những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ở lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


PHẠM THỊ HUỆ
NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
BÀI “TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ”
Ở LỚP 10 THPTChuyên ngành: Lý luận & Phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01 .11
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Huy Quát
Thái Nguyên - Năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ngƣời thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời
gian học tập và nghiên cứu.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Huệ i

Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
i

1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
7. Giả thuyết khoa học 8
8. Cấu trúc luận văn 9
10

Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1. Cơ sở lí luận 10
1.1.1. Vài nét về phƣơng pháp dạy học tích cực 10

3.3. Đánh giá kết quả thể nghiệm 74
3.3.1. Kết quả kiểm tra cụ thể 74
3.3.2. Kết luận chung về thể nghiệm 75
KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 1 1. Lí do chọn đề tài
Chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với những lí do sau:
1. 1. Tác phẩm "Chinh phụ ngâm" (đƣợc diễn nôm từ nguyên tác Hán
văn của Đặng Trần Côn) là kiệt tác hàng đầu của văn học trung đại Việt Nam,
bên cạnh "Cung oán ngâm khúc" (Nguyễn Gia Thiều), Truyện Kiều (Nguyễn
Du), Thơ nôm (Hồ Xuân Hƣơng)…Giá trị nội dung, nghệ thuật và thể loại độc
đáo của Chinh phụ ngâm đã tạo cho tác phẩm này sớm có vị trí xứng đáng
trong nhà trƣờng Việt Nam từ nhiều thập kỉ qua. Đây cũng là lí do khiến cho
tác phẩm này có mặt trong chƣơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT hiện hành, với
đoạn trích đƣợc đặt tên là "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ".
Về "Chinh phụ ngâm", có nhà nghiên cứu cho rằng: Tác phẩm của Đặng
Trần Côn - dịch giả Đoàn Thị Điểm là kiệt tác hàng đầu của văn học cổ điển
Việt Nam. Trải qua hơn hai thế kỉ đến nay, Chinh phụ ngâm luôn giữ nguyên
giá trị của một viên ngọc thi ca, một tác phẩm làm vẻ vang cho xứ sở "nổi tiếng
thi thư". Tác phẩm phản ánh chiến tranh phong kiến phi nghĩa, cả một dân tộc
bị chấn thƣơng do nội chiến kéo dài hàng thế kỉ. Với "Chinh phụ ngâm", lần
đầu tiên ngƣời phụ nữ - "đối tƣợng mà nền văn học cũ không dám nhắc đến"
trở thành "hình tƣợng" trong văn học. Lần đầu tiên, tâm trạng con ngƣời đi vào

hai khiến chúng tôi chọn đề tài luận văn: "Những biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học bài "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" ở lớp 10 THPT".
1. 3. Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm,
giáo án mẫu cũng nhƣ sách giáo viên, thiết kế bài giảng… bàn luận về đoạn
trích này nhƣng trong quá trình dạy học, giáo viên vẫn còn gặp những khó khăn
ở những khía cạnh khác nhau.

3
Vì giá trị nội dung, nghệ thuật và nét độc đáo của thể loại mà Chinh phụ
ngâm đã đƣợc đƣa vào giảng dạy ở nhà trƣờng phổ thông từ lâu, mặc dù có sự
thay đổi đoạn trích ở vài ba lần cải cách giáo dục. Trong thời kì kháng chiến
chống Pháp, do ảnh hƣởng về mặt nội dung phản ánh chiến tranh phong kiến
kéo dài thƣơng tâm, nỗi buồn bị xem là cảm giác tiêu cực, không phù hợp với
chủ trƣơng chống ủy mị nên tác phẩm này không đƣợc đƣa vào giảng dạy trong
nhà trƣờng. Sau ngày hòa bình lập lại (1954) tác phẩm tiếp tục có mặt trong
chƣơng trình văn học ở nhà trƣờng phổ thông.
Từ năm 2006, Chinh phụ ngâm đƣợc trích giảng trong chƣơng trình
Ngữ văn lớp 10, với tên gọi là Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Sách giáo
khoa (SGK) Ngữ văn 10 (bộ cơ bản) chọn giảng 24 câu trích từ bản dịch Chinh
phụ ngâm từ dòng 193 đến dòng 216, bộ nâng cao chọn giảng đoạn trích gồm
36 dòng, từ 193 đến 228. Đã có rất nhiều bài viết về đoạn trích này. Tuy nhiên,
khi bắt tay tiến hành bài học, ngƣời dạy vẫn gặp khó khăn ở từng hoạt động cụ
thể. Vấn đề đặt ra là, trƣớc yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay, phải làm nhƣ thế
nào, cần có những biện pháp khả thi gì để khắc phục đƣợc những khó khăn nói
trên nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận bài học cho học sinh? Đó là lí do thứ ba
khiến chúng tôi nghiên cáu đề ntài này
2. Lịch sử vấn đề
Chinh phụ ngâm là tác phẩm trữ tình, là tâm sự giãi bày của ngƣời chinh
phụ khi tình yêu và hạnh phúc bị chia cắt bởi chiến tranh phong kiến.
"Chinh phụ ngâm" đƣợc dịch ra quốc âm (tƣơng truyền là của nữ sĩ Đoàn

ngƣời chinh phụ với những ƣớc mơ, khát vọng tình yêu lứa đôi một nhu cầu
chính đáng phù hợp với "luật lệ của tự nhiên" [21, tr57].
Tuy nhiên, các tác giả lại nhấn mạnh hơn ở tiếng nói chống chiến tranh
phong kiến của tác phẩm mà chƣa đi sâu vào việc phân tích nội tâm của hình

5
tƣợng ngƣời chinh phụ để nêu rõ những khát vọng hạnh phúc, ý thức cá nhân
của nhân vật.
Cuốn giáo trình "Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ
XIX"- Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội 2001 của Nguyễn Lộc, nghiên cứu về
"Chinh phụ ngâm" theo hƣớng đi sâu mở rộng hơn về các khía cạnh của tác
phẩm, về hình ảnh cuộc chiến tranh phong kiến trong tác phẩm, về hình ảnh
ngƣời chinh phụ và có nói đến một số vấn đề về nghệ thuật, nhƣ: tính chất ƣớc
lệ tƣợng trƣng, nghệ thuật biểu hiện tâm trạng, thành công của bản dịch hiện
hành, và đặc biệt tác giả nói đến những tâm sự của ngƣời chinh phụ trong buồn
thƣơng, cô đơn, sầu muộn.
2.2. Những công trình, tài liệu phục vụ cho giảng dạy đoạn trích
"Tình cảnh lẻ loi của ngƣời chinh phụ" trong nhà trƣờng
Khi nói đến "Chinh phụ ngâm" với việc giảng dạy tác phẩm này trong nhà
trƣờng, trƣớc tiên cần nhắc đến cuốn "Giảng văn Chinh phụ ngâm" của giáo sƣ
Đặng Thai Mai, xuất bản năm 1950 tại Thanh Hoá, tái bản năm 1992 tại Hà Nội.
Ở cuốn sách này, tác giả đã phân tích toàn diện về tác phẩm với những phát hiện
mới về con ngƣời trong Chinh phụ ngâm. Tác giả nêu tổng quát: Con ngƣời ở
đây chỉ có một phƣơng diện đáng lƣu ý, đó là con ngƣời tâm lý.
Thạch Trung Giả trong cuốn "Văn học phân tích toàn thư" (1973) đã
phân tích, thẩm bình các đoạn tiêu biểu, đồng thời phân tích khúc ngâm một
cách toàn diện. Trong quá trình phân tích, nội dung cơ bản mà tác giả đề cập
đến là hình tƣợng ngƣời chinh phụ với tâm trạng theo các cung bậc nội tâm
khác nhau.
Trần Quang Minh và Đinh Thị Khang trong cuốn "Nhà văn và tác phẩm

cũng hƣớng dẫn dạy học đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ".
Theo tác giả, việc dạy học đoạn trích này cần làm rõ những kiến thức cơ bản:
Tình cảnh lẻ loi, cô độc, tâm trạng buồn tủi của ngƣời chinh phụ sau khi tiễn
chồng ra trận. Từ đó thấy đƣợc sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với khát

7
vọng hạnh phúc lứa đôi của ngƣời phụ nữ. Sự tinh tế trong lời thơ thể hiện tâm
trạng con ngƣời, âm điệu tha thiết của thể song thất lục bát, đó là những biểu
hiện sáng tạo của bản diễn Nôm trong khúc ngâm này.
Cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 của Nguyễn Văn Đƣờng cũng xác
định trọng tâm dạy học đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ": Qua
tìm hiểu diễn biến tâm trạng của chinh phụ xa chinh phu, tác giả nêu rõ giá trị
nhân đạo, đề cao quyền sống, sự trân trọng khát vọng hạnh phúc lứa đôi của
con ngƣời trong khúc ngâm. Tác giả cũng gián tiếp lên án chiến tranh phong
kiến chia rẽ tình cảm gia đình, gây nên bao tấn bi kịch tinh thần cho con ngƣời.
Ngƣời thiết kế cũng chỉ ra những biện pháp nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm
trạng của chinh phụ - chinh phu…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nói trên đã phân tích đặc điểm
nội dung và nghệ thuật của đoạn trích trong sách Ngữ văn 10, tập 2. Tuy nhiên,
quan niệm về thể loại và định hƣớng tiếp cận tác phẩm ngâm khúc cũng chƣa
đƣợc trình bày một cách sáng rõ. Có thể thấy rằng, ngay cả ở những bộ sách cơ
bản nhất trong nhà trƣờng và tài liệu hƣớng dẫn dạy học thì nội dung liên quan
đến những vấn đề dạy học đoạn trích trong Chinh phụ ngâm khúc chƣa thật cụ
thể. Giáo viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi chuẩn bị bài giảng và học sinh
gặp khó khăn không nhỏ khi tiếp nhận đoạn trích này.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tiếp thu thành tựu của các
công trình khoa học đi trƣớc nói trên, đồng thời đi sâu nghiên cứu một số vấn
đề cụ thể xung quanh nội dung, nghệ thuật của khúc ngâm để tìm ra những biện
pháp nâng cao hiệu quả tiếp nhận của học sinh đối với bài học Tình cảnh lẻ loi
của người chinh phụ. Những biện pháp ấy sẽ đƣợc trình bày trong chƣơng 2 và

Những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đoạn trích do tác giả luận
văn đề xuất, nếu có tính khả thi, đạt kết quả nhất định sau khi thể nghiệm, luận
văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên trong quá trình đổi mới phƣơng
pháp dạy học ở trƣờng THPT.

9
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
luận văn có 3 chƣơng:
+ Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
+ Chƣơng 2: Những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đoạn trích
"Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"
+ Chƣơng 3: Thiết kế bài học và dạy thể nghiệm

10

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận
Trong xu thế đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo hiện nay, các
đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành PPDH, ít nhiều có liên quan đến quan
điểm dạy học theo hƣớng phát huy tích tích cực của ngƣời học. Đó là phương
pháp tích cực
1.1.1. Vài nét về phương pháp dạy học tích cực
Thuật ngữ “phƣơng pháp dạy học tích cực” đƣợc dùng để chỉ những
phƣơng pháp giáo dục dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo

giúp cho "Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về
những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin
dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin
cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới" [41, tr65]. Ngƣời học chính là chủ
thể của quá trình nhận thức.
- Ngƣời dạy linh hoạt, mềm dẻo, luôn tạo cơ hội để ngƣời học tham gia
và làm chủ hoạt động nhận thức. Ngƣời dạy xây dựng đƣợc những môi trƣờng
có khả năng thúc đẩy ngƣời học tự điều khiển hoạt động học tập, cung cấp
những nhiệm vụ học tập có mức độ phù hợp với từng học sinh, tạo điều kiện
cho họ đƣợc phép lựa chọn, tự lập kế hoạch, tự đƣa ra mục đích hoạt động, tự
mình hợp tác để thực hiện nhiệm vụ học tập, cuối cùng tự nhận xét, đánh giá
kết quả học tập của bản thân. Ngƣời dạy chỉ là ngƣời tổ chức và hƣớng dẫn quá
trình nhận thức.
- Nội dung bài dạy không đi sâu vào từng chi tiết cụ thể mà sắp xếp
thành các vấn đề liên kết hoặc sắp xếp theo nguyên lí cơ chế để kích thích tƣ
duy và tính chủ động sáng tạo trong cách giải quyết các vấn đề của ngƣời học.

12
Phƣơng pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, đƣợc dùng ở
nhiều nƣớc để chỉ những phƣơng pháp giáo dục, dạy học theo hƣớng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học. PPDH tích cực hƣớng tới việc
hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học, nghĩa là tập
trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào
phát huy tính tích cực của ngƣời dạy.
Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy và học đã đƣợc xác định trong
Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa
VIII (12 - 1996), đƣợc thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), đƣợc cụ
thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15
(4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Phƣơng pháp dạy học tích cực là lấy học sinh làm trung tâm. Chính vì
học sinh nên việc tổ chức tiến trình dạy học phải đƣợc thực hiện bởi học sinh.
Học sinh phải là chủ thể có ý thức, tích cực và sáng tạo. Nếu cách dạy lấy giáo
viên làm trung tâm đang còn phổ biến hiện nay, là cách dạy quá đề cao vai trò
giáo viên - nguồn thông tin duy nhất, ngƣời thuyết trình giảng giải, minh họa để
học sinh thông hiểu, tiếp thu và ghi nhớ; thì cách dạy lấy học sinh làm trung
tâm đƣợc tiến hành bởi sức lực và trí tuệ của chính học sinh, kiến thức do họ tự
tìm kiếm, khám phá, khái niệm khoa học tự họ hình thành, tự kiểm tra, tự hoàn
thiện kĩ năng vận dụng kiến thức. Học sinh là ngƣời quyết định chất lƣợng học
tập của mình.
Một số phƣơng pháp cụ thể sau đây có tác dụng phát huy tính tích cực
của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả bài học tác phẩm văn chƣơng.
1.1. 1.1. Phương pháp giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trƣờng, cạnh tranh
gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong

14
thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt
trong kinh doanh. Vì vậy, tập dƣợt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải
quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia
đình và cộng đồng, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phƣơng pháp dạy học mà phải
đƣợc đặt nhƣ một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Trong thực tế dạy học, không phải nội dung nào cũng có thể làm nảy
sinh tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề đặt ra. Do đó giáo viên cần căn
cứ vào đặc điểm của phƣơng pháp, dựa vào nội dung cụ thể để áp dụng phƣơng
pháp dạy học nêu vấn đề cho phù hợp. Chọn các mức độ phù hợp với đối tƣợng
học sinh và nội dung bài học. Đối với học sinh nhỏ tuổi hoặc đối với các bài
học kiến thức mới, giáo viên có thể áp dụng các mức độ 1,2. Đối với học sinh ở
độ tuổi lớn hơn hoặc đối với các bài áp dụng kiến thức kĩ năng đã học vào thực

riêng. Nguyên nhân dẫn đến khoảng cách là do nhận thức sự khác nhau về lối
sống trình độ. Vì vậy giáo viên phải có sự định hƣớng dẫn dắt học sinh đi đúng
hƣớng khám phá. Câu hỏi nêu vấn đề cũng có thể đƣợc đặt ra từ mâu thuẫn
trong tác phẩm để khám phá chiều sâu của tác phẩm.
Trong dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm
đƣợc tri thức mới, vừa nắm đƣợc phƣơng pháp lĩnh hội tri thức, đồng thời phát
triển tƣ duy tích cực, sáng tạo, từ đó chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời
sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
1.1. 1.2. Phương pháp hoạt động nhóm
Lớp học đƣợc chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 ngƣời. Tuỳ mục
đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm đƣợc phân chia ngẫu nhiên hay có
chủ định, đƣợc duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, đƣợc
giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trƣởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công
mỗi ngƣời một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc
tích cực, không thể ỷ lại vào một vài ngƣời hiểu biết và năng động hơn. Các

16
thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi
đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết
quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trƣớc
toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình
bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phƣơng pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ
các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới.
Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi ngƣời có thể nhận rõ trình độ hiểu
biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học
trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ
giáo viên.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi

biến khó khăn thành thuận lợi v.v…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Nhƣ vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai có
thể học hộ ngƣời khác đƣợc. Hai học sinh cùng nghe một thầy giảng thì tự học
thƣờng là khác nhau: chẳng hạn ngƣời này nghe chăm chú, cố hiểu và ghi theo
ý hiểu của mình, ngƣời kia nghe lơ đãng, lời thầy vào tai này ra tai khác, nếu
ghi thì ghi nhƣ máy.
Dạy và học chú trọng rèn luyện phƣơng pháp tự học. Phƣơng pháp tích
cực xem việc rèn luyện phƣơng pháp học tập cho học sinh không chỉ là một
biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin,
khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển nhƣ vũ bão - thì không thể nhồi nhét
vào đầu óc học sinh khối lƣợng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy
cho học sinh phƣơng pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao
hơn càng phải đƣợc chú trọng.

18
Trong các phƣơng pháp học thì cốt lõi là phƣơng pháp tự học. Nếu rèn
luyện cho ngƣời học có đƣợc phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì
sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con ngƣời, kết
quả học tập sẽ đƣợc nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay ngƣời ta nhấn mạnh
mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trƣờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong
tiết học có sự hƣớng dẫn của giáo viên.
1.1.2. Thể loại Ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam
1.1.2.1. Khái niệm Ngâm khúc
Xét theo nghĩa gốc của từ thì “ngâm” là tiếng than thở, tiếng rên; còn
“khúc” là bản đàn, bản nhạc. Nếu chỉ dựa vào nghĩa ấy thì cơ bản định nghĩa về
Ngâm khúc chƣa thật hoàn chỉnh. Căn cứ vào những điểm tƣơng đồng giữa nội

triển mạnh vào đời Nguyên (1280- 1368). Khúc gồm có hai loại: tiểu lệnh và
sáo sổ. Ở Việt Nam chữ “khúc” được dùng trong thuật ngữ ngâm khúc để chỉ
những tác phẩm thơ dài theo thể lục bát hoặc song thất lục bát, có nội dung trữ
tình (Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc…). Tuy nhiên đó không phải
là những tác phẩm mang đặc điểm của thể loại “khúc” Trung Quốc” [40, tr
733 – 734].
Từ những ý kiến nói trên chúng ta có thể nêu thành định nghĩa: Ngâm
khúc là một thể loại văn học trung đại Việt Nam manh nha từ thế kỉ XVI và kết
thúc vào cuối thế kỉ XIX. Thể loại này dùng hình thức song thất lục bát, trƣờng
thiên, bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm để thể hiện. Chức năng của ngâm khúc
nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt,
đứng yên hay ít phát triển. Nội dung của nó đa dạng, phong phú phản ánh nhiều
cung bậc của đời sống tình cảm con ngƣời thời trung đại. Khúc ngâm là cách
nói Việt hóa từ cụm từ Hán – Việt của thuật ngữ này.

20
Nhƣ vậy, có thể khái quát thành những tiêu chí để nhận diện thể loại
ngâm khúc:
+ Ngâm khúc là một thể loại của văn học trung đại Việt Nam xuất hiện từ
thế kỉ XVI và kết thúc vào cuối thế kỉ XIX.
+ Dùng hình thức (thể) song thất lục bát, trƣờng thiên, bằng chữ Hán
hoặc chữ Nôm để thể hiện.
+ Nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên
day dứt (nội tâm nhân vật) để phản ánh nhiều cung bậc của đời sống tình cảm
con ngƣời thời trung đại.
1.1.2.2. Đặc trưng của thể loại Ngâm khúc
Theo Ngâm khúc - Quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng thể loại
của Ngô Văn Đức, NXB Trƣờng ĐHSP Hà Nội (1996), ngâm khúc có những
đặc trƣng về nội dung và nghệ thuật sau:
* Về mặt nội dung: Trong dòng chảy của văn học trung đại “Ngâm khúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status