ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình SGK Ngữ văn mới được xây dựng theo nguyên tắc dạy học
theo trục kiến thức thể loại trên cơ sở có tính đến yếu tố lịch sử văn học. Việc dạy
học các văn bản Ngữ văn nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất
về thể loại văn học đồng thời rèn luyện các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết). Theo đó ngâm khúc là thể loại được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ văn 10 cả ở ban cơ bản và nâng cao. Việc giảng dạy ngâm khúc trong
nhà trường phổ thông là một điều cần thiết bởi đây là thể loại thơ trữ tình trường
thiên của dân tộc góp phần quan trọng tạo nên diện mạo cũng như sự phát triển của
văn học Việt Nam trung đại.
Hiểu là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động đọc. Trong dạy học tác phẩm
văn chương, đọc hiểu, theo đúng nghĩa, là mục đích lí tưởng của việc đọc văn
Phương pháp dạy học Văn theo hướng đọc hiểu đã bộc lộ những ưu điểm phù hợp
với yêu cầu dạy học hiện nay. Tuy vậy, dạy thế nào để giúp học sinh vừa rèn luyện
được kĩ năng đọc và tạo lập văn bản, vừa không làm giảm chất văn của môn văn là
một vấn đề cần được quan tâm.
Thực tế dạy học Văn những năm gần đây cho thấy việc đọc hiểu chưa thực
sự được học sinh đề cao, học sinh ở nhà thì phụ thuộc vào sách tham khảo, lên lớp
thì phụ thuộc vào giáo viên, thế nên có nhiều học sinh biến môn Văn thành môn
học thuộc lòng nên dần dần mất cảm hứng, mất năng lực cảm nhận văn học.
“Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích Chinh phụ ngâm) là một trích
đoạn đặc sắc tiêu biểu cho thể loại ngâm khúc, đồng thời cũng đánh dấu những
bước tiến vượt bậc trong tư duy nghệ thuật về con người ở văn học trung đại. Đọc
hiểu trích đoạn trên không chỉ để thấy cái hay cái đẹp của một đoạn văn bản cụ thể
mà còn để thấy phần nào diện mạo văn học ở thời kì phát triển đỉnh cao nhất. Tuy
nhiên do khoảng cách về thời gian, do sự khác nhau của tư duy thời đại, học sinh
phổ thông hiện nay chưa cảm thụ được hết những giá trị của trích đoạn nói trên
1
cũng như những giá trị của thể loại ngâm khúc từng làm say mê biết bao tâm hồn
thế hệ độc giả Việt Nam. Mặt khác, nhiều giáo viên khi dạy văn bản này đều bám
vào phương diện nội dung, không chú ý đến đặc trưng thể loại, do đó không khai
ngâm khúc.
2.2 Đặc điểm loại hình của thể ngâm khúc
* Kết cấu: Ở Ngâm khúc chỉ có duy nhất một nhân vật trữ tình đang tự bạch tâm
trạng, phô diễn dòng ý thức đang vận động trong tâm tư để dẫn đến một sự cảm
nhận mới về cuộc sống. Kết cấu thơ trữ tình là sự tổ chức triển khai tứ thơ để thể
hiện dòng tâm trạng ấy.
Ngâm khúc thường mở đầu bằng việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ
tình trong thời hiện tại. Tâm trạng này nảy sinh do những biến cố buồn đau trong
quá khứ: chiến tranh – chia li, bị ruồng bỏ, chồng chết…Từ nỗi buồn đau ở hiện tại,
nhân vật trữ tình hồi tưởng lại quá khứ xa, gần và xót xa nhận ra rằng hạnh phúc
chỉ tồn tại trong quá khứ. Trong sự bế tắc, tuyệt vọng họ mơ về tương lai. Đó là
giấc mơ chồng trở về trong hào quang chiến thắng (Chinh phụ ngâm) hay vãn hồi
được tình yêu của đấng quân vương (Cung oán ngâm)…
* Nhân vật trữ tình: Văn học giai đoạn thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX đã thoát
dần khỏi lối tư duy truyền thống mang tính chất Nho giáo. Từ quan niệm “thi dĩ
ngôn chí” của văn học giai đoạn trước, lúc này văn học hướng đến thể hiện những
khát vọng riêng tư về hạnh phúc và tình yêu. Nhân vật trữ tình trong Ngâm khúc
thường tự bộc lộ mình qua những cảm xúc, suy nghĩ, cách nhìn nhận cuộc sống. Họ
ít nhiều mất niềm tin vào lý tưởng và các nguyên tắc đạo đức truyền thống Nho
giáo. Người chinh phụ từng tin tưởng, hi vọng vào sự ra đi của chồng đã đi đến hối
hận, phủ nhận hai chữ công danh.
3
* Không gian nghệ thuật: Không gian trong Ngâm khúc đều được nhìn qua lăng
kính chủ quan của nhân vật. Do đó mà các tác giả Ngâm khúc đều thực hiện rất
triệt để thủ pháp lấy cái ngoại hiện để miêu tả cái nội tâm.
Không gian nghệ thuật của Ngâm khúc mang những đặc điểm sau:
- Không gian mơ hồ mang tính ước lệ tượng trưng.
- Không gian nơi có sự tồn tại của nhân vật trữ tình thường chật hẹp, tù túng
khiến cho con người cảm thấy ngột ngạt, buồn bã. Đó là không gian trong rèm của
người chinh phụ hay “phòng tiêu lạnh ngắt như tờ” của người cung nữ…
- Thể thơ song thất lục bát sử dụng được nhiều kiểu đối: đối giữa 2 câu thất, đối
trong câu lục, đối trong câu bát.
- Nhạc tính của thể song thất lục bát còn được tăng lên do việc các nhà thơ thường
sử dụng từ láy và phép điệp từ, điệp cụm từ, điệp cấu trúc câu.
- Ở lời thơ Ngâm khúc thường thấy sự xuất hiện khá cao của lớp từ Hán Việt. Việc
dùng nhiều từ Hán Việt là do đối tượng thẩm mĩ chi phối bởi ngâm khúc hướng về
miêu tả nỗi lòng của một chinh phụ khuê các, một cung nữ trong lầu son gác tía,
một bà hoàng hậu…và đằng sau đó là hình bóng tác giả - những trí thức phong
kiến.
- Lời thơ ngâm khúc sử dụng nhiều điển tích điển cố. Đây là một tư duy nghệ thuật
thường thấy ở văn học trung đại. Việc dùng điển tích điển cố giúp cho cách diễn
đạt trở nên súc tích và rất phù hợp với thị hiếu ngôn ngữ của tầng lớp trí thức quý
tộc.
- Tuy vậy, bên cạnh những từ Hán Việt, những điển tích điển cố Hán là lớp từ
thuần Việt được sử dụng rất tinh tế và đắc địa trong việc miêu tả tâm lí nhân vật.
Nhờ đó mà tính Việt hóa trong ngôn ngữ văn học dân tộc cũng được coi là đóng
góp lớn của thể loại này.
5
Như vậy với những đặc điểm trên về kết cấu, nhân vật trữ tình, không gian
nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, lời thơ, chúng ta nhận thấy ngâm khúc là thể loại
có những nét riêng đánh dấu một bước trưởng thành của thể loại văn học dân tộc.
3. Phương hướng dạy đọc hiểu trích đoạn ngâm khúc “Tình cảnh lẻ loi của
người chinh phụ” theo đặc trưng thể loại
Ngâm khúc là thể thơ trữ tình trường thiên vì thế mà quá trình đọc hiểu sẽ có
nhiều khó khăn hơn so với đọc hiểu một thể loại tự sự (ví dụ như truyện Nôm). Vì
từ đầu đến cuối chỉ là dòng tâm trạng của duy nhất một nhân vật trữ tình lại chủ
yếu là những cảm xúc đau buồn, oán than thế nên đây cũng là một thách thức đặt ra
đối với người đọc nhất là học sinh phổ thông hiện nay vốn rất xa lạ với cuộc sống
được thể hiện trong Ngâm khúc.
Ở Chinh phụ ngâm, nhân vật trữ tình là một người chinh phụ có chồng đi
là của Phan Huy Ích, một nghiêng về của Đoàn Thị Điểm.
Về đoạn trích: cần nêu vị trí đoạn trích để học sinh dễ hình dung hơn khi tìm
hiểu nội dung đoạn trích.
Phần gợi dẫn đọc tác phẩm, giáo viên lưu ý học sinh đọc đúng nhịp điệu đặc
trưng của ngâm khúc: chậm rãi, thiết tha, đượm buồn.
Gợi dẫn tìm hiểu tác phẩm là hoạt động chính của quá trình tổ chức hướng
dẫn học sinh đọc hiểu văn bản. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu cả hai bình
diện nội dung và nghệ thuật để thấy được cái hay cái đẹp của đoạn trích. Để qua
đọc hiểu học sinh có thêm kiến thức về thể loại ngâm khúc, về tư tưởng chủ đạo
của văn học thế kỉ XVIII, cũng như những thông điệp mà tác giả gửi gắm. Trong
phần gợi dẫn tìm hiểu tác phẩm, cần lưu ý hướng dẫn học sinh phát hiện và cảm thụ
được ý nghĩa tiềm ẩn đằng sau vỏ ngôn từ, giúp học sinh tổng hợp được những tri
thức cơ bản của bài học.
7
Tiếp đó giáo viên cần định hướng cho học sinh vận dụng những kiến thức
vừa có được trong bài học để làm bài tập nâng cao.
Về cách thức gợi dẫn: có nhiều cách thức ở những thời điểm khác nhau. Có
thể sử dụng các dạng câu hỏi, thuyết trình, giảng bình…thông qua các hoạt động
hướng dẫn chuẩn bị bài, phần hướng dẫn tìm hiểu về tác giả, hướng dẫn đọc – tìm
hiểu tác phẩm, rèn luyện kĩ năng. Trong đó, hình thức gợi dẫn quan trọng là đặt câu
hỏi. Có thể là câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi tái hiện, câu hỏi cảm xúc, câu hỏi hiểu
biết nội dung và hình thức tác phẩm…Nói tóm lại, gợi dẫn là hoạt động quan trọng,
giáo viên cần gợi dẫn thế nào học sinh phát huy được tính chủ động trong học tập
đồng thời vẫn đạt được yêu cầu cơ bản của bài học.
3.2 Xác định kiến thức cơ bản
Kiến thức cơ bản của một bài học bao gồm kiến thức về nội dung tri thức, về
thái độ và về kĩ năng. Đây là nội dung cần đạt của hoạt động dạy học. Khi dạy học
“ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” cần lưu ý những nội dung cơ bản sau:
Về đề tài, chủ đề: tác phẩm viết về đề tài chiến tranh nhưng tác giả không đi
thể hiện hình ảnh người ra trận cũng như không khí ác liệt nơi chiến trường mà
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
(Trích Chinh phụ ngâm)
- Bản nguyên tác: Đặng Trần Côn
- Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?)
A. Mục đích, yêu cầu:
Giúp hs
- Hiểu được đặc trưng cơ bản của thể loại ngâm khúc
9
-Hiểu được nỗi đau khổ của người chinh phụ bắt nguồn từ cảnh cô đơn khi người
chinh phu phải ra trận vắng nhà. Qua đó nắm được ý nghĩa đề cao hạnh phúc lứa
đôi của tác phẩm.
- Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm của đoạn trích.
B. Phương tiện dạy học: SGK, SGV, GA, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,
kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10.
C. Phương pháp dạy học: Đọc hiểu tác phẩm; vấn đáp ; thuyết giảng và ghi bảng
D.Tiến trình dạy học:
I/ Ổn định lớp
II/ Kiểm tra bài cũ
III/Giảng bài mới
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
GV: Nêu khái quát về tình hình xã
hội và sự phát triển của văn học
nửa đầu thế kỉ XVIII.
HS: XH: biến động, loạn lạc “lòng
người khao khát sự nổi loạn”.
VH: phát triển vượt bậc, bắt
đầu quan tâm đến số phận cá nhân,
đặc biệt là người phụ nữ.
→ ảnh hưởng đến cách cầm bút
của tác giả.
hướng hướng tới cuộc sống của
con người.
- GV gọi Hs đọc phần tiểu dẫn
giới thiệu về ĐTĐ và PHI.
- GV giới thiệu thêm về ĐTĐ.
GV: Em biết gì về thể loại ngâm
khúc. Kể tên những tác phẩm
thuộc thể loại này mà em biết?
+ Nhiều trai tráng phải giã từ ra trận, người
vợ ở nhà chịu nhiều mất mát, khổ đau.
- Tác phẩm gồm 476 câu thơ, viết theo thể
đoản trường cú.
- Đề tài: người vợ lính
- Chủ đề:
+ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
+ thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh
phúc lứa đôi.
2. Vấn đề dịch giả và bản dịch chữ Nôm
hiện hành
- Vấn đề dịch giả hiện nay vẫn chưa thống
nhất.
- Bản dịch Nôm hiện hành được coi là sự
đồng sáng tạo tuyệt vời, được đánh giá cao
hơn. Gồm 408 câu, dịch rất trung thành với
bản gốc nhưng vẫn rất sáng tạo. Tình ý sâu
xa, lời thanh thoát. Đánh dấu sự ra đời của
thể loại ngâm khúc ở VN.
3. Thể loại ngâm khúc
- Là sự sáng tạo thể loại độc đáo của văn học
Việt.
- Vị trí: SGK
- Nội dung: tình cảnh và tâm trạng người
chinh phụ phải sống cô đơn buồn khổ trong
thời gian người chồng đi đánh trận, không có
tin tức, không rõ ngày trở về.
- Bố cục: 2 phần:
+ Câu 1-16: tình cảnh lẻ loi của người chinh
phụ.
+ Còn lại: nỗi nhớ thương người chồng ở
phương xa.
II. Đọc - hiểu văn bản
1. Đọc
2. Tìm hiểu văn bản
a. Câu 1 → câu 16
- Dáng vẻ: “thầm gieo từng bước” buồn rầu,
lặng lẽ âm thầm như chiếc bóng lẻ loi (không
gian “hiên vắng” càng tô đậm sự cô đơn của
con người).
- Hành động:
12
GV: Trong 2 câu đầu, người CP
hiện ra với dáng vẻ và hành động
gì, qua đó em có cảm nhận gì về
tâm trạng và cuộc sống của nàng?
- GV: Việc oán trách chim thước
cho thấy tâm sự gì ở người CP?
- HS phát hiện:
GV: Sự thay đổi về không gian, từ
“ngoài rèm” chuyển sang “trong
rèm” có ý nghĩa gì?
hệ với Cung oán ngâm để làm
sáng tỏ ý nghĩa biểu tượng của
không gian.
- GV: Sự xuất hiện của ngọn đèn
có ý nghĩa gì? Em đã bắt gặp hình
ảnh ngọn đèn trong những tác
phẩm nào?
- HS phát hiện:
- GV mở rộng: hình ảnh con người
trong văn học thời kì này tồn tại
như chiếc bóng ở Chuyện người
con gái Nam Xương, Cung oán
ngâm, Truyện Kiều…
- Trong đêm khuya có ngọn đèn
cùng thức, tại sao người CP lại
thất vọng?
- Từ ngữ nào trong câu : Lòng
thiếp riêng bi thiết mà thôi gợi cho
em nhiều suy nghĩ nhất?
Hình ảnh ngọn đèn:
+ tô đậm bóng tối đêm khuya
+ phản chiếu sự cô đơn của con người, con
người tồn tại chỉ là chiếc bóng nhỏ nhoi, tội
nghiệp “bóng người khá thương”
+ Cho thấy sự thao thức của con người
+ Có sự đồng dạng giữa thân phận con người
và tàn đèn (hoa đèn).→ con người bị vật
hóa.
- Hình ảnh ngọn đèn thường xuất hiện trong
thơ đặc tả sự cô đơn của con người:
+ cảm xúc thương mình
+ sự cảm thông sâu sắc của người cầm bút
đối với nhân vật trữ tình.
- Người CP chờ đợi suốt ngày, suốt đêm. Tác
giả đã dùng âm thanh và hình ảnh để miêu tả
thời gian
+ tiếng gà: thời gian trôi suốt đêm
+ hình ảnh hòe phất phơ: thời gian trôi từ
sáng đến chiều.
- Đặc sắc nghệ thuật miêu tả thời gian
+ sử dụng từ láy: eo óc: đặc tả tiếng gà, tín
hiệu của thời gian trôi lạnh lùng (liên hệ
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom”-
HXHương), tô đậm không gian hoang vắng.
+ đảo ngữ: eo óc gáy → khiến nhịp thơ chậm
lại như bước đi nặng nề của thời gian.
+ từ láy: phất phơ miêu tả điệu bộ trễ nải của
cây hòe cũng như sự trễ nải của thời gian; gợi
ra dáng điệu ủ rũ như chính dáng điệu sầu
não, tái tê của người chinh phụ; gợi ra cảm
giác hoang vắng của không gian.
- Người CP có cảm giác mỗi khắc giờ bằng
cả một năm trôi đi.→Thời gian tâm lí làm
héo mòn con người. Cùng với sự trôi chảy
15
- GV mở rộng: người ta thường
quan niệm “dịch thơ là giết thơ”
nhưng ở đây, trong bản dịch
ĐTĐiểm đã nâng Chinh phụ ngâm
lên một tầm cao mới. So sánh với
nhân vật
+ sự xuất hiện của những lời nửa trực tiếp:
cho thấy sự đồng cảm sâu sắc của tác giả
dành cho nhân vật.
b. Câu 17 -24
- Có sự thay đổi về không gian: từ chật hẹp
tù túng “trong rèm” (không gian của thực tại
đau khổ) người chinh phụ hướng đến không
16
và tâm trạng của nhân vật.
- Nỗi nhớ chồng của nhân vật
được miêu tả như thế nào?
- GV: Nêu khái quát những giá trị
nội dung và nghệ thuật của đoạn
trích.
gian khoáng đạt: non Yên, bầu trời (không
gian của ước mơ, không gian quá xa xôi và
không thể nào vươn tới).
- Có sự thay đổi trong dòng tâm trạng: lòng
người chinh phụ chợt bừng lên cảm xúc mới
đầy hi vọng, nàng nảy sinh ra ý định nhờ
ngọn gió mùa xuân gửi tới người chồng nơi
phương xa nỗi nhớ của mình.
→ Người chinh phụ có những thất vọng,
chán chường nhưng không tuyệt vọng.
- Non Yên thì quá xa xôi, cũng như hình ảnh
của người chồng cũng chỉ là ý niệm xa mờ
nhưng nỗi nhớ thì rất thực:
+ Điệp khúc “nhớ chàng”
+ Sử dụng các từ láy miêu tả nỗi nhớ: “thăm
cảm của nó?
5. Kết quả thực nghiệm
Tôi tiến hành giảng dạy bài “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” ở ba lớp:
10 A, 10 B, 10 C tại trường THPT lê Viết Tạo. Với phương châm rèn kĩ năng đọc
hiểu, nâng cao vai trò chủ động của học sinh và bám sát phương pháp dạy theo đặc
trưng thể loại, tôi nhận thấy học sinh hào hứng tham gia vào tiết học, nhiều em
nhiệt tình phát biểu tạo ra những tiết học sôi nổi. Sau đó, tôi cũng nhận được những
phản hồi rất tích cực từ phía giáo viên tham dự. Đồng thời tôi đều có bài kiểm tra ở
18
cả ba lớp để có được sự đánh giá đúng đắn về khả năng đọc hiểu của các em. Kết
quả là dù ba lớp khối A nhưng các em đã có kết quả điểm số khá tốt. Cụ thể:
- Lớp 10 A + 23% học sinh đạt điểm giỏi
+ 77% học sinh đạt điểm khá
- Lớp 10 B + 17% học sinh đạt điểm giỏi
+ 83% học sinh đạt điểm khá
- Lớp 10 C + 15% học sinh đạt điểm giỏi
+ 82% học sinh đạt điểm khá
+ 3% học sinh đạt điểm trung bình
Với kết quả trên tôi nhận thấy, từ quá trình chuẩn bị bài chu đáo ở nhà, đến quá
trình tích cực tham gia vào quá trình đọc hiểu ở lớp dưới sự hướng dẫn của giáo
viên, học sinh có được những tiết học sôi nổi và cuối cùng các em đã đạt được kết
quả tốt khi kiểm tra.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy chủ chương chuyển đổi phương pháp
từ giảng văn sang phương pháp đọc hiểu văn bản là hoàn toàn chính xác, đáp ứng
được yêu cầu lấy học sinh làm trung tâm. Bằng việc đọc hiểu, học sinh được chủ
động tham gia vào quá trình tiếp nhận văn bản vì thế mà kiến thức thu nhận được là
kết quả của sự tìm tòi, khám phá của chính học sinh, các em nắm vững bài và ghi
nhớ bài nhanh hơn.
Tuy vậy làm thế nào để truyền cho học sinh kĩ năng đọc hiểu tốt đòi hỏi