Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG VĂN ĐÔNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
PHẦN LÍ LUẬN VĂN HỌC TRONG CHƢƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp dạy học Văn - tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
BẢNG DANH MỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. Giáo viên : GV
2. Học sinh : HS
3. Lí luận văn học : LLVH
4. Nhà xuất bản : Nxb
5. Tác phẩm văn chƣơng : TPVC
6. Trung học phổ thông : THPT
7. Sách giáo khoa : SGK
8. Sách giáo viên : SGV
1.2.2.Tình hình dạy học LLVH hiện nay ở nhà trƣờng THPT 27
1.2.3. Những khó khăn và thách thức cần đƣợc giải quyết trong dạy học phần
LLVH chƣơng trình THPT 34
Chƣơng 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA DẠY
HỌC PHẦN LÍ LUẬN VĂN HỌC TRONG CHƢƠNG TRÌNH THPT 37
2.1. Nhóm biện pháp hình thành tri thức LLVH 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
2.1.1. Hƣớng dẫn HS tự học trƣớc giờ học LLVH - bƣớc đầu tiên giúp các em
chiếm lĩnh tri thức 37
2.1.2. Thuyết trình trợ giúp HS chiếm lĩnh nhanh chóng tri thức LLVH 40
2.1.3. Nêu câu hỏi nhằm kích thích tƣ duy của HS 47
2.1.4. Đƣa dẫn chứng và phân tích dẫn chứng làm cho các tri thức lí luận học
hiện lên sống động 55
2.1.5. Thảo luận và tranh luận để kích thích tính tích cực chiếm lĩnh tri thức lí
luận của HS 58
2.2.Nhóm biện pháp hình thành kĩ năng vận dụng tri thức LLVH vào đọc hiểu
tác phẩm văn học 61
2.2.1. Hình thành kĩ năng vận dụng tri thức cấu trúc văn bản văn học vào đọc
hiểu tác phẩm văn học 62
2.2.2. Biện pháp hình thành kĩ năng vận dụng tri thức về thể loại thơ, truyện
vào đọc hiểu tác phẩm văn học 67
2.2.3. Hình thành kĩ năng vận dụng tri thức về phong cách văn học vào đọc
hiểu tác phẩm văn học 75
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 83
3.1. Mục đích thực nghiệm 83
3.2. Nội dung thực nghiệm 83
3.3. Thiết kế thực nghiệm 83
nhỏ vào việc dạy và học lí luận văn chương như thế nào” [ 26, tr.26]. Vì vậy,
việc đề xuất đƣợc biện pháp dạy học hiệu quả phần LLVH ở nhà trƣờng phổ
thông hiện nay là một vấn đề rất bức thiết.
1.2. Thực tế dạy học Ngữ văn ở các nhà trƣờng hiện nay, cả giáo viên (GV)
và HS mới chỉ chú trọng nhiều vào hiệu quả thi cử mà thiếu quan tâm đến
hình thành các mặt khác.Vì vậy, có sự nhìn nhận thiên lệch trong các môn
học, thậm chí thiên lệch ngay trong các phần của một môn học của cả GV và
HS, môn nào, phần nào liên quan đến thi cử thì cả ngƣời dạy và ngƣời học
chú trọng, phần nào nằm trong cấu trúc đề thi thì đƣợc GV và HS quan tâm,
ngƣợc lại phần nào nằm ngoài hoặc không liên quan đến thi cử thì cả ngƣời
dạy và ngƣời học thờ ơ, lạnh nhạt. Buồn thay, đây không còn là hiện tƣợng cá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
biệt trong giáo dục ở nhà trƣờng hiện nay. Vì vậy, ta sẽ không thấy lạ khi GV
yêu cầu HS học thuộc thơ, nắm đƣợc nội dung truyện ngắn, rèn luyện kỹ năng
phân tích nhân vật văn học… mà rất ít quan tâm tới học, ghi nhớ, vận dụng
khái niệm, tri thức lí luận vào đọc hiểu TPVC. Chúng ta không khó bắt gặp
những giờ học, những tiết học LLVH, ngƣời thầy dạy nhƣ một sự bắt buộc,
thiếu hứng thú, thiếu nhiệt huyết, ngƣời học thờ ơ, lạnh lùng, hờ hững với bài
học. Rõ ràng, đây là một vấn đề cần đƣợc nhìn nhận lại. Thử hỏi ta sẽ làm sao
có thể phân tích đƣợc chủ đề tƣ tƣởng của tác phẩm trong khi chẳng biết chủ
đề tƣ tƣởng là cái gì? Thử hỏi ta làm sao có thể bình về nghệ thuật của một
tác phẩm trong khi chẳng biết nghệ thuật trong tác phẩm là những yếu tố nào?
Làm sao ta có thể khám phá sâu sắc đƣợc nhân vật văn học khi ta chƣa biết
nhân vật văn học là gì? Nhân vật văn học đƣợc cấu thành bởi những yếu tố
nào? Chắc chắn ta sẽ rất hời hợt khi so sánh phong cách của nhà văn này với
nhà văn kia khi chƣa nắm đƣợc phong cách là gì?
1.3. Trong thực tế, dạy và học phần LLVH chƣơng trình THPT, GV và HS
trí quan trọng của việc dạy học lí luận trong nhà trƣờng THPT.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học” (I.A.Rez, Phan Thiều dịch, Nxb
Giáo dục, Hà nội, 1983), tác giả đã khẳng định tri thức LLVH là công cụ,
phƣơng tiện để bạn đọc đi vào chiều sâu của thế giới hình tƣợng nghệ thuật,
kích thích sự hiểu biết, hứng thú của họ “nắm được các khái niệm quan trọng
nhất của lí luận văn học, những khái niệm này cần thiết hướng dẫn đi vào
chiều sâu của bản chất nghệ thuật. Ngoài ra, tìm hiểu nguyên lí lí luận văn
học sẽ kích thích tinh thần ham hiểu biết, hứng thú đối với khoa học, tạo điều
kiện hình thành một thái độ khoa học đối với các hiện tượng nghệ thuật”. Do
đó những tri thức lí luận trong chƣơng trình có khó đến mấy, có khô khan
đến mấy, có trừu tƣợng và khái quát đến mấy thì ta vẫn phải dạy cho học trò.
Ngày 1 tháng 4 năm 1990, trƣờng Đại học sƣ phạm thuộc Đại học
Quốc Gia Hà Nội có tổ chức hội thảo khoa học về “Đổi mới phƣơng pháp
dạy học văn”. Tại hội thảo này, Bùi Văn Ba có bài báo cáo với tiêu đề “Dạy
lí luận văn học như dạy văn” đã đƣa ra quan điểm dạy học lí luận ở nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
trƣờng THPT rất đáng lƣu tâm. Tác giả cho rằng: muốn dạy học LLVH hiệu
quả nên lấy những bài văn hay có giá trị của các nhà văn nói về văn, trên cơ
sở đó phân tích và hình thành cho học trò những khái niệm, tri thức lí luận.
Phải nói rằng các bài viết của những nhà văn thƣờng vừa giàu chất lí luận
vừa giàu tính văn chƣơng. Có thể nói, đây là phƣơng pháp làm cho giờ học
đỡ khô khan, tạo đƣợc hứng thú cho ngƣời học. Tuy nhiên không phải khái
niệm, tri thức lí luận nào trong chƣơng trình cũng cần phải phân tích, cắt
nghĩa mà nhiều khi tự nó đã sáng tỏ. Vậy thì đây đâu phải là phƣơng pháp sử
dụng hữu hiệu cho tất cả các bài dạy học lí luận.
Cao Đức Tiến cũng là một học giả rất quan tâm nghiên cứu về vấn đề
dạy học lí luận trong nhà trƣờng phổ thông. Trong bài “Lí luận văn học với
chuyên văn ở trường phổ thông trung học chuyên” của Nguyễn Xuân Lập do
GS Phan Trọng Luận hƣớng dẫn cũng đáng lƣu tâm. Ở luận văn này, tác giả
đã đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học LLVH nhằm phát triển
năng lực cảm thụ văn chƣơng cho HS nhƣ sau:
Một là: “Phát huy thế mạnh về năng lực tư duy khái quát và tư duy
hình tượng của học sinh các lớp chuyên văn”.
Hai là: “Nắm vững chương trình – lựa chọn kiến thức cơ bản”.
Ba là: “Cung cấp trực tiếp các khái niệm lí luận văn học là hình thức
dạy học quan trọng để khắc sâu các khái niệm lí luận cho học sinh các lớp
chuyên văn”.
Bốn là: “Hình thành và khắc sâu khái niệm lí luận văn học qua các bài
học về Văn học sử, Giảng văn, Làm văn”.
Những biện pháp của luận văn này đề xuất rất đáng đƣợc các GV tham
khảo nhƣng rất tiếc đối tƣợng hƣớng tới của luận văn lại không phải là đại bộ
phần HS THPT mà chỉ là dành cho những lớp chuyên. Hơn nữa, nhiệm vụ
của luận văn mới chỉ giới hạn ở việc hình thành khái niệm mà không phải
toàn bộ tri thức về LLVH. Do đó, chúng ta khó có thể sử dụng những đề xuất
này vào dạy học phần LLVH trong chƣơng trình THPT (Ban cơ bản) hiện
hành để đạt hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Sinh viên sƣ phạm văn, GV Ngữ văn ở nhà trƣờng THPT có lẽ không
ít ngƣời đã biết đến hai cuốn sách: “Phương pháp dạy học văn” của nhóm tác
giả Phan Trọng Luận, Trƣơng Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt
(Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2008) và “Phương pháp dạy học văn” của
nhóm tác giả Phan Trọng Luận, Trƣơng Dĩnh (Nxb Đại học sƣ phạm, 2008).
Trong hai cuốn sách này, các tác giả đã dành một chƣơng viết về “Phƣơng
pháp dạy học lí luận văn học ở trung học phổ thông”. Các tác giả này đề xuất
cũng dành một ít bàn về vấn đề này. Theo các tác giả cuốn sách này thì
phƣơng pháp dạy học lí luận “chủ yếu là phải kết hợp giữa lí thuyết và thực
hành”. Nghĩa là học phải đi đôi với hành, lí luận phải gắn liền với thực tế.
Rõ ràng hình thành tri thức lí luận không có một phƣơng pháp nào là
tối ƣu mà một GV tài năng phải biết vận dụng linh hoạt các phƣơng pháp dạy
học. Điều quan trọng là thầy phải có tâm huyết đối với nghề nghiệp và có ý
thức, trách nhiệm với sản phẩm mà mình tạo ra.
2.2. Lịch sử vấn đề phƣơng pháp dạy học LLVH của SGV và sách thiết
kế Ngữ văn
Bộ môn Ngữ văn trong chƣơng trình THPT đƣợc hợp thành gồm ba
phần: Văn - Tiếng Việt - Làm văn. Riêng phần văn gồm ba bộ phận hợp
thành: văn học sử, tác phẩm văn học và LLVH. Bên cạnh các bộ phận trên,
phƣơng pháp dạy học phần LLVH cũng đƣợc nhiều nhà khoa học, nhà giáo,
những ngƣời quan tâm đến giáo dục nghiên cứu, đề cập đến trên nhiều góc độ
khác nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến đề xuất phƣơng pháp dạy học của
các tác giả ở các sách hƣớng dẫn GV dạy học và thiết kế bài học Ngữ văn
của các thời kì.
Trong các cuốn “Sách giáo viên văn học 11”, Nguyễn Hải Hà - Lƣơng
Duy Trung (Chủ biên), (Nxb Giáo dục, 2002), các tác giả đều thống nhất
phƣơng pháp dạy học các bài lí luận là kết hợp kiến thức khái quát với kiến
thức cụ thể, đƣa lí thuyết và lấy dẫn chứng minh hoạ “ cách tốt hơn cả là GV
dựa vào một số ví dụ không nhiều, lật qua lật lại, mỗi lần vạch ra một khía
cạnh mới của tác phẩm được dùng làm ví dụ, giúp HS lần lượt thâm nhập
vào nội dung hàm chứa của tác phẩm văn học”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Phƣơng pháp dạy học lí luận trong chƣơng trình THPT còn đƣợc rất
nhiều cuốn thiết kế bài học Ngữ văn đề cập tới. Trong cuốn “Thiết kế dạy học
Cuốn “Sách giáo viên Ngữ văn 10 ”, Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (Nxb
Giáo dục, 2009), bài “Nội dung và hình thức của văn học”, tác giả có định
hƣớng, trong quá trình dạy học bài lí luận, GV nên lấy ví dụ để làm rõ khái
niệm mà “Tốt nhất, GV nên chọn những ví dụ mà mình tâm đắc và phù hợp
với trình độ HS, như thế việc trình bày dễ sinh động, hấp dẫn” và “Cuối giờ,
GV nên dành thời gian hướng dẫn HS làm các bài luyện tập” nhằm mục đích
củng cố, khắc sâu kiến thức đã học.
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu về dạy học LLVH để mọi ngƣời thấy,
chúng tôi nghiên cứu và giải quyết đề tài của luận văn này không phải đứng
trên một mảnh vƣờn trống, thậm chí mảnh đất này đã đƣợc nhiều ngƣời cày
xới. Nhƣng rõ ràng, vấn đề đề cập tới của luận văn chƣa có công trình nghiên
cứu chuyên sâu những kết quả nghiên cứu trên tuy không liên quan trực tiếp
tới đề tài nhƣng cũng là yếu tố quan trọng để chúng tôi triển khai luận văn
này.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần LLVH
trong chƣơng trình THPT.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học phần LLVH trong chƣơng
trình Ngữ văn THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Các giờ học LLVH ở THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết: Lý thuyết về dạy học LLVH ở phổ
thông, chƣơng trình và sách giáo khoa (SGK) về LLVH ở bậc THPT.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn dạy học phần LLVH trong nhà trƣờng THPT và đề
xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phần này.
5.3. Thực nghiệm sƣ phạm: Thiết kế dạy học và dạy thực nghiệm để kiểm
chứng những đề xuất của luận văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nét đặc thù về kiến thức và kĩ năng của bài LLVH
Nghiên cứu văn học nói chung, bộ môn LLVH nói riêng đã từng bƣớc
hình thành ở nƣớc ta từ những thập niên đầu của thế kỉ XX. Tuy nhiên, phải
đợi đến những năm năm mƣơi, khi các trƣờng đại học, các viện nghiên cứu
đƣợc thành lập thì khoa nghiên cứu văn học và LLVH mới chính thức đƣợc
hình thành và phát triển. Đến nay có thể nói bộ phận này đã có vị trí xứng tầm
và rất quan trọng trong học tập và nghiên cứu văn học ở nƣớc ta.
Vậy LLVH là gì? Nội hàm của khái niệm này bao gồm những nội dung
nào? Cần hiểu thế nào cho đúng thuật ngữ này? … đó đúng là cả vấn đề cần
đƣợc quan tâm. Có thể nói, đây là thuật ngữ không có gì xa lạ với mỗi chúng
ta, thực tế đã có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau của nhiều học giả về
thuật ngữ này. Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ mạn phép trình
bày ngắn gọn cách hiểu, cách trình bày, các quan niệm của những ngƣời đi
trƣớc về khái niệm này.
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” nhóm tác giả Lê Bá Hán -
Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã nêu cách hiểu khái niệm trên nhƣ sau:
“một bộ môn của khoa học nghiên cứu văn học có nhiệm vụ nghiên cứu bản
chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của các sáng tác văn
học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn
học. Các vấn đề của lí luận văn học gồm có ba nhóm: lí thuyết về các hoạt
động phản ánh đời sống hiện thực nghệ thuật, lí thuyết về cấu trúc tác phẩm
văn học và lí thuyết về quá trình văn học…”[11, tr.173].
giai đoạn, các thời kì văn học…Còn LLVH là bộ môn khoa học lấy văn học
làm đối tƣợng để nghiên cứu. Nhƣng đối tƣợng của lí luận không phải chỉ là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
một tác giả hay một tác phẩm cụ thể mà là toàn bộ các hiện tƣợng văn học “Lí
luận văn học nghiên cứu văn học như một hoạt động sáng tạo tinh thần thẩm
mĩ của con người, bao gồm các hoạt động của các yếu tố, quan hệ tạo thành
hoạt động đó. Nó nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể để rút ra các khái
niệm phổ biến về bản chất, tính chất, quy luật của văn học. Chính vì vậy, nội
dung của lí luận văn học là các khái niệm, các phạm trù về văn học” [ 44,
tr.10]. Tuy nhiên, tác phẩm văn học, LLVH và lịch sử văn học không có sự
tách bạch một cách hoàn toàn độc lập, thiếu lịch sử văn học, tác phẩm văn học
thì lí luận sẽ rơi vào tình trạng chung chung, trừu tƣợng ngƣợc lại thiếu
LLVH thì những miêu tả, tổng kết của lịch sử văn học, sự khám phá tác phẩm
văn học sẽ khó tránh khỏi mơ hồ cảm tính. Nhận định về mối quan hệ giữa lí
luận và văn học sử nhà phê bình văn học Nga Sernƣsepxki có viết:“Không có
lịch sử thì không có lí luận và ngược lại không có lí luận thì không có ý niệm
về lịch sử”.
1.1.2. Mục đích của dạy học LLVH trong chƣơng trình THPT
Trong chƣơng trình THPT, dạy học TPVC chiếm phần lớn về dung
lƣợng chƣơng trình. Mục đích dạy học TPVC trƣớc hết là bồi dƣỡng, nâng
cao năng lực đọc của HS - nghĩa là giúp các em biết cách đọc đúng, hiểu
đúng, lí giải, cắt nghĩa, thƣởng thức, đáng giá về văn học. Sau đó bồi dƣỡng
về tƣ tƣởng, tình cảm cho ngƣời học nhằm giáo dục lòng yêu nƣớc, niềm tự
hào dân tộc, tinh thần nhân văn, lí tƣởng sống cao đẹp từng bƣớc hình thành,
hoàn thiện nhân cách cho học trò.
Phần văn học sử tuy không có dung lƣợng lớn nhƣ phần TPVC nhƣng
nó lại có vai trò quan trọng trong chƣơng trình Ngữ văn ở nhà trƣờng THPT.
thể đi phân tích, cảm thụ các tác phẩm tự sự cũng nhƣ thể loại thơ, hoặc thơ
giống nhƣ kịch, kịch lại tƣơng đồng với văn xuôi…Bởi vì, văn xuôi, thơ, kịch
là các thể loại văn học khác nhau có chăng giống nhau ở chỗ chúng đều là loại
hình nghệ thuật ngôn từ bên cạnh các loại hình nghệ thuật khác nhƣ hội hoạ,
điêu khắc, âm nhạc Vì vậy, khi đi phân tích, tiếp nhận văn học ta phải vừa
tuân thủ theo quy luật của tác phẩm ngôn từ nhƣng lại phải bám vào đặc trƣng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
của từng thể loại. Chỉ khi bạn đọc - HS đƣợc cung cấp, nắm vững và vận
dụng đƣợc tri thức lí luận thì khi đó LLVH mới trở thành công cụ giúp cho
anh ta cảm nhận đƣợc cái hay, cái đẹp ẩn sau lớp ngôn từ đƣợc nhà văn huy
động xây dựng trong sáng tạo nghệ thuật của mình.
Tri thức lí luận không chỉ là công cụ giúp bạn đọc tiếp nhận TPVC một
cách độc lập mà còn sáng tạo. Tác phẩm văn học là sự phán ánh hiện thực
cuộc sống bằng hình tƣợng văn học dƣới chất liệu ngôn từ. Ngôn từ nhất là
ngôn từ nghệ thuật lại thƣờng chứa đựng trong đó tính mơ hồ, đa nghĩa. Thế
giới hình tƣợng văn học chính là sự gửi gắm tƣ tƣởng của nhà văn trƣớc hiện
tƣợng đời sống. Trƣớc một TPVC có giá trị rất nhiều bạn đọc cũng đã cảm
nhận đƣợc cái hay, cái hấp dẫn, sự lôi cuốn của nó nhƣng lại không ít ngƣời
không thể giải thích đƣợc nó hay ở chỗ nào, tại sao nó lại có thể hấp dẫn ta.
Đó thực là sự “thích thú đau khổ” nói nhƣ Biêlixki. Tại sao họ lại rơi vào tình
trạng đó, đây là câu hỏi tƣởng nhƣ rất dễ trả lời. Một trong những nguyên
nhân là ở chỗ, anh ta không có hoặc ít hiểu biết về những tri thức LLVH.
Một tác phẩm có tầm vóc lớn lao là tác phẩm có sức sống với thời gian
và sự cảm thụ, khai thác giá trị không cùng của bạn đọc. Chí Phèo của Nam
Cao là tác phẩm nhƣ vậy. Lâu nay ngƣời ta thƣờng đặt câu hỏi, Chí say hay
tỉnh với hành động vác dao đến nhà Bá Kiến giết chết Bá Kiến rồi kết liễu đời
mình. Có rất nhiều ngƣời cho rằng Chí là một thằng say, hành động, ngôn ngữ
1.1.3. Hiệu quả của việc dạy học LLVH
1.1.3.1. Thế nào là dạy học hiệu quả
Dạy học là quá trình bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định
hƣớng của GV nhằm giúp HS từng bƣớc có năng lực tƣ duy và năng lực hành
động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các
giá trị văn hoá mà nhân loại đã tạo ra. Trên cơ sở đó, HS hình thành kĩ năng giải
quyết những bài toán đặt ra trong thực tế và trong cuộc sống của mình.
Theo từ điển tiếng Việt thuật ngữ “hiệu quả” đƣợc hiểu là “kết quả như
yêu cầu của việc làm mang lại” [ 55, tr.440].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Nhƣ vậy, dạy học hiệu quả là hoạt động dạy học thu hút đƣợc HS và
điều khiến các em tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực, chủ
động, sáng tạo, sôi nổi, hứng thú từ đầu đến cuối tiết học. Thông qua hoạt
động dạy học, HS đƣợc mở rộng hiểu biết, rèn luyện, phát triển tƣ duy và có
kĩ năng giải quyết những bài toán đặt ra trong cuộc sống bằng những tri thức
của bản thân. Đối với bài học phần LLVH muốn dạy học hiệu quả, chúng ta
phải lƣu ý những yếu tố sau:
- Tri thức bài LLVH là tri thức khoa học về văn học. Vì vậy, dạy học lí
luận phải liên hệ với các tác phẩm, các hiện tƣợng văn học và các nguồn tƣ
liệu từ bên ngoài của bài học.
- Bài học lí luận thƣờng là những tri thức khô khan, trừu tƣợng dễ gây
ra sự thờ ơ, nhàm chán cho ngƣời học. Vì vậy, trong giờ dạy học phần lí luận
nên đƣa dẫn chứng từ thực tế và phân tích dẫn chứng nhằm cụ thể hoá và làm
sống động tri thức của bài học. Nên lấy những dẫn chứng HS đã biết, hiệu quả
nhất là những bài các em đã đƣợc học nhằm vừa kích thích tƣ duy tái hiện vừa
là cơ sở để học trò dễ dàng liên tƣởng, tƣởng tƣợng.
- Sử dụng câu hỏi nhất là câu hỏi nêu vấn đề kích thích HS tham gia
- Cấp độ thứ hai: Nhận dạng đƣợc các khái niệm, các tri thức lí luận
trong các tình huống đơn giản mà các em gặp trong đời sống.
- Cấp độ thứ ba: Liệt kê đƣợc các khái niệm, tri thức lí luận trong mối
liên hệ với các yếu tố khác.
b.Thông hiểu tri thức LLVH
Thông hiểu là mức độ cao hơn so nhận biết về tri thức khoa học. Ở
khâu này, đòi hỏi ngƣời học không chỉ nhận ra, nhớ lại, tái hiện những tri thức
đã biết mà còn phải giải thích, cắt nghĩa, chứng minh đƣợc những tri thức đƣa
ra “Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm,
hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được; là mức độ cao hơn
nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà
HS đã học hoặc đã biết” [27, tr.19].
Thông hiểu về khái niệm phong cách nhà văn khi HS thực hiện đƣợc
các bƣớc sau:
Tái hiện hiện đƣợc khái niệm phong cách là gì? “Phong cách là nét
riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh
cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và
hình thức của từng tác phẩm cụ thể. Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện
tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới
mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang
đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo”[ 35, tr.181].
Nguyễn Khuyến và Tú Xƣơng là hai nhà thơ xuất sắc của văn học Việt
Nam thế kỉ XVIII. Cùng là những nhà thơ trào phúng nhƣng tài nghệ thể hiện
sự trào phúng khác nhau. Sự khác nhau của hai nhà thơ này thể hiện ở ngay
giọng điệu của từng nhà thơ. Nguyễn Khuyến là nhà thơ với giọng điệu thâm
lớn lên và cho đến mất, ông đều sống ở nơi đô thị. Con đƣờng công danh của
ông rất mịt mù, liên tiếp những lần hỏng thi vỡ mộng công danh, hỏi sao
không rơi vào tâm trạng thất vọng, chán chƣờng. Nguyến Khuyến là một bậc
chân nho, là ngƣời khá tiêu biểu cho lớp ngƣời đƣợc xã hội phong kiến đào
tạo và tôn vinh. Ông đƣợc vua Tự Đức ban cờ biển và hai chữ “Tam nguyên”.
Do vậy làm sao ông có thể tự chế giễu mình với giọng điệu chua chát nhƣ Tú
Xƣơng. Còn Tú Xƣơng cả một đời thất bại, tài năng nhƣng sinh nhầm thời.
Ông là ngƣời tiêu biểu cho lớp ngƣời có tài, có tâm nhƣng bị cái xã hội phong
kiến vùi dập. Thơ Tú Xƣơng với giọng điệu nhƣ vậy cũng không có gì là lạ.
c.Vận dụng tri thức LLVH vào tiếp nhận văn học
Nhƣ chúng ta đã nói ở trên, mục đích của dạy học LLVH là cung cấp
cho HS hệ thống công cụ nhằm độc lập, chủ động, sáng tạo trong tiếp nhận
TPVC. Giúp HS biết vận dụng tri thức lí luận là cái cần hƣớng đến của việc
dạy học phần LLVH. Đây là cấp độ đòi hỏi cao hơn so với cấp độ thông hiểu