một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn kể chuyện lớp 4 ở một số trường - Pdf 24

Lời cảm ơn

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
Thạc sĩ Nguyễn Thùy Dung - người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng QLKH, thư viện,
Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học - Mầm Non - Trường Đại học Tây Bắc và các bạn
sinh viên cùng lớp K51 ĐHGD Tiểu học A đã tạo điều kiện cho em học tập và
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học sinh thuộc hai
trường tiểu học Chiềng Sinh và tiểu học Quyết Tâm - Thành phố Sơn La - Tỉnh
Sơn La đã giúp đỡ em trong quá trình thể nghiệm tại trường để hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Kim Cúc
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu 5

2.1.2. Kể chuyện theo vai 30
2.1.3. Kể chuyện theo lời gợi ý 32
2.1.4. Kể một chi tiết trong chuyện theo tưởng tượng 33
2.2. Sử dụng đa dạng, hiệu quả các trang thiết bị dạy học Kể chuyện 34
2.3. Sử dụng hoạt động ngoại khóa, tham quan, dạy học ngoài trời 37
2.4. Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong tiết học Kể chuyện 39
2.5. Sử dụng yếu tố ngôn ngữ, ngữ điệu và hoạt động, cử chỉ trong kể chuyện
40
TIỂU KẾT 42
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 43
3.1. Những vấn đề chung 43
3.1.1. Mục đích thể nghiệm 43
3.1.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thể nghiệm 43
3.1.3. Điều kiện thể nghiệm 43
3.1.4. Nội dung thể nghiệm 44
3.1.5. Phương pháp tiến hành thể nghiệm 44
3.1.6. Kết quả thể nghiệm 45
3.1.7. Giáo án thể nghiệm 49
TIỂU KẾT 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1. Kết luận 61
2. Kiến nghị và đề xuất 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay đòi
hỏi những con người có đủ năng lực, trí tuệ để góp phần vào công cuộc xây

Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời.
Nó xuất hiện cả trước khi con người tìm ra chữ viết. Điều này được chứng minh
bằng một kho tàng văn học dân gian khổng lồ mà các bậc tiền nhân để lại cho
chúng ta. Kể chuyện đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu
học. Nó đã được các em đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú và
hấp dẫn. Tuy nhiên, để giảng dạy tốt môn học, người giáo viên cần có những
hiểu biết một số các lí luận cơ bản về phương pháp và kĩ thuật dạy học phân
môn này. Xuất phát từ yêu cầu trên, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn
đề này nhưng số lượng các công trình còn khá khiêm tốn.
Đầu tiên trong số đó, chúng ta phải nhắc đến quyển “Đọc và kể chuyện
văn học ở vườn trẻ” của M.K.Bogliuxkaia.V.V. Septsenkô do Lê Đức Mẫn
dịch. Đây là quyển sách rất thiết thực và bổ ích đối với những giáo viên mầm
non và giáo viên tiểu học. Trong quyển sách này, tác giả đã đề cập đến ba vấn đề
lớn đó là: nghệ thuật đọc văn học và những thủ thuật cơ bản khi đọc; kể chuyện
văn học và phương pháp đọc; kể chuyện văn học cho trẻ.
Bàn về nghệ thuật đọc văn học, tác giả chủ yếu nói đến tầm quan trọng
của nghệ thuật đọc văn học: “Nhiệm vụ của người đọc là giúp cho mọi người
nghe, nhìn thấy cái đã nghe được, làm cho những bức tranh và những hình ảnh
tương ứng nổi lên chân thực và đập vào mắt, gợi lên những tình cảm và cảm xúc
nhất định”.
Bàn về thủ thuật đọc, ông đã phân tích một số thủ thuật cơ bản sau: thanh
điệu cơ bản, ngữ điệu, tính logic trong đọc truyện, cách ngắt giọng, nhịp điệu,
cường độ của giọng, tư thế, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
Trong phần những vấn đề về phương pháp tổ chức giờ đọc và kể chuyện
cho trẻ em, tác giả đã viết rất cụ thể và có nhiều bài soạn mẫu để dẫn chứng
minh họa rất rõ ràng.
Một tài liệu viết về đề tài kể chuyện mà chúng ta không thể không nhắc
đến đó là quyển “Kể chuyện 1” của tác giả Đỗ Lê Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc
Bảo. Trong phần lí luận chung, các tác giả đã nêu đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ


phát triển cũng như điều kiện sống mỗi vùng, mỗi miền của các em. Hơn nữa nó

4
còn rất giá trị cho giáo viên trong việc dạy học kể chuyện theo chương trình giáo
dục hiện nay. Ngoài việc điều chỉnh, phát triển và ứng dụng các kết quả của
những công trình nghiên cứu trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi
còn nghiên cứu đề xuất một số biện pháp dạy học cho hai kiểu bài mới được bổ
sung vào chương trình kể chuyện 4 – 5, đó là: kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã
đọc và kiểu bài Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia.
Tất cả những điều đúc kết được từ các công trình nghiên cứu trên đây
cũng chỉ là phần cứng.Vấn đề là ở chỗ giáo viên hiểu và vận dụng chúng ở mức
độ nào. Đó là điều mà chúng ta quan tâm hiện nay.
Khi học sinh được rèn luyện kĩ năng kể chuyện tốt thì các em sẽ có ngôn
ngữ mạch lạc, vốn hiểu biết phong phú để mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. Điều
đó chỉ đạt được khi giáo viên có được một quan niệm đúng đắn về mục đích, ý
nghĩa của kể chuyện cũng như có biện pháp dạy học thật hợp lí. Đó cũng chính
là những mục tiêu mà đề tài này mong muốn mang đến cho giáo viên.
3. Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài với mục đích giúp giáo viên nhận thức một cách
đúng về vai trò quan trọng của phân môn Kể chuyện. Đồng thời tìm ra một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của kể chuyện ở tiểu học.
- Điều tra khảo sát chương trình sách giáo khoa, thực trạng giáo viên
hướng dẫn học sinh học kể chuyện ở lớp 4 ở hai trường tiểu học Chiềng Sinh và
tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La – Tỉnh Sơn La.
- Bước đầu xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Kể chuyện lớp 4 ở hai trường tiểu học tại thành phố Sơn La.
- Vận dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh kể chuyện để xây dựng một

liệu có liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu có liên
quan đến cơ sở hình thành việc rèn luyện kĩ năng kể chuyện cho học sinh tiểu học.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dùng phiếu điều tra kết hợp với phỏng vấn giáo viên ở trường tiểu học
Chiềng Sinh và trường tiểu học Quyết Tâm về các biện pháp rèn kĩ năng kể
chuyện cho học sinh lớp 4.

6
- Phương pháp trò chuyện cùng học sinh: Tìm hiểu khả năng kể chuyện
của các em.
- Phương pháp so sánh và đối chứng.
6.3. Phương pháp toán học
- So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp những vấn đề lí luận và thực tiễn
từ đó rút ra kết luận và đề xuất.
6.4. Phương pháp thể nghiệm sư phạm
- Kiểm chứng giả thuyết đặt ra và thể nghiệm các biện pháp đề xuất.
7. Đóng góp của đề tài
- Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn, xây dựng một
số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Kể Chuyện lớp 4 trường
Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La –
Tỉnh Sơn La.
- Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa Tiểu học –
Mầm non nói và các giáo viên trường Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học
Quyết Tâm để góp phần vào nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Kể
chuyện lớp 4.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài gồm có ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của dạy học Kể chuyện ở
Tiểu học
Tác giả đi tìm hiểu về các cơ sở, khái niệm, vai trò của phân môn kể chuyện

quan trọng trong mục tiêu giáo dục của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
kể chuyện lớp 4 nói riêng hay góp phần vào hoàn thành mục tiêu giáo dục đó.
Thông qua các câu chuyện của học sinh rèn luyện được cho mình kĩ năng
nghe nói một cách có hiệu quả. Hơn nữa các câu chuyện còn mở rộng cho các
em nhận thức về thế giới xung quanh, bồi dưỡng cho trẻ những tình cảm lành
mạnh những ước mơ cao đẹp, giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tự nhiên
trong các mối quan hệ xung quanh.
Nhận thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng cho rằng: con đường
của nhận thức của nhận thức chân lý đi qua 2 giai đoạn nhận thức cảm tính và
nhận thức lý tính để đạt đến mục đích cuối cùng là nhận thức. Đây là cơ sở quan
trọng giúp cho dạy học Kể chuyện đạt kết quả cao. Từ những kinh nghiệm vốn
sống gần gũi, hiểu tâm lý học sinh mà giáo viên sẽ có cách dạy phù hợp như sử
dụng tranh ảnh, mô hình Các em học sinh sẽ được nhìn và cảm nhận trực tiếp,
sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh khái quát để nhận thức đúng về nội dung
và ý nghĩa câu chuyện. Tri thức các em lĩnh hội tiếp nhận được vận dụng vào
thực tiễn giao tiếp thông qua lời nói hoặc kể lại câu chuyện.
1.1.2. Cơ sở tâm lý học
Trong thực tế chúng ta thấy học sinh tiểu học rất thích nghe kể chuyện
mặc dù các em đã đọc sách và có rất nhiều câu chuyện để đọc. Điều này thể hiện
rõ khi các em chăm chú nghe từng lời kể, quan sát cử chỉ hành động của giáo
viên. Khi đó các em hiểu cả niềm vui và nỗi buồn, sự lo sợ trên mặt người kể.
Mỗi câu chuyện lại mở ra một chuyện cổ tích thần kỳ như chàng Sọ Dừa hình

9
dạng kỳ quái trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú và lấy được cô Út xinh
đẹp, nết na.
Ngoài tiết học các em có nhu cầu rất lớn trong việc giao lưu với bạn và
những người xung quanh. Các em luôn muốn thể hiện những điều mình biết lĩnh
hội được của giao lưu trao đổi, trò chuyện. Do vậy, kể chuyện cho các bạn nghe
là một hoạt động phổ biến trong hoạt động hàng ngày của các em.

Ví dụ với phương pháp trực quan giáo viên thông qua tranh, ảnh, mô hình
để khai thác giúp học sinh nhớ câu chuyện, khơi gợi trí tưởng tượng sự sáng tạo
của các em. Lời kể của giáo viên cũng là hình ảnh trực quan, là cơ sở để học
sinh nhớ và kể lại câu chuyện.
Với phương pháp thực hành gián tiếp, giáo viên tạo điều kiện cho học
sinh thực hành kĩ năng kể chuyện tùy theo khả năng của mình, giáo viên cho học
sinh nói về nội dung câu chuyện được kể trước lớp, kể với các bạn và khuyến
khích kể cho những người thân nghe Đây là sự vận dụng các nguyên tắc của
giáo dục trong dạy học Kể chuyện đảm bảo tính khoa học hệ thống tích cực của
quá trình nhận thức của học sinh.
1.1.4. Cơ sở sư phạm của dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4
Học sinh lớp 4 là lứa tuổi gần cuối bậc học tiểu học nên tâm lý vui chơi
hoạt động nhận thức quan trọng cũng giảm hơn so với đầu bậc học. Tuy nhiên,
sự chú ý của các em vẫn còn hạn chế, các em vẫn thích vui chơi hơn là hoạt
động học. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần nắm được tâm lý học
sinh. Từ đó, có những biện pháp thích hợp để khắc phục những khó khăn gặp
phải nhằm nâng cao hiệu quả bài học của học sinh. Trong giai đoạn này học sinh
vẫn còn nhận thức từ trực quan cụ thể đến tư duy trừu tượng, ghi nhớ sâu hơn
những sự vật mà mắt thấy tai nghe. Do vậy, giáo viên nên sử dụng đa dạng các
loại tranh ảnh để từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức mà mình được học.
Trong tiết học, giáo viên có thể kết hợp việc dạy học với việc tổ chức trò
chơi học tập nhằm củng cố khắc sâu kiến thức vừa tạo không khí vui vẻ, thoải
mái cho các em. Chẳng hạn như giáo viên có thể sử dụng các trò chơi thi sắm
vai kể chuyện thi kể chuyện theo tranh kể chuyện theo vai… Các hình thức thay
đổi như cá nhân, theo đội, theo nhóm để các em cùng tham gia.

11
Ngoài ra, khả năng tập trung chú ý ở các em còn hạn chế các em chỉ tập
trung chú ý trong thời gian ngắn (30’- 35’) và dễ bị phân tán bởi các hoạt động
bên ngoài. Các em có kĩ năng ghi nhớ nhưng ghi nhớ một cách máy móc và ít có

chuyện nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy học tiếng mẹ
đẻ và giúp trẻ phát triển kĩ năng nghe, đọc, nói. Qua việc nghe kể lại câu chuyện
trẻ được tiếp xúc với các hình ảnh nghệ thuật của ngôn ngữ. Chính điều đó giúp
cho ngôn ngữ của trẻ phát triển hoạt động kể chuyện cho thầy cô bạn bè hoặc
trước đám đông về câu chuyện.
Cách vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống xã hội được
thực hiện nhờ các kỹ năng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp. Khi nghe thầy
giáo, cô giáo kể chuyện học sinh đã tiếp thu những tác phẩm văn học ở dạng nói
âm thanh. Khi học sinh kể lại câu chuyện các em sẽ có sự tư duy một cách logic.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung, chương trình Kể chuyện lớp 4
Chương trình và sách giáo khoa có nội dung dạy học bắt đầu từ kì một lớp
1, mỗi tuần gồm 5 tiết ứng với 5 bài tập đọc (có 3 bài đọc thêm).
Ở các lớp 2, 3, 4, 5 chương trình cả năm đều gồm 33 tuần, sách khoa in
thành hai tập. Mỗi tuần ở lớp 4 có 2 tiết tập đọc mỗi tiết có 40 phút. Sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 4 có cấu trúc gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vị ứng với một
chủ điểm trong 3 tuần (riêng chủ điểm “Tiếng sáo diều” trong tuần 4), mỗi tuần
có 2 tiết tập đọc gồm 2 bài học.
Nếu như ở các lớp dưới, chủ điểm học tập xoay quanh những lĩnh vực học
tập gần gũi với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các em thì ở lớp 4 chủ điểm
là những vấn đề về đời sống tinh thần của con người như sở thích, tính cách, ước
mơ cụ thể gồm:
Tập 1 gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:
- Thương người như thể thương thân (tuần 1, 2, 3)
- Măng mọc thẳng (tuần 4, 5, 6)
- Trên đôi cánh ước mơ (tuần 7, 8, 9)
- Có chí thì nên (tuần 11, 12, 13)
- Tiếng sáo diều (tuần 14, 15, 16, 17)
Tuần 10 dùng để ôn tập giữa kì 1, tuần 18 ôn tập cuối kì 1.


12, Bài học nhớ đời

14
13, Những chú bé giàu trí tưởng tượng
14, Đồng tiền vàng
15, Ông lão ăn mày
16, Người viết thư và quan tể tướng
3, Trên đôi cánh ước mơ 17, Cô bé bán diêm
18, Tôi lại có gia đình
19, Điều ước sao băng
20, Giấc mơ cậu bé Phun – tơn
21, Ba điều ước
22, Pha-ê-tông và cỗ xe Mặt Trời
23, Ông lão đánh cá và con cá vàng
4, Có chí thì nên 24, Cậu bé Niu – tơn
25, Cha đẻ của điện thoại
26, Kỉ Xương học bắn
27, Rô-Bin-sơn ở đảo hoang
28, Người thầy tuổi thơ
29, Người khuyết tật vĩ đại
30, Cô gái đạt 5 Huy Chương Vàng
5, Tiếng sáo diều 31, Chú lính chì dũng cảm
32, Chàng hiệp sĩ gỗ
33, Đồ chơi của bạn Thắng
34, Võ sĩ bọ ngựa
35, Chú mèo đi hia
36, Con chó có nghĩa
37, Dế nhỏ và ngựa mù
38, Ca – rơ hối lỗi
6, Người ta là hoa đất 39, Ông Phùng Hưng đánh hổ

68, Ếch và Chẫu Chàng
69, Ngọn đuốc trong đêm
70, Lên đường
10, Tình yêu cuộc sống 71, Cái ấm đất
72, Giấc mơ của phò mã

16
73, Chiếc lá cuối cùng
74, Hai bàn tay chiến sỹ
75, Ông vua của những tiếng cười
76, Phần thưởng
77, Mừng học trò
Với hệ thống bài tập đọc kể chuyện trong sách giáo khoa, khi tiến hành
hành khảo sát, giáo viên đều có những nhận xét rằng nội dung các bài đã phù
hợp với chủ điểm của các đơn vị học, với tâm lý học sinh lớp 4 và phù hợp với
nhận thức của các em. Nội dung bài học phong phú, đa dạng bao quát được các
vần đề như nghị lực sống vươn lên trong hoàn cảnh khó khăn, tình yêu thương
với con người, muông thú, lòng dũng cảm, vươn tới ước mơ.
Nhận xét về vần đề này, cô giáo Ứng Thị Hạnh giáo viên lớp 4A2 –
trường tiểu học Chiềng Sinh – Thành phố Sơn La - Tỉnh Sơn La cho biết “Các
câu chuyện trong phân môn Kể chuyện lớp 4 tương đối phù hợp với đặc điểm và
tâm sinh lý cũng như nhận thức của học sinh. Cách trình bày có hình ảnh quan
sát khá sinh động gần gũi nên có sức hấp dẫn với học sinh. Vì vậy mà giáo viên
phát huy được khả năng vận dụng cách dạy học thu hút các em học sinh tham
gia tích cực trong quá trình học”.
1.2.2. Thực trạng dạy và học
1.2.2.1. Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát nội dung chương trình các bài dạy của phân
môn Kể chuyện lớp 4 nhằm mục đích nhận biết nội dung các bài học đó đã phù
hợp với đặc điểm của đối tượng khảo sát hay chưa. Từ đó, khảo sát về các

Tháng 10, 11 năm 2013 dự giờ và phát phiếu điều tra.
- Địa bàn khảo sát
Thực hiện khóa luận này chúng tôi tiến hành tìm hiểu khảo sát thực tế chủ
yếu tại hai trường đó là trường tiểu học Chiềng Sinh – Thành phố Sơn La - Tỉnh
Sơn La và trường tiểu học Quyết Thắng – Thành phố Sơn La - Tỉnh Sơn La.
1.2.2.5. Kết quả khảo sát như sau.
Trường tiểu học Chiềng Sinh có tổng số 60 giáo viên, trong đó có 23 giáo
viên trình độ đại học và 24 cao đẳng và 13 giáo viên có trình độ trung cấp, trình

18
độ giáo viên đạt chuẩn, không có trung bình, yếu. Tìm hiểu về đề tài này người
viết chủ yếu khảo sát giáo viên, học sinh khối lớp 4 tổng số có 115 học sinh.
Lớp 4A1 cô Phạm Thanh Tâm chủ nhiệm gồm 39 học sinh (18 nam và 21
nữ) trong đó có 3 học sinh thuộc dân tộc thiểu số.
Lớp 4A2 cô Ứng Thị Hạnh chủ nhiệm gồm 39 học sinh (20 nam và 19
nữ) trong đó có 10 học sinh thuộc dân tộc thiểu số.
Lớp 4A3 cô Hà Thị Kim Oanh chủ nhiệm gồm 38 học sinh (17 nam và 21
nữ) trong đó có 13 học sinh thuộc dân tộc thiểu số.
Lớp 4A4 cô Vũ Thị Thư chủ nhiệm gồm 39 học sinh (19 nam và 20 nữ)
trong đó có 3 học sinh thuộc dân tộc thiểu số.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh trường
tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La. Trường tổng số 35 giáo
viên trong đó có 17 giáo viên trình độ đại học, 15 giáo viên trình độ cao đẳng và
3 giáo viên trình độ trung cấp. Chúng tôi tiến hành khảo sát trên đối tượng học
sinh lớp 4 gồm 102 học sinh.
Lớp 4A1 cô Đinh Thị Thịnh chủ nhiệm gồm 24 học sinh.
Lớp 4A2 cô Nguyễn Thị Lê chủ nhiệm gồm 26 học sinh.
Lớp 4A3 cô Đoàn Thị Huyền chủ nhiệm gồm 25 học sinh.
Lớp 4A4 cô Đoàn Thị Vân chủ nhiệm gồm 27 học sinh.
Qua việc khảo sát thực trạng của giáo viên và học sinh về kĩ năng kể

Chiềng Sinh
Trường TH
Quyết Tâm
Kể chuyện theo tranh
45
55
Kể chuyện thao lời gợi ý
25
35
Kể chuyện theo vai
20
25
Kể chuyện theo một chi tiết trong
trường hợp tưởng tượng
5
4

Trong các dạng bài tập này thì kể chuyện theo tranh được sử dụng phổ
biến hơn cả bởi bài tập này trong sách giáo khoa chiếm phần lớn và nó cũng phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học. Tiếp theo là các dạng bài tập
theo lời gợi ý thì đối tượng sẽ khó thực hiện hơn tuy nhiên nó phát triển được trí
tưởng tượng của học sinh nên việc sử dụng dạng bài tập này được sử dụng khá
nhiều. Với dạng bài tập kể chuyện theo vai yêu cầu học sinh phải nắm chắc nội
dung câu chuyện, các nhân vật cần có sự diễn xuất sao cho phù hợp không chỉ là
ngôn ngữ mà là cả cử chỉ và hành động. Dạng bài tập này tương đối dễ thực hiện

20
và được các em tham gia hào hứng. Dạng kể một tình tiết theo tưởng tượng
được sử dụng nhiều vì học sinh phải dựa vào ý tưởng của mình tạo ra nội dung
câu chuyện và chiếm khá nhiều thời gian nên được sử dụng hạn chế nhất.

sinh nhút nhát, ít nói.
Khi được hỏi về hình thức tổ chức dạy học của các giáo viên có thường sử
dụng hình thức dạy học tham quan, dạy học ngoài trời hoặc ngoại khóa khi dạy
phân môn Kể chuyện không?.
Các giáo viên cho biết trong quá trình dạy cũng đã sử dụng hình thức dạy
học này nhưng nó còn nhiều khó khăn nên được sử dụng khá ít. Cô Đoàn Thị
Vân - giáo viên chủ nhiệm lớp 4A4 trường Tiểu học Quyết Tâm cho biết “Khi
sử dụng hình thức dạy học này giáo viên sẽ phải chuẩn bị chu đáo, cẩn thận một
cách có kế hoạch về các công việc cần làm. Hơn nữa, phải có kinh phí đảm bảo
khi tham gia các hoạt động ngoại khóa, tham quan”. Do đó, mà việc sử dụng
hình thức này còn ít và hạn chế tuy nhiên với một số bài học có liên quan đến
cuộc sống xung quanh, môi trường thiên nhiên trong khuôn viên nhà trường giáo
viên có thể hướng dẫn cho các em tham gia học ngoài trời nhằm đạt kết quả tốt.
Ví dụ: Khi dạy về chủ điểm “Những người quả cảm” giáo viên có thể
hướng dẫn cho học sinh tham quan phòng tư liệu, phòng dựng hoạt cảnh liên
quan đến các câu chuyện trong bài học. Để đạt hiệu quả cao trong buổi ngoại
khóa đó giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi, các bước tiến hành cụ thể:
* Tìm hiểu về việc sử dụng trang thiết bị dạy học
Để tìm hiểu việc sử dụng các thiết bị dạy học của giáo viên trong dạy học
Kể chuyện chúng tôi đưa câu hỏi về những đồ dùng trực quan được sử dụng
nhiều trong tiết học (tranh ảnh, mô hình, vật thật, mặt nạ trang phục nhân vật,
băng đĩa hình máy chiếu…).
Chúng tôi nhận được câu trả lời là hầu hết các giáo viên đều sử dụng phổ
biến tranh ảnh trong dạy học khi cho học sinh kể chuyện theo tranh (tranh ảnh
trong sách giáo khoa hoặc tranh ảnh phóng to). Các phục trang để sắm vai nhân
vật ít được sử dụng, chỉ có một số con rối, mũ biểu tượng của nhận vật hoặc một
vài đồ dùng đơn giản giáo viên có thể tự làm. Các mô hình vật thật, băng đĩa
hình sử dụng trong giờ kể chuyện cũng rất hạn chế. Giáo viên thường chỉ sử
dụng trong các giờ dạy mẫu thi giảng. Đặc biệt, phương tiện khoa học kĩ thuật


tiết Kể chuyện không? Vì sao?” Các em đều có câu trả lời rất thích bởi giờ học

Trích đoạn Sử dụng hoạt động ngoại khóa, tham quan, dạy học ngoài trời Sử dụng yếu tố ngôn ngữ, ngữ điệu và hoạt động, cử chỉ trong kể chuyện Phương pháp tiến hành thể nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status