản xuất, mặt khác con
người phải quan hệ với nhau để tiến hành sản xuất, âun hệ này được biểu
hiện ở quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt
đối lập nhau, hai mặt biện chứng của một thể thống nhất không thể tách rời.
Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái cấu thành của toàn bộ lịch sử nhân
loại thì quan hệ sản xuất là cải tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở
hiện thực của hoạt động sản xuất tinh thần và những thiết chế tương ứng
trong xã hội.
C.Mác đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển trải qua nhiều
giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định – xã hội khác mà gốc rễ sâu xa của nó
chính là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Rằng sự vận
14
Tiểu luận Triết học
động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do tác động của các

xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ
bản nhất.
Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển.
Ngược lại, quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài,
song sự ổn định đó cũng chỉ là tạm thời và cũng cần có sự thay đổi cho phù
hợp. Và đặc biệt vấn đề then chốt trong quan hệ biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất mà ta cần phải nắm được đó là: Sự phù hợp
(hay không phù hợp) của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định
của lực lượng sản xuất. Và một trong những tiêu chuẩn quan trọng của sự
phù hợp (hay không phù hợp) này là năng xuất lao động.
Đối với nước ta, việc nắm bắt sự phù hợp và không phù hợp qua từng
tiến trình phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chúng ta cần nắm bắt
chính xác để có được những hoạch định đúng đắn, tránh những sai lầm. Cần
có chủ trương đúng đắn trong việc xác lập hoàn thiện, cũng như thay đổi
quan hệ sản xuất để phù hợp với lực lượng sản xuất hiện có. Đây là cơ sở lý
luận trực tiếp của việc xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cải cách
các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay.
Với vị trí là một sinh viên, em chỉ phần nào đề cập đến được khía
cạnh của một số vấn đề. Em mong được sự góp ý của Thầy nhắm giúp em có
được hiểu biết một cách đúng đắn nhất về vấn đề này.
17
Tiểu luận Triết học
D. Các danh mục tài liệu tham khảo
- Giáo trình Triết học Mác – LêNin. (Nhà xuất bản chính trị quốc gia).
- Những chuyên đề triết học. (PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa – Nhà xuất
bản Khoa học xã hội).
- Tạp trí cộng sản.
- Tạp trí triết học (2002).
- Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VI, VIII.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status