BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHẠM VĂN HOÀNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐIỀN
QUANG II HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHẠM VĂN HOÀNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐIỀN
QUANG II HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Khoa học Giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng
SƠN LA, NĂM 2016
HS
: học sinh
HSTH
: học sinh tiểu học
DTTS
: dân tộc thiểu số
NXB
: nhà xuất bản
SGK
: sách giáo khoa
PP
: phương pháp
TN
: thể nghiệm
VD
2.3. Sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh ........... 30
2.3.1. Phương pháp luyện tập theo mẫu .............................................................. 31
2.3.2. Phương pháp luyện tập theo cấu trúc cho sẵn ........................................... 32
2.3.3. Phương pháp thực hành giao tiếp .............................................................. 33
2.3.4. Phương pháp gợi mở vấn đáp ................................................................... 34
2.3.5. Phương pháp phân tích ngôn ngữ ............................................................. 35
2.4. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Luyện từ và câu............................ 36
2.4.1. Sử dụng bảng phụ ...................................................................................... 37
2.4.2. Sử dụng phiếu bài tập ................................................................................ 38
2.4.3. Sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh minh họa ........................................ 39
2.5. Sử dụng trò chơi trong dạy học Luyện từ và câu ......................................... 40
2.5.1. Ý nghĩa của việc sử dụng trò chơi............................................................. 40
2.5.2. Một số trò chơi học tập trong giờ Luyện từ và câu ................................... 41
2.6. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Luyện từ và câu ........................... 46
2.7. Sử dụng các hoạt động ngoại khóa Luyện từ và câu ................................... 50
2.7.1. Thi kể chuyện vui về từ và câu ................................................................. 50
2.7.2. Sưu tầm thành ngữ, tục ngữ ...................................................................... 51
2.7.3. Sổ tay sử dụng từ ngữ................................................................................ 51
2.8. Dạy học kiến thức Luyện từ và câu theo hướng tích hợp các phân môn
Tiếng Việt, các phân môn khác trong chương trình............................................ 52
Tiểu kết ................................................................................................................ 53
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 54
3.1. Một số vấn đề chung về thể nghiệm ............................................................ 54
3.1.1. Mục đích .................................................................................................... 54
3.1.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm ................................................. 54
3.1.3. Nội dung và tiêu chí đánh giá thể nghiệm ................................................ 54
3.1.4. Phương pháp thể nghiệm........................................................................... 55
3.2. Thể nghiệm và đánh giá kết quả thể nghiệm………………………..……..55
Giáo dục Tiểu học nhằm hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, tình cảm, thể chất và
các kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam trong
giai đoạn mới. Giáo dục Tiểu học là tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn mới.
Dạy học Tiểu học có rất nhiều môn học như Toán, Tiếng Việt, Nghệ thuật,
Tự nhiên và xã hội. Mỗi môn học đều có những đặc trưng riêng của nó, trong
đó môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản, hiện đại về
tiếng Việt, trên cơ sở đó hình thành các kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh.
Ở Tiểu học Luyện từ và câu là phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực
hiện nhiệm vụ của môn học Tiếng Việt là làm giàu vốn từ và rèn kĩ năng sử
dụng từ ngữ, đặt câu, sử dụng dấu câu cho học sinh, đồng thời làm tăng khả
1
năng tư duy, tưởng tượng của các em. Đồng thời phân môn Luyện từ và câu còn
bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh.
Đối với học sinh lớp 5 vốn từ của các em đã có sự tăng lên, xong đối với
học sinh dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa thì việc sử dụng từ ngữ còn nhiều bất
cập. Nhận thấy các Trường Tiểu học hiện nay việc dạy học phân môn Luyện từ
và câu còn nhiều hạn chế, chương trình dạy học chưa thực sự mang lại hiệu quả.
Làm thế nào để giúp các em học tập tốt phân môn này là một vấn đề đặt ra và
cần được quan tâm.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 Trường Tiểu
học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa” làm đối tượng nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ việc tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở Trường
Tiểu học. Chúng tôi đã tìm hiểu một biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
phương pháp thực hành giao tiếp, luyện tập, trò chơi để phát huy tính tích cực của
học sinh.
Chuyên đề Về hình thành tính tích cực của học sinh trong giờ học Tiếng
Việt của Nguyễn Thị Kim Thoa, Tạp chí giáo dục, số 141, 2006,... đã đề cập tới
tính tích cực của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm. Thông qua các hình thức
đàm thoại để phát triển vốn từ cho HS.
Các công trình và bài viết nói trên với các hướng nghiên cứu khác nhau, song
đều đưa ra được những lí luận có tính thuyết phục để vận dụng vào dạy học Luyện
từ và câu. Đây là cơ sở quan trọng trong để chúng tôi đi sâu và tìm hiểu nghiên cứu
đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu
Lớp 5 Trường Tiểu học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh hóa”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu về lí luận và thực tiễn việc dạy học Luyện từ và câu từ đó đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu Lớp 5 ở
Trường Tiểu học Điền Quang II.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng tới các nhiệm vụ sau:
3
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy Luyện từ và câu ở
Trường Tiểu học.
- Thực trạng dạy học luyện từ và câu lớp 5, Trường Tiểu học Điền Quang II.
- Đề xuất các biện pháp, các cách dạy học nhằm tích cực rèn luyện từ và
câu cho HS, nâng cao hiệu quả dạy học.
- Thể nghiệm: Chúng tôi tiến hành soạn giáo án có sử dụng các phương
pháp tích cực vào dạy học.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Một số quan điểm đổi mới giáo dục tiểu học
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “2013”, Luật Giáo
dục “2008” và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010 - 2020, đã tiếp tục
nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng ta “Giáo dục là
quốc sách hàng đầu”. Đầu tư cho phát triển giáo dục là đầu tư cho sự phát triển
bền vững và lâu dài. Con người được giáo dục sẽ phát triển một các toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ. Đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của
xã hội và đất nước và ngày càng rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển
trên thế giới. Giáo dục cũng được coi là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh, là một bộ
phận hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt là Thông tư 30/2014/ TT-BGDĐT về
đổi mới đánh giá HS Tiểu học, đã đề cập đến việc thay đổi một cách toàn diện
về giáo dục Tiểu học. Trong đó có sự thay đổi cách đánh giá HS Tiểu học, về
phương pháp và cách thức tổ chức dạy học nhằm đem lại hiệu quả tối ưu trong
dạy học.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học Luyện từ và câu ở trường Tiểu học
1.1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ, chương trình Luyện từ và câu ở trường Tiểu học
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Luyện từ và câu được
tách thành phân môn độc lập, tồn tại song song với các phân môn Chính tả, Tập
đọc, Tập làm văn. Ở lớp 5, phân môn Luyện từ và câu chiếm hai tiết / tuần.
thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi.
Công việc này hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc
của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, trái nghĩa,
đồng âm, cùng cấu tạo,... tức là kĩ năng liên tưởng được huy động vốn từ.
Thứ ba, tích cực hóa vốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ
năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từ
tích cực được học sinh sử dụng thường xuyên. Tích cực hóa vốn từ là dạy cho
học sinh biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình.
7
Thứ tư, dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng
mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.
Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Trên cơ sở vốn từ ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiện tượng
cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số
kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. Luyện từ
và câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật
hành chức của chúng. Cụ thể đó là kiến thức cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ,
từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc
dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ
rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học là
giúp học sinh mở rộng vốn từ và cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản
về cấu tạo từ, đặt câu, sử dụng dấu câu. Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói
và viết thành câu hoàn chỉnh có đủ thành phần câu, có ý thức sử dụng Tiếng
Việt văn hóa, lịch sự trong giao tiếp.
1.1.2.2. Nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 5
Chương trình Luyện từ và câu lớp 5 gồm 64 tiết ( học kì 1: 34 tiết; học kì 2:
Luyện từ và câu được sắp xếp vào tiết thứ 3 ( sau các bài: Tập đọc, Chính
tả) và tiết thứ 7 ( sau Kể chuyện, Tập đọc, Tập làm văn) trong quy trình 8 tiết
học về Tiếng Việt lớp 5.
- Cấu trúc của bài học trong sách giáo khoa
Mỗi bài học Luyện từ và câu được chia thành ba phần:
+ Phần 1: Lí thuyết (đưa ra một đến hai ngữ liệu để giúp học sinh hình
thành kiến thức).
+ Phần 2: Kết luận hay còn gọi là ghi nhớ. Là những nội dung lí thuyết cơ
bản học sinh cần nắm vững để làm bài tập.
+ Phần 3: Bài tập. Học sinh sẽ vận dụng kiến thức để làm các bài tập (
thường là 3 bài theo các mức độ khác nhau).
1.1.2.3. Nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu
* Nguyên tắc phát triển tư duy
9
Là nguyên tắc tích cực hóa tác động của tư duy đến ngôn ngữ và ngôn ngữ
đến tư duy trong quá trình dạy tiếng. Vì thế phải chú ý rèn luyện các thao tác và
phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng. phải làm cho HS thông hiểu được ý nghĩa
của các đơn vị ngôn ngữ. Phải tạo điều kiện cho HS nắm được nội dung các vấn
đề cần nói, viết, và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết,
Có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và tư
duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề và là điều kiện để
tư duy phát triển và ngược lại.
Do vậy trong quá trình mở rộng vốn từ cho HS GV cần nắm vững nguyên
tắc này.
*Nguyên tắc giao tiếp
Nguyên tắc giao tiếp ( hay cũng chính là sự vận dụng của nguyên tắc thực
hoa cho HS.
*Nguyên tắc tích hợp
Không có vốn từ phong phú, không hiểu nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của
từ thì không thể đặt câu đúng, đồng thời, nếu nắm vững các qui tắc đặt câu dù
vốn từ có phong phú, dù nắm chắc nghĩa của từ vẫn không trình bày được ý kiến
của mình một cách đúng đắn, rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy Luyện từ và câu không
thể tách rời. Bên cạnh đó các bộ phận của chương trình Luyện từ và câu như từ,
cấu tạo từ, từ loại, câu, các thành phần câu, các kiểu câu và liên kết câu cũng
phải được nghiên cứu trong sự gắn bó thống nhất.
Không phải chỉ trong giờ học tiếng Việt mà trong tất cả các hoạt động khác
và trong các giờ học khác, GV cần chú ý điều chỉnh kịp thời những cách hiểu từ
sai lạc, những cách nói, viết câu không đúng ngữ pháp của HS, kịp thời loại ra
khỏi vốn từ tích cực của HS những từ ngữ không văn hóa.
* Nguyên tắc trực quan
Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ em về thế giới xung
quanh là một tổ hợp cần thiết cho bất kỳ việc dạy học nào. Quan điểm này là cơ
sở của nguyên tắc trực quan. Nguyên tắc trực quan được xây dựng còn dựa vào
sự thống nhất giữa trừu tượng và cụ thể trong ngữ pháp. Đặc điểm của việc vận
dụng nguyên tắc trực quan trong dạy từ là ở chỗ: Từ là một tổ hợp nghe, nhìn,
vận động, cấu âm. Một quy luật tâm lí càng có nhiều cơ quan cảm giác tham gia
11
vào việc tiếp nhận đối tượng thì càng ghi nhớ một cách chắc chắn đối tượng đấy,
có nghĩa là ghi nhớ cả từ mà nó biểu thị, do đó, khi giải nghĩa từ, việc tiếp nhận
của HS không phiến diện mà hình thành trên cơ sở của sự tác động qua lại của
các loại cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm, viết.
Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu là từ ngữ, câu, thành phần
câu… do đó bên cạnh biểu bảng, sơ đồ, vật thật, tranh vẽ… như người ta vẫn
thường quan niệm về đồ dùng trực quan trong giờ học, trực quan trong giờ dạy
- Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập;
- Hướng dẫn chữa một phần của bài tập để làm mẫu;
- Hướng dẫn HS làm bài tập vào vở (hoặc bảng con, vở nháp, vở bài tập,…)
theo các hình thức phù hợp: cá nhân, cặp đôi, nhóm, trò chơi,…
- Tổ chức cho HS trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm cần ghi nhớ
về tri thức.
Hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới (dạy dạng bài lí thuyết lớp 4-5)
Các bài học Luyện từ và câu thuộc loại hình thành kiến thức mới đều gốm có 3
phần: Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập.
- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học và nếu
câu hỏi, bài tập gợi ý cho HS phân tích nhằm để các em tự hình thành kiến thức. GV tổ
chức khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:
+ Trao đổi chung cả lớp;
+ Trao đổi theo từng nhóm;
+ Tự làm bài cá nhân.
Qua đó, HS tự rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức.
- Ghi nhớ là phần chốt lại những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra qua việc
phân tích ngữ liệu. Cần hướng dẫn HS ghi nhớ kiến thức như sau:
+ HS tự rút ra những điểm chính cần ghi nhớ qua phân tích ví dụ.
+ Đọc lại phần ghi nhớ trong SGK.
+ Nêu những điểm chính cần ghi nhớ (không nhìn SGK).
- Luyện tập là phần bài tập thực hành nhằm củng cố và vận dụng những kiến
thức đã học. GV tổ chức cho HS làm bài tập theo các hình thức cá nhân, cặp đôi,
nhóm, trò chơi học tập,…Lưu ý hướng dẫn HS làm các bài tập theo các bước:
+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập.
+ Chữa mẫu một bài hoặc một phần của bài tập.
+ Hướng dẫn HS làm bài tập vào bảng con, bảng lớp, giấy nháp, phiếu bài tập,…
+ Hướng dẫn HS tự kiểm tra hoặc đổi bài cho bạn để tự kiểm tra.
13
chúng tôi tiến hành dự giờ các tiết dạy học Luyện từ và câu khối lớp 5 để đưa ra
nhận xét về thực trạng dạy học luyện từ và câu.
+ Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện.
14
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu.
+ Phương pháp trắc nghiệm, thống kê.
1.2.2. Kết quả khảo sát
1.2.2.1. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 5
Chương trình Luyện từ và câu lớp 5 gồm 64 tiết ( học kì 1: 34 tiết; học kì 2:
30 tiết) mỗi tuần có hai tiết gồm các nội dung:
- Từ đồng nghĩa, mở rộng vốn từ, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, đại
từ, đại từ xưng hô, quan hệ từ, từ loại, câu, nối các vế câu, liên kết câu, dấu câu.
Hình thức luyện tập mở rộng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài
tập mở rộng vốn từ đa dạng, chủ điểm mở rộng hơn các lớp dưới, vốn từ ngữ
nhiều hơn:
+ Bài tập về tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ đồng âm
+ Bài tập tìm hiểu, nắm ngữ nghĩa của từ
+ Bài tập quản lí, phân loại vốn từ
- Từ loại: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. Đại
từ, đại từ xưng hô. Quan hệ từ.
- Về kiểu câu: Câu ghép, các nối các vế câu ghép, nối câu ghép bằng quan
hệ từ. Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng.
Hình thức luyện tập về câu thông qua các dạng bài tập:
+ Trả lời câu hỏi
+ Tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi
+ Đặt câu với từ ngữ
- Dấu câu: Ôn tập về dấu câu ( dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than).
Ôn tập về dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang.
đó đưa ra kết luận tổng kết học sinh tiếp thu một cách thụ động. Các em không
tự mình tìm tòi khám phá cái mới, việc lĩnh hội tri thức của học sinh bị phụ
thuộc nặng nề vào quá trình giảng dạy của giáo viên. Mặc dù các giáo viên
cũng đã được tham gia vào các đợt tập huấn về giảng dạy, chuyên môn tuy
nhiên việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy các môn
học nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng chưa phổ biến (chỉ một số
lớp, một số giáo viên áp dụng). Đặc biệt là việc áp dụng các phương pháp dạy
học tích cực vào giảng dạy phân môn Luyện từ và câu để mở rộng vốn từ còn
rất hạn chế, nếu có hình thức vẫn đơn giản, hiệu quả chưa cao. Việc tổ chức
16
dạy học Luyện từ và câu chưa có nhiều sáng tạo đa phần là dập khuân, máy
móc. Hơn nữa việc phát âm của giáo viên chưa được chuẩn dẫn đến hạn chế về
dùng từ, đặt câu của học sinh.
Về thực trạng dạy học Luyện từ và câu lớp 5 của giáo viên Trường Tiểu
học Điền Quang II Huyện Bá Thước - Tỉnh Thanh Hóa, qua thực tiễn khảo sát
2/2 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy khối 5 trong trường, các giáo viên chuyên
môn khác chúng tôi thu được các kết quả như sau:
Bảng 1: Khó khăn khi dạy Luyện từ và câu
Khó khăn
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Mở rộng vốn từ
2/2
50%
Thỉnh thoảng
1/2
50%
Không bao giờ
0/2
0%
Bảng 3: Mức độ tham gia các phương pháp học tập của học sinh
Mức độ
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Rất tích cực
0/2
0%
Tích cực
2/2
100%
HS không nắm được gì
0/2
0%
Bảng 5: Khó khăn trong từng bài cụ thể để đưa ra phương pháp.
Khó khăn
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Dạy kiến thức
1/2
50%
Kiểm tra đánh giá
1/2
50%
Số lượng GV khảo sát
Tốt
0/3
0%
Tương đối tốt
1/2
50%
Chưa tốt
1/2
50%
Bảng 8: Học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn ở phần nào khi học Luyện từ và
câu
Khó khăn
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Dùng từ, đặt câu
0/2
50%
HS nắm tương đối tốt
1/2
50%
HS không nắm được gì
0/2
0%
Qua các bảng trên chúng tôi thấy rằng các thầy/cô đã sử dụng các phương
pháp học tập vào dạy Luyện từ và câu nhưng chưa thường xuyên (bảng 2), khi tổ
chức các phương pháp giáo viên chưa tạo được sự thích thú đối với học sinh nên
các em tham gia vẫn chưa tích cực (bảng 3) và các em chưa thật sự nắm tốt bài
(bảng 4).
Các giáo viên khi tham gia trực tiếp giảng dạy đều thấy khó ở phần mở
rộng vốn từ cả về việc giảng dạy lẫn việc tiếp thu của học sinh vì vốn từ của các
em còn rất là hạn chế và việc dùng từ đặt câu của các em cũng chưa tốt (bảng 1,
bảng 6, bảng 7, bảng 8).
Và chúng tôi đưa ra một câu hỏi: “Thầy/cô đã sử dụng những biện pháp
nào để nâng cao hiệu quả khi giảng dạy Luyện từ và câu ?”
Cô Bùi Thị Toàn chia sẻ với chúng tôi một số kinh nghiệm của mình:
"Chúng tôi đã sử dụng một số biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy Luyện
từ và câu như: sử dụng trò chơi, sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng công nghệ
thông tin…"
Thông qua việc điều tra tìm hiểu thực tế tại trường chúng tôi được biết: