A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đã trải qua 6 năm đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Cùng
với việc đổi mới các môn học khác thì đổi mới trong Tiếng Việt đã tạo ra tâm
thế mới trong công tác giảng dạy. Với chương trình SGK mới thì mục tiêu của
môn Tiếng Việt cũng có sự thay đổi, chương trình tiểu học mới xác định mục
tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là :
(1)Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
(đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc
học tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập ở tiểu
học và các cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa
tuổi.
(2)Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh
các thao tác tư duy cơ bản ( phân tích, tổng hợp, phán đoán…)
(3)Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về
văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:
-Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,
lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt.
-Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: Có tri
thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành
mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau
này.
Với mục tiêu dạy học Tiếng Việt như trên, ta thấy thì môn Tiếng Việt
đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục làm cơ sở ban đầu cho trẻ chiếm
lĩnh tri thức mới, có được năng lực sử dụng ngôn ngữ, biết sử dụng thành thạo
Tiếng Việt, cùng các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
SGK mới, phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp được giọi bằng tên mới là Luyện
từ và câu. Đây là môn học đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi nó dạy cho học
sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức Tiếng Việt ban đầu nhằm phục vụ cho
1. Mục đích, ý nghĩa và tác dụng của phân môn Luyện từ và câu trong nhà
trường và ngoài xã hội
Là người Việt Nam, mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ
chúng ta hết sức phong phú và đa dạng. Mỗi con người ngay từ khi sinh ra đến
tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn ngôn từ Tiếng Việt, quy tắc giao tiếp
nhất định. Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính xác hóa nội dung ngữ
nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ xảo ngữ pháp diễn ra một
cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện, trau dồi
cho các em vốn kiến thức về Tiếng Việt qua phân môn Luyện từ và câu. Kế thừa
và phát huy những ưu điểm của chương trình cũ đồng thời cũng để tạo ra phong
thái mới trong dạy và học hiện nay, chương trình SGK mới ra đời với mong
muốn sẽ giúp cho học sinh tiếp cận một cách dễ dàng hơn với môn tri thức mới.
Với phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp học sinh:
a. Mở rộng hệ thông hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết
sơ giản về từ và câu.
b. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu.
c. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu;
rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp.
Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức
to lớn trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức cần thiết
để đi sâu vào tìm hiểu các lĩnh vực khác.
2. Cùng với sự thay đổi về chương trình SGK thì việc đổi mới về phương
pháp dạy học cũng là điều tất yếu. Sự đổi mới này phải theo hương tăng
cường tổ chức hướng dẫn học sinh luyện tập thực hành là một trong những
mục tiêu quan trọng của chương trình Tiểu học mới
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK
lần này là đổi mới phương pháp dạy và học: Chuyển từ phương pháp truyền thụ
sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó người dạy
đóng vai trò tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động,
bộc lộ mình và được phát triển. Đó cũng chính là bản chất của phương pháp dạy
dạy học. Vì vậy, việc lập kế hoạch bài học của giáo viên phải logic, tích hợp đầy
đủ các nội dung dạy học ở trong đó, phải có đầy đủ mục đích, yêu cầu cũng như
quy trình một bài dạy sao cho phù hợp, có hoạt động người dạy, người học. Khi
lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy ngoài
dự kiến của mình để có thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh động,
hấp dẫn.
2. Chuẩn bị đồ dùng
Việc dạy học theo phương pháp mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải năng
động, sáng tạo tìm tòi học hỏi để làm tăng hiệu quả giờ dạy đồng thời nâng cao
chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho mỗi
bài dạy là khâu quan trọng, mỗi bài yêu cầu mỗi loại đồ dùng riêng như: Phiếu
học tập, bảng phụ, hình ảnh trực quan…Đồ dùng dạy học sẽ đóng góp phần lớn
cho hiệu quả củng như thành công của tiết dạy.
- 4 -
Ví dụ: Khi dạy bài "câu kể Ai là gì?" với yêu cầu dùng câu kể Ai là gì?
viết đoạn văn giới thiệu về gia đình mình hoặc tập thể lớp mình. Chắc chắn rằng,
giờ học này sẽ sinh động hơn khi học sinh có tấm ảnh chụp cả gia đình, các em
sẽ nhìn vào đó để giới thiệu thành viên của gia đình cho cả lớp nghe qua tấm ảnh
đó.
3. Hướng dẫn chuẩn bị bài
Đây cũng là biện pháp góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả dạy
học. Sau mỗi tiết học, giáo viên cần dành chút ít thời gian để hướng dẫn cho các
em xem trước bài học sắp tới và những phần cần chuẩn bị, có như vậy khi học
bài các em mới các em đã được làm quen, xem qua những kiến thức mình sắp
học đồng thời cũng bổ sung những kiến thức đã học liên quan đến bài mới.
4. Tổ chức thực hiện
Đây là điều kiện cần cho một giờ Tiếng Việt nói chung và luyện tập về
câu nói riêng. Có thể có nhiều hình thức tổ chức khác nhau để thực hiện bài tập:
+ Làm việc độc lập.
+ Làm việc theo cặp, theo nhóm.
từng bàn để kiểm tra công việc của các em.
+ Xem học sinh có làm việc không.
+ Xem học sinh có hiểu việc phải làm không.
+ Trả lời thắc mắc của học sinh
- Tổ chức báo cáo làm việc
- Tổ chức đánh giá.
7. Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ rèn cho học sinh dùng từ đúng,
nói viết thành câu. Bởi vậy, giáo viên cần khai thác triệt để sức mạnh của
phương pháp dạy học luyện tập theo mẫu, phương pháp phân tích ngôn
ngữ, phương pháp thực hành giao tiếp.
7.1. Phương pháp luyện từ theo mẫu
Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể về lời nói
hoặc mô hình lời nói (cũng có thể cùng học sinh xây dựng mẫu lời nói) để thông
qua đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm của mẫu, có thể tạo mẫu, từ mẫu
đó học sinh biết cách tạo ra các đơn vị lời nói theo định hướng của mẫu.
Ví dụ: Khi dạy học về dấu câu với bài tập
Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
a, Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cách
trồng lúa nuôi tằm dệt vải.
b,Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô-phi đã
về ngay.
c, Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen đã bị
thua.
Để giúp học sinh làm được bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh làm
mẫu một phần chẳng hạn khi làm mẫu câu và bài tập trên. Giáo viên đọc lên câu
đó (thể hiện rõ chỗ nghỉ hơi sau trạng ngữ và các thành phần cùng loại rồi nói:
- 6 -
Trong câu a,chúng ta cần dùng đúng dấu phẩy, để tách các từ ngữ chỉ nguyên
nhân (vì thương dân) với bộ phận câu còn lại và tách các loại công việc được kể
ở trong câu với nhau ( cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải….). Khi đọc ta nghỉ hơi
ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi không thể thấy được,
mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng".
7.3. Phương pháp thực hành giao tiếp
- 7 -
Với phương pháp này không chỉ hướng học sinh vận dụng lí thuyết được
học vào thục hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp mà còn là phương pháp
cung cấp lí thuyết cho học sinh. Trong quá trình giao tiếp chẳng hạn, khi dạy
xong bài luyện từ và câu Câu kể Ai làm gì? giáo viên có thể cho học sinh làm
việc theo nhóm 4-8 để các em tự giới thiệu về gia đình mình.
Sau khi các em thảo luận các em trong nhóm có thể tự giới thiệu về công
việc của bố mẹ mình, anh chị, ông, bà. Như thế sẽ tạo ra không khí giờ học và
giúp các em hiểu nhau hơn.
Khi vận dụng phương pháp này thì chúng ta đã kiểm tra được kĩ năng sử
dụng từ đặt câu và giúp học sinh rèn được kĩ năng học tập mới.
8. Một điều quan trọng nữa để nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn
Luyện từ và câu là giáo viên phải giúp học sinh nắm vững được vị trí,
nhiệm vụ, tác dụng của việc học phân môn này
Ngôn ngữ là phương tiện kỳ diệu của con người, nhờ nó mà xã hội tồn tại
và phát triển được. Vì vậy, dạy Tiếng Việt giáo viên dần dần từng bước dẫn dắt
học sinh đi vào chiều sâu của ngôn ngữ Tiếng Việt, hiểu được những điều bí ẩn
đằng sau những hiện tượng và giải thích được cơ chế vận hành của ngôn ngữ.
Việc dạy Luyện từ và câu trong trường Tiểu học là vấn đề không thể thiếu được.
Bởi đây là nền tảng giúp học sinh hiểu được bản chất của tiếng mẹ đẻ và góp
phần bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng nơi và viết thành câu và ý
thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa.
Việc học Tiếng Việt sẽ giúp cho học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ, tạo vốn
từ của học sinh. Qua đó làm cho học sinh nắm vững phạm vi sử dụng chúng nắm
tính nhiều nghĩa và sự chuyển đổi nghĩa của các từ đồng nghĩa, gần nghĩa. Phân
môn Luyện từ và câu sẽ giúp các em hình thành căn bản về từ và câu tiếng Việt
để các em ứng dụng trong các phân môn khác như: Tập làm văn; Tập đọc …
13. Một điều không thể thiếu là để nâng cao chất lượng dạy học các bộ môn
cũng như phân môn Luyện từ và câu là phải sử dụng và phát huy hết khả
năng của phương tiện đồ dùng dạy học như băng đĩa, tranh, ảnh, bảng
phụ…
Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu theo tinh thần
"lấy học sinh làm trung tâm" giáo viên phải hình thành ở học sinh tính tích cực
đối với học tập và khêu gợi những kích thích bên trong quá trình nhận thức và
quá trình lĩnh hội kiến thức.
14. Giáo viên cần nắm vững nội dung, mức độ yêu cầu của từng bài tập để
hướng dẫn học sinh thực hành cho sát hợp. Củng cố phát triển những kiến
thức kĩ năng đã dạy học ở lớp 3.
Có nhiều biện pháp, hình thức tổ chức nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh. Chú ý hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa sưu tầm hoặc tự làm
đồ dùng dạy học đơn giản nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và tích cực
tham gia vào hoạt động luyện tập thực hành, luyện tập về các kĩ năng: Mở rông
vốn từ, phân tích cấu tạo tiếng, từ, nhận biết danh từ chung, nhận biết danh từ
riêng, cách viết hoa, dùng các dấu câu, các kiểu câu
- 9 -
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi đã vận dụng những phương pháp
đổi mới và những phương pháp nêu ở trên vào dạy học Luyện từ và câu. Kết quả
cho thấy bước đầu học sinh đã có những chuyển biến về tâm lý, khả năng nhận
diện, tiếp thu kiến thức của các em tăng lên rõ rệt.
* Khả năng hiểu nghĩa của từ
Tỉ lệ học sinh hiểu nghĩa từ sâu sắc và tương đối sâu sắc tăng lên, học sinh
hiểu nghĩa từ còn hời hợt giảm. Số lượng học sinh hiểu nghĩa từ sâu sắc và
tương đối tăng do các em đã nắm bắt được cách học, giáo viên và học sinh đã
quen với chương trình mới. Học sinh đã biết sử dụng từ điển Tiếng Việt một
cách thành thạo.
* Khả năng dùng từ, mở rộng vốn từ
cách diễn đạt thiếu trôi chảy, mạch lạc. Trách nhiệm đó một phần thuộc về
người giáo viên Tiểu học. Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra
trong quá trình giảng dạy xin được chia sẻ cùng đồng nghiệp và mong các đồng
nghiệp đóng góp ý kiến.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
NHỮNG ĐỀ XUẤT.
Từ những kết luận trên, bản thân tôi khi thực hiện đề tài “ Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu ở lớp 4” có những đề xuất sau:
1. Với người chỉ đạo:
- Nên có những tài liệu chính thống và triển khai việc đổi mới phương
pháp kịp thời.
- Nên tổ chức những hội thảo về phương pháp giảng dạy Tiếng Việt để
trao đổi rút kinh nghiệm.
3. Về phía trường Tiểu học :
- Tổ chức ngoại khóa về bộ môn Tiếng Việt .
- Tạo cho học sinh có thói quen rèn luyện khi dùng tiếng Việt.
- Tổ chức tham quan thực tế cho giáo viên.
- 11 -