Tìm hiểu đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinhphụ" - Pdf 19

Tìm hiểu đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh
phụ" I/ Tìm hiểu chung

1.Tác giả

-Đặng Trần Côn(?-?), sinh tại làng Nhân Mục-Nhân
Chính-Thanh Xuân-Hà Nội

-Làm chức can gián vua

-Sáng tác: thơ, phú chữ Hán.

2. Dịch giả

-Đoàn Thị Điểm (1705-1748), quê làng Giai Phạm- Văn
Giang-Hưng Yên.

-ý kiến khác: Phan Huy ích (1750-1822), quê làng Thu
Hoạch-Thiên Lộc-Hà Tĩnh.

3.Tác phẩm: “Chinh phụ ngâm”

-Hoàn cảnh ra đời:

+Hoàn cảnh sáng tác:đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều
cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, nhiều trai tráng phải giã
từ người thân ra trận.


+ Thơ tự sự kể lại các sự vật, sự kiện khách quan, Vd:
“Lục Vân Tiên”, bài ca dao “Mười cái trứng”. Trái lại, thơ
trữ tình chủ yếu miêu tả diễn biến nội tâm của con người.
“Chinh phụ ngâm” là tác phẩm thơ trữ tình. Dù có kể sự
vật, sự việc gì thì tác phẩm cũng để nói lên tâm trạng con
người. Vd:

“ Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại châu chan.”

Hai câu thơ không chỉ tả việc đốt hương, soi gương mà
muốn bộc lộ nội tâm của người chinh phụ. Từ “gượng”
điệp lại hai lần diễn tả sự miễn cưỡng, chán chường. Bởi
vì trí óc nàng đang còn “mê mải” đâu đó, tâm hồn nàng
đang buồn đau đến mức “lệ châu chan”.

+ Nội tâm con người là điều vô hình, người khác không
thể nghe hay nhìn thấy được. Nhiệm vụ của nhà văn là tả
sao cho cái vô hình đó hiện hữu, có thể cảm nhận được.
Đó là nghệ thuật miêu tả tâm trạng và “Chinh phụ ngâm”
đã rất thành công trong nghệ thuật này

-Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần 2 tác phẩm, từ câu 193 tới
228, nói lên nỗi cô đơn của người chinh phụ trong thời
gian không có tin tức của người chồng.

-Bố cục: 3 phần

+16 câu đầu: nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh
một mình một bóng

kìm nén được, nàng đã bộc lộ bằng những câu than vãn
đau đớn. Từ “bi thiết” là một tính động từ nhấn mạnh nỗi
buồn đau xen trộn của nàng. Ta cảm tưởng như ống kính
máy quay đang kề sát chân dung người chinh phụ để
chớp lấy cân cảnh sắc thái tâm trạng tinh vi. Đó là tâm
trạng buồn rầu tới chẳng thiết nói năng: “Buồn lời”. Câu
thơ đã nêu lên quy luật tất yếu của nỗi buồn. Khi buồn tới
độ cao trào, con người trở nên câm lặng trước mọi vật.
Tới câu 8, ống kính lại đưa ra xa để bao quát căn phòng.
Trong lòng người thì bão tố mà cảnh vật thì tĩnh mịnh đơn
côi tới buồn bã! Sao nhìn cảnh ấy không thương cho
được!

b. 8 câu tiếp (9 – 16)

- Thời điểm là đêm tối về sáng, chứng tỏ người chinh phụ
đã thức cả đêm dài. Nàng như đang đếm thời gian nhưng
càng chờ càng thấy dài: “Khắc giờ đằng đẵng như niên/
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”. Tác giả đã dùng
biện pháp so sánh kết hợp với từ láy để nhấn mạnh cảm
thức về thời gian ở người chinh phụ. Tác giả so sánh với
hình ảnh cụ thể để miêu tả độ dài, độ sâu vô tận của thời
gian và nỗi sầu. Từ láy “đằng đẵng” mô tả độ nhích chậm
chạp của thời gian. Nếu ở trên không gian bị trống vắng
hoá thì ở dưới dải cao su thời gian lại bị kéo dãn ra vô tận
không có điểm dừng. Từ láy “dằng dặc” đối với từ láy
“đằng đẵng” ở trên cho ta thấy thêm một khía cạnh của
tâm trạng, dường như không chỉ buồn chán mà còn tù
túng, bế tắc. Câu thơ đã diễn tả đúng một quy luật của nỗi
nhớ: càng nhớ thời gian càng như dài ra.

- Hình ảnh gợi ra không gian mênh mông, vô tận của
chiến địa. “Non Yên” chính là hình ảnh tượng trưng cho
nơi chiến trận, nó chẳng rõ là đâu, lại xa xôi, bất trắc. Đó
còn là không gian buồn bã, lạnh lẽo bao trùm “Cảnh buồn
người thiết tha lòng Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa
nện khơi.” Cái lạnh như ăn mòn mọi thứ. Qua biện pháp
ẩn dụ cùng việc sử dụng các động từ mạnh, ta cảm thấy
từ giọt sương, tiếng trùng đến mưa xuân cũng như ẩn
tàng một sức mạnh ghê gớm. ở đây, thiên nhiên và con
người đã soi chiếu vào nhau, cùng mang chung nỗi sầu.
Đúng như Nguyễn Du đã nói: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo
sầu./Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Từ “thiết tha”
được đảo lên trước từ lòng để nhấn mạnh tâm trạng
người chinh phụ. Giờ đây, nỗi buồn đã chuyển thành nỗi
đau trong lòng người chinh phụ.

- Lối thơ vắt dòng: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin Đèn
có biết dường bằng chẳng biết.”; “Nghìn vàng xin gửi tới
non Yên Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu.”; “Hoa giãi
nguyệt, nguyệt in một tấm Trước hoa dưới nguyệt trong
lòng xiết đâu!”. Hình thức này làm những câu thơ có sự
liên kết với nhau đồng thời góp phần diễn tả nỗi buồn triền
miên, kéo dài lê thê không dứt.

-> Đó là trường tâm trạng thể hiện nhiều cung bậc: tù
túng, cô đơn, buồn rầu, chán chường, kinh sợ, Nó là
hình ảnh điện tâm đồ trong trái tim người chinh phụ.

-> Giá trị nhân đạo: đồng cảm với khao kháthạnh phúc lứa
đôi, gián tiếp lên án chiến tranh phi nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status