Luận văn tốt nghiệp
Luận văn
1
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài ”Đảm bảo tiền vay và một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm
tiền vay tại chi nhánh NHN0&PTNT Lý
Nhân tỉnh Hà Nam”MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng với chức năng nhiệm vụ đó là
huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá
nhân và tổ chức, thu hút vốn từ nơi nhàn rỗi và phân phối vào nơi có nhu cầu.
Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh hàng hóa đặc
biệt, đó là “tiền”. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho nhu cầu của
các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế.
Bảo đảm tiền vay là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm việc cho vay
vốn, thu hồi vốn và lãi đúng hạn - người sử dụng vốn vay đầu tư vào nền kinh tế
có hiệu quả.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín
dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, em đã mạnh dạn chọn đề
tài:”Đảm bảo tiền vay và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm
tiền vay tại chi nhánh NHN
0
&PTNT Lý Nhân tỉnh Hà Nam”.
Ngoài phần mở, kết luận, bài luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về NHTM và bảo đảm tiền vay tại các NHTM.
Chương II: Thực trạng của công tác bảo đảm tìên vay tại các chi
nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân –
Hà Nam.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại vhi
trong nền kinh tế quốc dân, là một tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất như : nhận tiền gửi và cho vay, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với các tổ chức khác.
Ở Việt Nam hệ thống NHTM được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT
ngày 26/03/1988 được tách ra từ ngân hàng quốc gia Việt Nam ( Ngân hàng nhà
nước).
2. Các chức năng của NHTM
2.1. Chức năng tạo tiền và huy động vốn .
Một trong các hoạt động đầu tiên của NHTM là tạo tiền và hoạt động huy
động vốn, đây là hoạt động thu hút các khoản tiền nhàn rỗi của các tổ chức xã
hội, của dân cư hay của các doanh nghiệp, bằng các hình thức tiền gửi tiết kiệm
(không kỳ hạn, có kỳ hạn) hay phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu phát
hành, kỳ phiếu… Từ các sổ tiền mặt ban đầu mà khách hàng gửi vào tài khoản
của mình, thông qua các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng ngân hàng thực hiện
được chức năng tạo tiền (tiền đẻ ra tiền).
4
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
2.2 Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
Sau hoạt động huy động vốn là hoạt động cho vay, nhiệm vụ của hoạt
động này là hỗ trợ một phần nhu cầu vốn của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng, sửa chữa, mua sắm thiết bị, cơ
sở hạ tầng. Đồng thời các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức vay vốn phải cam kết
hoàn trả đúng vốn đúng hạn, sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận. Giá trị
hoàn trả của các khoản vay thường lớn hơn giá trị ban đầu, khoản chênh lệch
này chính là phần lợi nhuận mà ngân hàng thu được để duy trì hoạt động của
mình.
2.3. Làm trung gian thanh toán.
Bên cạnh 2 hoạt động chủ yếu trên các NHTM còn là trung gian thanh
toán. Qua các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại, an toàn, nhanh
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các kinh phí sản xuất
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn, nhiên liệu, lao động.
- Cho vay sinh hoạt cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng như mua sắm các vận dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải
kinh phí thông thưòng của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
3.2 Phân theo thời gian cho vay: có các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng, sử
dụng để bù đáp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến
60 tháng, sử dụng chủ yếu đầu tư mua sắm tài sản cố định cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng trên 5
năm, tối đa có thể lên đến 20-30 năm và đặc biệt có thể là 40 năm, được cung
cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây nhà, thiết bị, phương tiện vận tải có
quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp lớn.
3.3 Phân theo mức độ tín nhiệm với khách hàng có các hình thức sau:
- Cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp):
6
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Hình thức này Ngân hàng thương mại cho vay dựa trên uy tín, tín nhiệm
của khách hàng mà không đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho các khoản vay
bằng tài sản của người đi vay hay người người bảo lãnh. Ngân hàng cho vay với
mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tín nhiệm của khách hàng.
- Cho vay có tài sản thế chấp:
Khách hàng cho vay vốn cần phải có tài sản để đảm bảo cho khoản vay
của minh bằng cách cầm cố, thế chấp, bằng tài sản của người thứ 3 hoặc tài sản
hình thành từ vốn.
thế chấp) khi nguồn thu nợ thứ nhất gặp bất chắc.
Bảo đảm tiền vay không đơn thuần chỉ bằng tài sản để đảm bảo mà đảm
bảo tiền vay còn được thực hiện bằng uy tín, tiềm lực tài chính của khách hàng
có nhu cầu về vốn Ngân hàng thực hiện phân tích, đánh giá khách hàng cũng
như tính khả thi của các phương án mà khách hàng đưa ra, từ đó xác định các
phương án trả nợ thích hợp đối với khách hàng.
Mặc dù khách hàng đã có tài sản cầm cố thế chấp, song không có nghĩa là
tài sản đó đảm bảo an toàn, không gặp rủi ro nếu như Ngân hàng chỉ nhìn một
khía cạnh đòi hỏi tài sản được đảm bảo mà không quan tâm đến biện pháp an
toàn khác để thu hồi vốn thì khoản vay đó có thể sẽ trở thành nợ khó đòi. Do
vậy, cho vay được bảo đảm bằng uy tín, tiềm lực tài chính, tính khả thi của dự án
cần được quan tâm đó là hướng phát triển chủ yếu.
2. Đặc điểm của đảm bảo tiền vay:
- Bảo đảm tiền vay phát triển trong mọi quan hệ tín dụng được phát triển
lâu dài và bền chặt là dựa trên cơ sở lòng tin về sự hoàn trả trong tương lai của
các khoản nợ và khả năng cung cấp vốn đầy đủ kịp thời. Mối quan hệ của khách
hàng và Ngân hàng phải được xây dựng trên sự tin tưởng dù cho vay có đảm bảo
hay không đảm bảo bằng tài sản.
Trong đảm bảo tiền vay yêu tố đạo đức được hiểu là dù trong trường hợp
nào thì người đi vay phải coi đảm bảo tiền vay là lợi ích, tài sản của chính mình,
gắn liền với công việc và sự thành công của họ. Sử dụng tiền vay có hiệu quả và
hoàn trả nợ cho Ngân hàng đầy đủ đúng hạn là mục tiêu của người đi vay.
Sự thành công đó của khách hàng là sự đảm bảo chắc chắn cho Ngân
hàng.
Công tác thẩm định để lựa chọn dự án đầu tư khả thi, theo dõi kiểm tra
tiến trình sử dụng vốn, khách hàng phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý
8
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
và công việc rất quan trọng góp phần làm giảm bớt rủi ro mang lại hiệu quả cho
Luận văn tốt nghiệp
* Cầm cố: Là hình thức nhận tiền tài trợ từ ngân hàng phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thường
là thời gian vay vốn).
Cầm cố thích hợp với những tài sản Ngân hàng có thể kiểm soát và bảo
đảm tương đối chắc chắn, đồng thời việc Ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng
đến quá trình hoạt động của người nhận tài trợ. Các tài sản gọn nhẹ dễ quản lý
không ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường tự nhiên. Ngân hàng yêu cầu cầm
cố khi xét thấy việc Ngân hàng nắm giữ tài sản bảo đảm là không an toàn cho
Ngân hàng. Thường là các động sản mà khách hàng dễ bán dễ chuyển nhượng.
Đối với tài sản cầm cố bao gồm: Máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng
tiêu dùng, kim khí đá quý, ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi
tại các tổ chức tín dụng bằng Việt Nam đồng, ngoại tệ, trái phiếu, cổ phiếu, tín
phiếu, sổ tiết kiệm và các giấy tờ có giá. Các quyền tài sản phát sinh từ quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền được nhận tiền bảo hiểm, tàu biển theo
quy định của bộ luật hàng hải Việt Nam, máy bay theo quy định thuộc luật Hàng
không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố, các tài sản khác theo
quy đinh của pháp luật: Lợi tức, hoa lợi, tài sản hình thành từ vốn vay…
Đối với các tài sản cầm cố đòi hỏi Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp pháp,
hợp lệ, an toàn của vật cầm cố.
* Thế chấp: Theo quy định của bộ Luật dân sự và Luật đất đai có 2 loại
thế chấp là bất động sản và giá trị quyền sử dụng đất. Do vậy người vay vốn phải
chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu các tài sản thế chấp sang cho Ngân hàng
nắm giữ trong thời gian cam kết. Còn các doanh nghiệp tài sản chủ yếu là hàng
hóa và tài sản cố định, mà các tài sản này lại tham gia vào quá trình sản xuất do
đó khách hàng không thể cầm cố, bên cạnh đó đây là các loại tài sản cồng kềnh,
phân tán, có giá trị lớn nên chuyển nhượng phức tạp, Vì vậy bảo đảm bằng thế
chấp tài sản là phổ biến đặc biệt với doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hình thức
này cho phép khách hàng được sử dụng bảo đảm phục vụ cho sản xuất kinh
doanh đó là một thuận lợi, song trong quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản,
- Xác định giá trị tài sản bên thứ 3 cầm cố thế chấp và mức cho vay.
Giá trị tài sản bên thứ 3 cầm cố thế chấp cũng được đánh giá kỹ như tài
sản cầm cố thế chấp của chính khách hàng vay vốn, và các điều khoản về khách
hàng vay, tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bảo đảm còn các khoản mục về người bảo
lãnh, các thỏa thuận, cam kết của người bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ trả
nợ thay cho khách hàng vay khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ cùng
với việc xử lý tài sản bảo lãnh khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ
11
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
cùng với việc xử lý tài sản bảo lãnh khi đến hạn mà không thực hiện được nghĩa
vụ bảo lãnh.
Mức cho vay: Phải nhỏ hơn so với giá trị tài sản đảm bảo và xác định theo
tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định.
c. Bảo đảm tài sản từ vốn vay.
* Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay tức là việc khách
hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả
nợ cho chính khoản vay đó đối với các tổ chức tín dụng. Hình thành này áp dụng
cho vay trung và dài hạn hoặc do Chính phủ giao trong một số trường hợp.
* Điều kiện đối với khách hàng và tài sản hinh thành từ vốn vay:
- Điều kiện đối với khách hàng là nhưng khách hàng có tín nhiệm, uy tín
đối với tổ chức tín dụng; có năng lực tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ; có
dự án đầu tư; phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi. Có mức vốn tự có
tham gia tối thiểu bằng 20% mức vốn đâu tư của dự án.
- Điều kiện đối với tài sản hình thành từ vốn vay: phải xác định được
quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc quyền quản lý, sử dụng, xác định được
giá trị số lượng, đặc điểm của tài sản và được phép giao dịch, không có tranh
chấp, mua bảo hiểm. Các tổ chức tín dụng phải có khả năng quản lý, giám sát tài
ản bảo đảm đối với các tài sản là vật tư hàng hoá.
4.2. Bảo đảm tiền vay bằng tín chấp ( không co tài sản bảo đảm ):
* Các nhân tố thuộc về Ngân hàng
Để mang lại hiệu quả cho đồng vốn lưu chuyển, tức là cả vốn và lãi sẽ
quay lại với NHCV sau một thời gian nhất định đòi hỏi NHCV phải thực hiện tốt
chất lượng thẩm định và quy trình cho vay.
Thẩm định ở đây chính là thẩm định dự án đầu tư, đánh giá năng lực tài
chính của khách hàng, đánh giá tài sản bảo đảm… để đánh giá khả năng trả nợ
của khoản vay. Làm tốt khâu thẩm định này sẽ làm tăng khả năng thu hồi gốc và
lãi đẩy mạnh quá trình cho vay, hạn chế bất lợi xảy ra và bảo đảm độ an toàn của
vốn tín dụng.
* Các nhân tố thuộc về khách hàng:
13
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Khách hàng là một nhân tố chủ quan quan trọng đối với bảo đảm tiền vay.
Nếu như khi nhận được vốn vay mà khách hàng biết sử dụng đồng vốn đúng
mục đích, có năng lực quản lý giỏi, khả năng kinh doanh tốt… sẽ mang lại lợi
nhuận cao thì dễ dàng hoàn trả gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn làm tăng
hiệu quả chất lượng khi cho vay.
Nhưng nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích như vốn ngắn hạn
dùng đầu tư tài sản cố định thì khó thu hồi vốn kịp thời để hoàn trả nợ đúng hạn,
hay khả năng tài chính của doanh nghiệp không ổn định, khả năng sản xuất kinh
doanh kém, làm ăn thua lỗ, làm cho chất lượng bảo đảm tiền vay không hiệu quả
gây khó khăn và rủi ro cho Ngân hàng.
2. Nhân tố khách quan:
Các nhân tố khách quan là các nhân tố thuộc về môi trường, chính trị xã
hội và kinh tế bao gồm các chiến lược, đường lối, chủ trương chính sách phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, do đó trong quá trình thực hiện nhà nước
cần quan tâm điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế phù hợp, tạo thuận lợi
cho khách hàng cũng như các tổ chức tín dụng.
Bên cạnh đó, nhân tố môi trường cũng tác động không nhỏ tới hoạt động
0
&PTNT Lý Nhân được thành lập và hoạt động bắt đầu từ
năm 1958 với 50 năm kinh nghiệm và trưởng thành, Ngân hàng đã góp một phần
công sức không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế huyện Lý Nhân. Tỷ lệ dư
nợ hàng năm tăng 14,10% đáp ứng kịp thời, chính xác cho nhu cầu vốn để phát
triển sản xuất và kinh doanh. Ngân hàng đã giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân
trên địa bàn hoạt động tốt hơn, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của huyện.
Nhiệm vụ chính của chi nhánh là huy động vốn, nhận các loại tiền gửi của
các cá nhân và đơn vị, đồng thời tiến hành xem xét và cho vay vốn ngắn hạn,
trung dài hạn cho các đơn vị khách hàng, làm dịch vụ thanh toán chuyển tiền và
các dịch vụ khác.
Để đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh tiền tệ NHN
0
&PTNT Lý
Nhân có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ hoạt động có hiệu quả với hai chi nhánh Ngân
hàng cấp III trực thuộc đặt cách trung tâm huyện bán kính từ 5-15 km ở vị trí
quan trọng trên địa bàn, nhằm phục vụ thuận tiện nhanh chóng nhu cầu tiền gửi,
vay vốn của các đơn vị kinh tế.
15
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Chi nhánh Ngân hàng cấp III chợ Chanh cách Ngân hàng huyện 15 km
thực hiện hoạt động kinh doanh trên địa bàn 7 xã.
Chi nhánh Ngân hàng cấp III Chợ Cầu có trụ sở cách Ngân hàng huyện
5km thực hiện nhiệm vụ huy động vốn và cho vay trên địa bàn 5 xã.
Hội sở chính của NHN
0
&PTNT Lý Nhân nằm tại trung tâm thị trấn Vĩnh
Trụ và cạnh các cơ quan chính của huyện như Kho bạc, Bưu điện, Chi cục thuế,
nghiệp vụ của chi nhánh NHN
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG KẾ TOÁN NGÂN QUỸ
PHÒNG
HÀNH CHÍNH
CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CẤP III
PHÒNG
TÍN DỤNG
Luận văn tốt nghiệp
MÔ HÌNH CỦA CHI NHÁNH NHN
0
&PTNT LÝ NHÂN:
4. Chức năng các phòng ban:
NHN
0
&PTNT Lý Nhân là một trong những Ngân hàng cấp II trực thuộc
NHN
0
&PTNT tỉnh Hà Nam với 33 cán bộ, ban giám đốc và 3 phòng nghiệp vụ
tại các chi nhánh Ngân hàng cấp III
- Phòng tín dụng.
- Phòng kế toán và ngân quỹ.
- Phòng hành chính nhân sự.
4.1. Phòng tín dụng:
Biên chế chiếm 45% số cán bộ của cơ quan, phòng tín dụng chiếm vị trí
khá quan trọng, nhiệm vụ của phòng là huy động và cho vay đối với các hộ sản
xuất và các tổ chức kinh tế. Hoạt động tín dụng mà phát triển thì lợi nhuận của
Ngân hàng thu được cũng tăng lên. Thông qua hoạt động vay vốn còn thực hiện
nhiệm vụ tiếp cận thị trường, cung ứng vốn cho nền kinh tế, bên cạnh đó còn
thực hiện nhiều dịch vụ khác như bảo lãnh, cầm đồ dịch vụ đời sống.
II. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI
CHI NHÁNH NHN
0
&PTNT LÝ NHÂN
1. Hoạt động huy động vốn.
18
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Bảng 1: Kết quả huy động vốn qua các năm tại NHN
0
&PTNT Lý Nhân
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007
So sánh
2007/2006
(1)
Tỷ
trọng
(%)
(2)
Tỷ trọng
(%)
Tăng (+)
Giảm (-)
Tỷ lệ
(%)
Tổng nguồn vốn huy
động
109.85
116.445 triệu đồng tăng 6591 ( bằng 106% so với năm 2006 ).
Trong đó tăng chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn trên 12 tháng, năm
2006 chiếm tỷ trọng 71,3%; năm 2007: 72,6%. Nếu phân theo khách hàng thì
nguồn huy động chủ yếu là từ dân cư năm 2006 chiếm 85,9%, năm 2007 chiếm
85,6%. Đây là nguồn vốn có lãi xuất và tốc độ tăng trưởng vững chắc ổn định
19
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
nên mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động về sử dụng vốn.
Qua số liệu trên ta thấy được tiềm năng huy động vốn từ dân cư của Ngân
hàng rất lớn, điều này chứng tỏ được uy tín của Ngân hàng Lý Nhân trên địa bàn
ngày càng tăng lên. Mặc dù từ năm 2000 đã có 1 Ngân hàng cạnh tranh trong
hoạt động Ngân hàng là chi nhánh Ngân hàng công thương Hà Nam, song ngồn
vốn huy động trong các tầng lớp dân cư của NHN
0
&PTNT Lý Nhân không
ngừng tăng lên. Có được kết quả trên là do mở rộng công tác huy động vốn đến
từng cán bộ CNV kể cả cán bộ tín dụng nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng
hoá các hình thức huy động không kỳ hạn, có kỳ hạn phát hành trái phiếu v.v…
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế tuy
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động nhưng lại chiếm vị trí quan
trọng vì đây là nguồn vốn có quy mô thường rất lớn, chi phí trả lãi thấp hơn so
với các loại tiền gửi khác. Trong nhưng năm gần đây, chi nhánh NHN
0
&PTNT
Lý Nhân đã nỗ lực trong việc khơi tăng loại tiền gửi này để giảm lãi xuất đầu
vào từ đó tăng khả năng cạnh tranh thị trường. Cụ thể năm 2007 tăng so với năm
2006 là: 1.279 triệu đồng, tăng 108,25% so với năm 2006
Việc huy động ngoại tệ chiếm tỷ trọng nhỏ song đã thấy tăng qua các năm:
3. Dư nợ 91.942 100 94.241,5 100 2.299,5 102,5
- Ngắn hạn 52.085 56,65 52.502 55,7 417 100,8
- Trung, dài hạn 38.983 42,4 40.465,5 42,94 1.482,5 103,8
- Nợ quá hạn 874 0,95 1.274 1,36 400 145,76
(Số liệu: Báo cáo kết quả kinh doanh tín dụng năm 2007 NHN
0
&PTNT Lý
Nhân)
Song song với nghiệp vụ về huy động vốn, nghiệp vụ về cho vay vốn đóng
vai trò quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nhưng
sai lầm trong công tác sử dụng vốn cho vay sẽ dẫn đến hậu quả không lường
không chỉ ảnh hưởng đến chi nhánh NHN
0
&PTNT Lý Nhân mà còn ảnh hưởng
đến cả hệ thống Ngân hàng.
Từ bảng 2 cho thấy hoạt động cho vay của NHN
0
&PTNT Lý Nhân có bước
tăng trưởng rõ rệt, doanh số cho vay hàng năm tăng hàng chục tỷ đồng, năm
2007 so với năm 2006 là 15419,5 triệu đạt tỷ lệ 144,9.
Xét về cơ cấu tín dụng thì tỷ lệ doanh số cho vay trung và dài hạn chiếm
38,2 năm 2006, 40,16 so với năm 2007.
Doanh số thu nợ cũng tăng dần qua các năm. Năm 2006 thu nợ được
101.261 triệu đồng; năm 2007 là 123.133 triệu đồng tăng 21.872 triệu đồng so
21
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
với năm 2006. Có được kết quả trên NHN
0
&PTNT Lý Nhân đã thực hiện tốt
Tổng chi tiền mặt cũng tăng nhiều năm 2005 là: 419.393 triệu đồng so với
năm 2004 tăng 21,1%.
- Dịch vụ ngân hàng:
22
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Hoạt động dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền điện tử trong nước và chi
trả kiều hối (chi trả bằng VND) đều do bộ phận kế toán ngân quỹ đảm nhiệm.
Toàn ngân hàng có hơn 700 tài khoản của các thành phần kinh tế và cá
nhân có quan hệ giao dịch thanh toán và hàng chục ngàn người gia dịch thanh
toán bằng chứng minh thư nhân dân. Dịch vụ này đã làm tăng thu nhập ngoài
dịch vụ tín dụng của NHN
o
&PTNT huyện Lý Nhân, năm 2004 là 117 triệu đồng,
năm 2005 là 209 triệu đồng. Qua số liệu đáng mừng trên chứng tỏ chất lượng và
số lượng của công tác dịch vụ thanh toán của NHN
o
&PTNT huyện Lý Nhân
ngày càng được nâng lên.
III. THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO TIỀN VAY VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC HIỆN NAY TẠI CHI NHÁNH NHN
0
&PTNT LÝ
NHÂN TỈNH HÀ NAM
Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ
không thực hiện được, nếu không có nguồn bổ sung tất yếu Ngân hàng sẽ gặp rủi
ro tín dụng. Do đó để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng thường yêu cầu
ngươi đi vay phải có các đảm bảo cần thiết, tức khách hàng phải trao cho Ngân
hàng tài sản, các giấy tờ sở hữu tài sản hoặc phải có tín chấp (có tín nhiệm với
Ngân hàng)… Như vậy bảo đảm tiền vay là yêu cầu thiết yếu trong hoạt động
Tài sản cầm cố: Tài sản do khách hàng giữ hoặc bên thứ 3 giữ và mức cho
vay bằng 50% giá trị tài sản cầm cố; bộ chứng từ xuất khẩu thì cho vay bằng
90% giá trị thanh toán mà khách hàng được hưởng từ bộ chứng từ hoàn hảo.
Tài sản hình thành từ vốn vay thì mức cho vay tối đa bằng 70% vốn đầu
tư của dự án, phương án vay vốn. Tỷ lệ vốn tự có của khách hàng vay vốn phải
cao hơn và do giám đốc NHCV quyết định dựa trên kết quả thẩm định, mức độ
rủi ro và hiệu quả của dự án vay.
b. Vay không có tài sản đảm bảo ( bằng tín chấp ).
Đối với cán bộ công nhân viên chức thực hiện theo công văn số 34/CV –
NHNN ngày 28/01/2000 của thống đốc Ngân hàng Việt Nam thì việc cho vay có
thể thu nợ bằng tiền lương, trợ cấp và các khoản thu khác.
Đồng thời các tổ chức tín dụng có thể quyết định khách hàng cho vay
không có tài sản bảo đảm dựa trên mức độ tín nhiệm, khả năng tài chính, dự án
khả thi.
1.3. Công tác thẩm định vay vốn tại chi nhánh NHN
0
&PTNT huyện Lý
Nhân
Căn cứ vào bộ hồ sơ khách hàng gửi đến cán bộ tín dụng được giao nhiệm
vụ có trách nhiệm tiến hành thẩm định trước khi cho vay.
* Nội dung thẩm định:
24
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656
Luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh thẩm định và xem xét hồ sơ vay theo đơn xin vay vốn của khách
hàng, cán bộ tín dụng phải đánh giá được khả năng tài chính của khách hàng
mức dư nợ có đủ điều kiện hay không trên vốn vay, trong đó vốn tự có là bao
nhiêu. Thông thường vốn tự có tham gia dự án bằng 20% vốn vay. Từ đó cán bộ
tín dụng có khả năng đánh giá được khả năng sinh lời của dự án trên nhu cầu vay
vốn của khách hàng.
3.017 3,1 1.740 1,7 -1277 -57,67
- Bằng TSCC, TC của
người vay và tài sản từ
vốn vay
3.858 3,9 1.973 1,9 -1885 -51,14
(Số liệu báo cáo về tình hình huy động vốn tại chi nhánh NHN
0
&PTNT Lý
Nhân)
Qua biểu 3 cho thấy: Trong 3 hình thức bảo đảm tiền vay thì cho vay bằng
tín chấp là chủ yếu. Đó là sự tín nhiệm của Ngân hàng đối với người vay thông
25
SV: Ngô Anh Trung MSV: 04A02656