MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu 5
5. Giả thuyết khoa học 5
6. Phương pháp nghiên cứu 5
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận 5
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
6.3. Phương pháp toán học 6
6.4. Phương pháp thể nghiệm sư phạm 6
7. Đóng góp của đề tài 6
8. Cấu trúc luận văn 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC KỂ
CHUYỆN TIỂU HỌC 8
1.1. Cơ sở lý luận 8
1.1.1. Cơ sở triết học Mác - Lênin 8
1.1.2. Cơ sở tâm lý học 8
1.1.3. Cơ sở giáo dục 9
1.1.4. Cơ sở sư phạm của dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4 10
1.1.5. Tác dụng của dạy học kể chuyện 11
1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1. Nội dung, chương trình Kể chuyện lớp 4 12
1.2.2. Thực trạng dạy và học 16
1.2.2.1. Mục đích khảo sát 16
1.2.2.2. Nội dung khảo sát 17
2. Kiến nghị và đề xuất 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay đòi
hỏi những con người có đủ năng lực, trí tuệ để góp phần vào công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cần được quan tâm và đầu tư nhiều hơn cả. Trong
hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, có thể nói bậc học Tiểu học đóng vai trò
là nền tảng ban đầu vô cùng cần thiết nên cần được chú trọng, chăm lo để các
em có vốn kiến thức vững chắc làm cơ sở cho những bậc học sau.
1.2. Chương trình ở tiểu học bao gồm nhiều phân môn khác nhau, trong
đó Tiếng Việt là một trong hai môn chủ đạo. Trong môn Tiếng Việt, phân môn
Kể chuyện nói chung và phân môn Kể chuyện lớp 4 nói riêng là một nội dung
mà học sinh yêu thích. Nó có vai trò quan trọng trong việc rèn kĩ năng tiếng
Việt, giáo dục hình thành nhân cách, đem lại cảm xúc thẩm mĩ, niềm vui và thỏa
mãn nhu cầu nghe kể của học sinh. Ngoài ra, phân môn Kể chuyện còn góp phần
phát triển tư duy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, làm giàu thêm vốn sống
cho các em. Hơn nữa, những câu chuyện đó có tác dụng giáo dục đạo đức hết
sức nhẹ nhàng về tình yêu gia đình, bạn bè, thầy cô, yêu quê hương đất nước
phù hợp đặc điểm tâm sinh lí các em.
1.3. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4 ngành
giáo dục cũng đã có nhiều phương pháp, hình thức dạy học được vận dụng. Tuy
nhiên, hiệu quả đạt được chưa cao bởi cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu
khoa học kĩ thuật. Giáo viên còn lúng túng, chưa ý thức được đúng tầm quan
trọng của phân môn, chưa phát huy hết khả năng trong việc tiếp cận các phương
pháp, hình thức dạy học mới. Bên cạnh đó, còn một số vấn đề liên quan đến hạn
điệu cơ bản, ngữ điệu, tính logic trong đọc truyện, cách ngắt giọng, nhịp điệu,
cường độ của giọng, tư thế, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
Trong phần những vấn đề về phương pháp tổ chức giờ đọc và kể chuyện
cho trẻ em, tác giả đã viết rất cụ thể và có nhiều bài soạn mẫu để dẫn chứng
minh họa rất rõ ràng.
Một tài liệu viết về đề tài kể chuyện mà chúng ta không thể không nhắc
đến đó là quyển “Kể chuyện 1” của tác giả Đỗ Lê Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc
Bảo. Trong phần lí luận chung, các tác giả đã nêu đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ
3
cũng như phương pháp dạy học của kể chuyện ở lớp 1 cũng như đối với tiểu
học. Phần hướng dẫn cụ thể, các tác giả đã tóm tắt nội dung truyện, hướng dẫn
tìm hiểu truyện và hướng dẫn các bước lên lớp của từng bài cụ thể.
Một tác giả đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này, đó chính là Chu
Huy với “Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học”, ( Nhà xuất bản Giáo dục, 2000),
Theo tác giả, nhu cầu kể chuyện đối với học sinh tiểu học là rất lớn. Ngoài việc
xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra
phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài mẫu soạn cụ thể.
Xuất phát từ quan điểm: Tiếng Việt là công cụ, là phương tiện lĩnh hội
tiếp thu nền văn hóa của dân tộc, nền văn minh của nhân loại – phải được coi
trọng từ thời thơ ấu, cần được tổ chức hướng dẫn dạy thật khoa học, tác giả
Nguyễn Xuân Khoa đã cho ra mắt bạn đọc quyển “Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”. Dạy học kể chuyện là một trong những phương
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mà tác giả đã đề cập tới. Trong đó, tác giả đã
chỉ ra phương pháp cũng như nghệ thuật đọc và kể chuyện thật cụ thể.
Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” của 2 tác giả Lê Phương
Nga và Nguyễn Trí biên soạn cũng đã đề cập đến phương pháp dạy học Kể
chuyện. Viết về phương pháp dạy học kể chuyện, các tác giả đã vạch ra mục
đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể chuyện. Đồng thời,
các tác giả cũng đã xây dựng cách tổ chức cũng như các hoạt động chủ yếu
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của kể chuyện ở tiểu học.
- Điều tra khảo sát chương trình sách giáo khoa, thực trạng giáo viên
hướng dẫn học sinh học kể chuyện ở lớp 4 ở hai trường tiểu học Chiềng Sinh và
tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La – Tỉnh Sơn La.
- Bước đầu xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Kể chuyện lớp 4 ở hai trường tiểu học tại thành phố Sơn La.
- Vận dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh kể chuyện để xây dựng một
số giáo án mẫu.
- Tiến hành thể nghiệm dạy học.
- So sánh, đối chiếu kết quả, kiểm tra tính khả thi của đề tài. 5
4. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp dạy học nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học kể chuyện lớp 4 và được tìm hiểu bằng cách dựa trên cơ sở quá
trình vận dụng, tiến hành hoạt động dạy và học tiết Kể chuyện của giáo viên và
học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học Quyết Tâm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Do thời gian và địa bàn hạn chế nên chúng tôi chỉ tập trung điều tra,
khảo sát và thực nghiệm hai trường tiểu học trên địa bàn thành phố Sơn La đó là
trường Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học Quyết Tâm.
- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh hai trường
Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La –
Tỉnh Sơn La.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài thành công và được ứng dụng thực tế thì:
- Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa Tiểu học –
Mầm non nói và các giáo viên trường Tiểu học Chiềng Sinh và trường Tiểu học
Quyết Tâm để góp phần vào nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Kể
chuyện lớp 4.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài gồm có ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của dạy học Kể chuyện ở
Tiểu học
Tác giả đi tìm hiểu về các cơ sở, khái niệm, vai trò của phân môn kể chuyện
đối với việc giáo dục học sinh lứa tuổi tiểu học. Đặc biệt là tìm hiểu về đặc điểm tâm
sinh lí và ngôn ngữ của các em học sinh lớp 4.
Tìm hiểu khả năng nhận thức của giáo viên về kĩ năng dạy kể chuyện
cho học sinh.
Những vấn đề nghiên cứu là cơ sở để tác giả đề xuất “Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4 ở một số trường Tiểu học tại thành
phố Sơn La – tỉnh Sơn La”.
7
Chƣơng 2: Dựa vào thực trạng đã khảo sát đề xuất một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học Kể chuyện lớp 4
- Tác giả tìm hiểu về đặc điểm tiếp nhận, nguyên tắc khi kể chuyện cho
học sinh Tiểu học.
- Tác giả đề xuất 5 biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh Tiểu học
đặc biệt là đối với học sinh lớp 4.
Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm
Nêu rõ mục đích, đối tượng và phương pháp. Thông qua đó tiến hành
soạn giáo án mẫu. Từ kết quả thu được thông qua dạy học người viết tổng
hợp, so sánh, đối chiếu bước đầu khẳng định tính khả thi của đề tài.
Mỗi câu chuyện lại mở ra một chuyện cổ tích thần kỳ như chàng Sọ Dừa hình
9
dạng kỳ quái trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú và lấy được cô Út xinh
đẹp, nết na.
Ngoài tiết học các em có nhu cầu rất lớn trong việc giao lưu với bạn và
những người xung quanh. Các em luôn muốn thể hiện những điều mình biết lĩnh
hội được của giao lưu trao đổi, trò chuyện. Do vậy, kể chuyện cho các bạn nghe
là một hoạt động phổ biến trong hoạt động hàng ngày của các em.
Một số đặc điểm về kể chuyện nhận thức của học sinh tiểu học có ảnh
hưởng đến việc dạy học kể chuyện. Thứ nhất, đối với đối tượng học sinh càng
nhỏ thì duy trì khả năng chú ý học tập càng thấp, các em luôn bị hấp dẫn bởi
những sự vật mới, những cử động màu sắc. Với đối tượng học sinh lớp 4 thì sự
trực quan này đã giảm dần hơn so với đầu bậc học. Tuy nhiên, trong quá trình
dạy giáo viên cần có sự kết hợp hài hòa phù hợp giữa lời kể và cử chỉ ngữ điệu
(có tranh ảnh minh họa). Giáo viên phải thường xuyên đổi mới về phương pháp
hình thức tổ chức dạy học, giao các bài tập cho học sinh.
Đặc điểm thứ hai về trí tuệ học sinh đó là trí nhớ các em còn bị hạn chế và
khó nhớ các câu chuyện dài những tình tiết và nhiều nhân vật. Do vậy, khi dạy
giáo viên cần chọn những câu chuyện dạy cho phù hợp và nhấn mạnh các tình
tiết, nội dung thông qua cách kể chuyện để các em ấn tượng và ghi nhớ.
1.1.3. Cơ sở giáo dục
Phương pháp dạy học tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nó
sử dụng những kĩ năng thuật ngữ của giáo dục học. Mục đích của phương pháp
dạy học tiếng Việt cũng như các môn khoa học khác đó là tổ chức sự phát triển
về tâm hồn và thể chất của học sinh chuẩn bị cho các em hành trang bước vào
cuộc sống lao động trong xã hội mới. Quá trình giảng dạy bộ môn cũng vậy, bộ
môn phương pháp dạy học tiếng Việt hoàn toàn sử dụng thuật ngữ của dạy học
điều này thể hiện rõ qua từng phân môn cụ thể. Ví dụ phân môn Kể chuyện
cũng nhằm mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục nói trên. Thứ nhất, phát triển tư duy
chơi học tập nhằm củng cố khắc sâu kiến thức vừa tạo không khí vui vẻ, thoải
mái cho các em. Chẳng hạn như giáo viên có thể sử dụng các trò chơi thi sắm
vai kể chuyện thi kể chuyện theo tranh kể chuyện theo vai… Các hình thức thay
đổi như cá nhân, theo đội, theo nhóm để các em cùng tham gia.
11
Ngoài ra, khả năng tập trung chú ý ở các em còn hạn chế các em chỉ tập
trung chú ý trong thời gian ngắn (30’- 35’) và dễ bị phân tán bởi các hoạt động
bên ngoài. Các em có kĩ năng ghi nhớ nhưng ghi nhớ một cách máy móc và ít có
sự sáng tạo. Do đó, trong tiết học kể chuyện ngoài việc kể chuyện sử dụng các
phương pháp trực quan và các hình thức trò chơi học tập, giáo viên nên chú ý
kết hợp hình thức, phương pháp sử dụng thiết bị dạy học đa dạng hấp dẫn, giáo
viên sử dụng ngôn ngữ mạch lạc diễn đạt ngắn gọn dễ hiểu để các em ghi nhớ và
có thể ghi lại được.
1.1.5. Tác dụng của dạy học kể chuyện
Thông qua các câu chuyện mà các em nhận thức được về thế giới xung
quanh, nó cũng cho các em về kinh nghiệm vốn sống xác lập thái độ của bản
thân đối với cuộc sống. Như câu chuyện cổ tích, chúng luôn gắn liền với cái đẹp
góp phần phát triển các cảm xúc thẩm mỹ của một tâm hồn cao thượng trên nhận
thức thế giới xung quanh bằng trí tuệ và bằng cả con tim. Từ đó trẻ có những
hành động và suy nghĩ của bản thân mình biết yêu cái thiện và ghét cái ác.
Giai đoạn đầu tiên của giáo dục lý tưởng cũng đề ra nhờ chuyện cổ tích.
Từ lúc bập bẹ nói các em nhỏ đã rất thích nghe kể chuyện từ các câu chuyện
của bà luôn là niềm hứng khởi đối với các em và nó đã để lại trong lòng các
em những tình cảm tốp đẹp. Do vậy, truyện cổ tích là ngọn nguồn phong phú
và không có gì thay thế được về giáo dục lòng yêu tổ quốc cho thế hệ trẻ. Đây
cũng là mục tiêu quan trọng của việc dạy kiến thức và hình thành nhân cách
của học sinh.
Khi đến tuổi mẫu giáo nhu cầu được nghe cũng như được kể chuyện lại
tăng lên. Bộ môn cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học chủ yếu là cho trẻ
mơ cụ thể gồm:
Tập 1 gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:
- Thương người như thể thương thân (tuần 1, 2, 3)
- Măng mọc thẳng (tuần 4, 5, 6)
- Trên đôi cánh ước mơ (tuần 7, 8, 9)
- Có chí thì nên (tuần 11, 12, 13)
- Tiếng sáo diều (tuần 14, 15, 16, 17)
Tuần 10 dùng để ôn tập giữa kì 1, tuần 18 ôn tập cuối kì 1.
13
Tập 2 gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần:
- Người ta là hoa đất (tuần 19, 20, 21)
- Vẻ đẹp muôn màu (tuần 22, 23, 24)
- Những người quả cảm (tuần 25, 26, 27)
- Khám phá thế giới (tuần 29, 30, 31)
- Tình yêu cuộc sống (tuần 32, 33, 34)
Tuần 18 dùng để ôn tập giữa kì 2, tuần 35 ôn tập cuối kì 2.
Như vậy, ta thấy sách giáo khoa lớp 4 có sự cụ thể. Số lượng chủ điểm
nhiều với những tên gọi phong phú, hấp dẫn hơn tạo ra hứng thú học tập cho học
sinh, các chủ điểm được sắp xếp một cách hợp lí và nội dung phù hợp với nhận
thức của học sinh.
Tìm hiểu về nội dung, chƣơng trình phân môn Kể chuyện lớp 4 theo
chƣơng trình giáo dục
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu về nội dung số lượng cách trình bày và sự
phân bố các bài kể chuyện mà các em được đọc nhằm giúp các em củng cố lại
hệ thống kiến thức mà các em học trước đó. Các bài kể chuyện lớp 4 được phân
bố theo tuần tự sau:
Chủ điểm Tên bài
1, Thương người như thể thương thân 1, Suất cơm phần bà
2, Hoa tặng mẹ
5, Tiếng sáo diều 31, Chú lính chì dũng cảm
32, Chàng hiệp sĩ gỗ
33, Đồ chơi của bạn Thắng
34, Võ sĩ bọ ngựa
35, Chú mèo đi hia
36, Con chó có nghĩa
37, Dế nhỏ và ngựa mù
38, Ca – rơ hối lỗi
6, Người ta là hoa đất 39, Ông Phùng Hưng đánh hổ
40, Người mạnh nhất hành tinh
41, Bông sen trong giếng ngọc
42, Thần đồng âm nhạc
15
43, Vua máy tính Bin Ghết
44, Ông vua và bác thợ giày
45, Xây nhà trên trời
46, Bác Xan – trô làm thống đốc
47, Nghèo của, giàu trí tuệ
48, Chiều khách
7, Vẻ đẹp muôn màu 49, Chim họa mi
50, Nàng công chúa và hạt đậu
51, A-i-ô-ga
52, Cô bé Lọ Lem
53, Mười hai tháng
54, Cây khế
55, Tham thì thâm
8, Những người quả cảm 56, Trần Quốc Toản kịch chiến với Ô mã nhi
57, “Hãy nhớ lấy lời tôi!”
58, Cậu bé đánh trống
tâm sinh lý cũng như nhận thức của học sinh. Cách trình bày có hình ảnh quan
sát khá sinh động gần gũi nên có sức hấp dẫn với học sinh. Vì vậy mà giáo viên
phát huy được khả năng vận dụng cách dạy học thu hút các em học sinh tham
gia tích cực trong quá trình học”.
1.2.2. Thực trạng dạy và học
1.2.2.1. Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát nội dung chương trình các bài dạy của phân
môn Kể chuyện lớp 4 nhằm mục đích nhận biết nội dung các bài học đó đã phù
hợp với đặc điểm của đối tượng khảo sát hay chưa. Từ đó, khảo sát về các
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của giáo viên, việc vận dụng các thiết
bị dạy học của giáo viên khi tiến hành giảng dạy gặp những khó khăn gì.
Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí học sinh, mức độ
hứng thú và khả năng nhận thức của các em khi học bài. Từ đó, nhằm tìm ra
những ưu điểm và hạn chế cụ thể để có những đề xuất thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học, giúp học sinh tiếp thu bài dễ dàng. 17
1.2.2.2. Nội dung khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát những nội dung sau:
- Chương trình các bài học của phân môn Kể chuyện lớp 4.
- Tìm hiểu các phương pháp, hình thức dạy học Kể chuyện ở lớp 4.
- Tìm hiểu về các thiết bị dạy học được sử dụng trong dạy học Kể
chuyện lớp 4.
- Tìm hiểu về tâm lí và nhận thức của học sinh khi học phân môn Kể
chuyện lớp 4.
1.2.2.3. Phương pháp khảo sát
Một số các phương pháp chúng tôi sử dụng khi tiến hành khảo sát như:
- Phân tích tài liệu: Đọc, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu liên quan đến
đề tài.
tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La. Trường tổng số 35 giáo
viên trong đó có 17 giáo viên trình độ đại học, 15 giáo viên trình độ cao đẳng và
3 giáo viên trình độ trung cấp. Chúng tôi tiến hành khảo sát trên đối tượng học
sinh lớp 4 gồm 102 học sinh.
Lớp 4A1 cô Đinh Thị Thịnh chủ nhiệm gồm 24 học sinh.
Lớp 4A2 cô Nguyễn Thị Lê chủ nhiệm gồm 26 học sinh.
Lớp 4A3 cô Đoàn Thị Huyền chủ nhiệm gồm 25 học sinh.
Lớp 4A4 cô Đoàn Thị Vân chủ nhiệm gồm 27 học sinh.
Qua việc khảo sát thực trạng của giáo viên và học sinh về kĩ năng kể
chuyện của học sinh lớp 4 tại hai trường tiểu học Chiềng Sinh và trường tiểu học
Quyết Thắng – Thành phố Sơn La chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Về phía giáo viên
* Ưu điểm:
- Đa số giáo viên đều có trình độ đào tạo và có thâm niên công tác lâu năm.
- Các giáo viên đều yêu nghề, yêu học sinh, luôn sáng tạo tìm tòi các
phương pháp giảng dạy hay để gây hứng thú cho học sinh, để học sinh tiếp nhận
môn học dễ dàng và thoải mái hơn.
- Đồ dùng giảng dạy có sự sáng tạo, phong phú, phù hợp với mục đích
yêu cầu bài dạy. 19
* Nhược điểm:
Qua khảo sát, điều tra giáo viên ở hai trường tiểu học Chiềng Sinh và
trường tiểu học Quyết Thắng – thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La chúng tôi nhận
thấy rằng: giáo viên chưa tìm hiểu sâu về phương pháp dạy học để rèn kĩ năng
kể chuyện cho học sinh. Giáo viên chưa thực sự nhận thức rõ tầm quan trọng
của việc rèn kĩ năng kể chuyện cho các em. Hầu hết các giáo viên chưa đi sâu
vào việc tìm các biện pháp mang tính tích cực, sáng tạo để giúp học sinh có kĩ
năng kể chuyện.
tưởng tượng của học sinh nên việc sử dụng dạng bài tập này được sử dụng khá
nhiều. Với dạng bài tập kể chuyện theo vai yêu cầu học sinh phải nắm chắc nội
dung câu chuyện, các nhân vật cần có sự diễn xuất sao cho phù hợp không chỉ là
ngôn ngữ mà là cả cử chỉ và hành động. Dạng bài tập này tương đối dễ thực hiện
20
và được các em tham gia hào hứng. Dạng kể một tình tiết theo tưởng tượng
được sử dụng nhiều vì học sinh phải dựa vào ý tưởng của mình tạo ra nội dung
câu chuyện và chiếm khá nhiều thời gian nên được sử dụng hạn chế nhất.
Tiếp theo, chúng tôi tìm hiểu về các hình thức dạy mà giáo viên thường sử
dụng khi dạy học kể chuyện cho học sinh (Kể chuyện theo đúng trình tự tranh,
sắp xếp lại các tranh bị đảo lộn theo thứ tự câu chuyện và kể lại câu chuyện đó).
Kết quả cho câu hỏi này là các giáo viên hầu hết chỉ sử dụng các tranh đã sắp
xếp trong sách giáo khoa để học sinh kể lại vì công việc này không gây mất
nhiều thời gian khi giáo viên phải tự chuẩn bị tranh ảnh cho 1 tiết học mà
không có sự cung cấp đồ dùng dạy học. Còn loại bài sắp xếp lại các tranh bị
đảo lộn có phần hạn chế hơn vì không giúp các em đạt hiệu quả tốt trong việc
khắc sâu và nhớ kiến thức.
Tiếp theo là câu hỏi nhằm thu thông tin về các dạng bài tập giáo viên
thường sử dụng để dạy kể chuyện cho học sinh. Hầu hết các giáo viên 2 trường
đều vận dụng phổ biến dạng bài kể chuyện theo lời của chính tác giả bởi đây là
dạng bài học sinh dễ tiếp thu được học sinh chỉ nhớ lại và kể lại chuyện đó.
Dạng bài kể theo lời một nhân vật là dạng bài đòi hỏi cao hơn học sinh phải linh
hoạt khi đóng vai nhân vật đó trong một hoàn cảnh cụ thể. Cuối cùng là dạng bài
tập thay lời tác giả bằng lời văn của mình, với dạng bài tập này yêu cầu học sinh
cần phải đan xen cảm xúc, cảm nhận của mình vào quá trình kể chuyện. Điều
này là một khó khăn, hạn chế đối với các em khi mà kĩ năng diễn đạt và nói của
các em chưa tốt đặc biệt là các em dân tộc thiểu số có thể lẫn lộn âm (l/n, b/đ)
hoặc phát âm dấu sai (dấu thanh).
Với câu hỏi mà chúng tôi đặt ra cho các giáo viên như sau “Xin thầy (cô)
băng đĩa hình máy chiếu…).
Chúng tôi nhận được câu trả lời là hầu hết các giáo viên đều sử dụng phổ
biến tranh ảnh trong dạy học khi cho học sinh kể chuyện theo tranh (tranh ảnh
trong sách giáo khoa hoặc tranh ảnh phóng to). Các phục trang để sắm vai nhân
vật ít được sử dụng, chỉ có một số con rối, mũ biểu tượng của nhận vật hoặc một
vài đồ dùng đơn giản giáo viên có thể tự làm. Các mô hình vật thật, băng đĩa
hình sử dụng trong giờ kể chuyện cũng rất hạn chế. Giáo viên thường chỉ sử
dụng trong các giờ dạy mẫu thi giảng. Đặc biệt, phương tiện khoa học kĩ thuật
22
hiện đại như sử dụng giáo án điện tử trên máy chiếu chưa được áp dụng do chưa
được đầu tư nhiều kinh phí.
Từ những khó khăn thực tế mà khi dạy học gặp phải, chúng tôi đưa ra câu
hỏi nhằm xin ý kiến về khó khăn, thuận lợi và kinh nghiệm của các thầy (cô).
Chia sẻ về vấn đề này cô Đoàn Thị Vân – giáo viên lớp 4A4 trường tiểu
học Quyết Tâm – thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho biết: “Do đặc điểm của
phân môn nên hầu hết các em học sinh đều hào hứng trong tiết học. Khi dạy
phân môn Kể chuyện giáo viên có thuận lợi là được sự ủng hộ nhiều của học
sinh bởi tâm lý các em vốn rất thích được nghe kể chuyện. Các em hào hứng
chuẩn bị truyện, đọc truyện, nghe cô cùng các bạn kể và các em muốn thể hiện
câu chuyện đó cho cô giáo và các bạn trong lớp cùng nghe”.
Ngoài ra, nhờ có sự hỗ trợ của các trang thiết bị dạy học như tranh, ảnh,
máy chiếu rất phong phú nên việc vận dụng các phương pháp và hình thức dạy
học của giáo viên trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, người giáo viên phải biết vận
dụng kết hợp sao cho có kết quả cao nhất. Còn một số hạn chế nữa đó là các
trang thiết bị dạy học hầu hết là dạng tranh, ảnh còn các trang thiết bị hiện đại,
mô hình, băng đĩa hình còn chưa được đầu tư.
Về phía học sinh
* Ưu điểm:
- Học sinh rất tích cực tham gia các hoạt động, các tiết học.
Câu hỏi dành cho học sinh lựa chọn dạng bài tập mình yêu thích và
hứng thú hơn cả khi học phân môn Kể chuyện chúng tôi thống kê được kết
quả như sau:
Trường
Tiểu học Chiềng sinh
(155 học sinh)
Tiểu học Quyết Tâm
(102 học sinh)
Các nội dung
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Kể chuyện theo tranh
68
43
30
29
Kể chuyện theo vai
48
30
41
40
Kể chi tiết trong truyện theo
tưởng tượng
26
16
25
25
Kể chuyện theo lời gợi ý