một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học chương oxi lưu huỳnh lớp 10 với đối tượng học sinh trung bình yếu - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DẠY HỌC HÓA HỌC
CHƯƠNG OXI-LƯU HUỲNH LỚP 10
VỚI ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH
TRUNG BÌNH-YẾU

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Trịnh Văn Biều
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Ngọc Thẩm

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05/2013


2

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của quí
thầy cô giáo, sự hỗ trợ của các bạn và các em học sinh rất nhiều. Bằng tấm lòng trân
trọng và biết ơn sâu sắc của mình tôi xin chân thành cảm ơn:
− Thầy Trịnh Văn Biều-người Thầy trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong học
tập, những khó khăn trong khi làm khoá luận này.
− Tất cả các thầy cô đã giảng dạy trong quá trình học tập của tôi, thầy cô đã
cung cấp nhiều kiến thức và tư liệu để tôi có thể hoàn thành khoá luận.
− Các bạn trong lớp và các em học sinh ở các trường THPT đã hỗ trợ cho tôi có

lớp 10 ban cơ bản cho HS TBY ..................................................................... 49
2.2. Một số dạng bài tập chương Oxi-Lưu huỳnh ........................................ 95
2.3. Một số giáo án có sử dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản ........................ 110

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..................................... 136
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 136
3.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................... 136
3.3. Tiến hành thực nghiệm......................................................................... 136
3.4. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 139

KẾT LUẬN ...................................................................................... 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 150


4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BP

:

Biện pháp

BTVN

:

Bài tập về nhà


ĐTB

:

Điểm trung bình

e

:

Electron

G

:

Giỏi

GV

:

Giáo viên

HS, hs

:

Học sinh


PTN

:

Phòng thí nghiệm

PTPƯ

:

Phương trình phản ứng



:

Phản ứng

SĐTD

:

Sơ đồ tư duy

sgk

:

Sách giáo khoa



5

TNKQ

:

Trắc nghiệm khách quan

TNSP

:

Thực nghiệm sư phạm

VD

:

Ví dụ

Y

:

Yếu


6



7

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin (CNTT) thì
giáo dục đang có những bước tiến đạt hiệu quả cao trong dạy học. Điển hình tại thành
phố Hồ Chí Minh, nhà trường được trang bị các phương tiện dạy học hiện đại, cơ sở
vật chất (máy chiếu, tivi, máy tính…), GV có điều kiện trao dồi, mở rộng thêm vốn
kiến thức (chuyên môn, tin học, anh văn…) để có thể áp dụng vào dạy học như GV có
thể thiết kế giáo án điện tử, làm clip thí nghiệm ảo… HS có thể lên mạng tìm kiếm
thông tin cần thiết khi giáo viên yêu cầu hay tự học ở nhà…
Với sự tiến bộ của khoa học ngày nay thì các em học sinh hoàn toàn có khả năng tự
học ở nhà để nâng cao kiến thức của mình cũng như tìm tòi khám phá thêm những
điều thú vị của cuộc sống. Để phát huy tốt tính tự giác học tập (tự học) ở học sinh thì
giáo viên cũng cần có các biện pháp dạy học thích hợp như hướng dẫn học sinh lên
internet tìm kiếm thông tin bổ ích mở rộng kiến thức sách giáo khoa… Phương pháp
này có lẽ sẽ rất thú vị đối với những học sinh khá giỏi nhưng đối với học sinh trung
bình yếu thì sẽ không đạt hiệu quả cao.
Vậy làm thế nào để tăng tích tích cực, cải thiện chất lượng học tập của những học
sinh trung bình - yếu này? Nó đang là một trong những trăn trở của ngành giáo dục
nước ta hiện nay. Chính vì lý do này, em chọn đề tài là “Một số biện pháp nâng cao
hiệu quả dạy học hóa học chương Oxi-Lưu huỳnh lớp 10 với đối tượng học sinh
trung bình - yếu”.
Em hy vọng rằng đề tài này sẽ giúp nâng cao hiệu quả dạy học đối với các em học
sinh trung bình yếu, tạo được sự hứng thú của các em trong khi học môn hóa học này.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học chương Oxi-Lưu
huỳnh lớp 10 với đối tượng học sinh trung bình yếu.


Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp

đã đề xuất.

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học

chương Oxi-Lưu huỳnh lớp 10 dành cho học sinh trung bình yếu.
-

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở trung học phổ thông (THPT).

5. Phạm vi nghiên cứu
-

Về nội dung: Kiến thức chương Oxi-Lưu huỳnh lớp 10 hóa học trung học phổ

thông ban cơ bản.
-

Về địa bàn: Một số trường THPT trong Tp.HCM.

-

Thời gian: Tháng 2 - 4/2013

6. Giả thuyết khoa học

Tổ chức nhóm học cùng tiến

-

Có sự kiên nhẫn với học sinh

-

Hệ thống hoá kiến thức

-

Hệ thống bài tập (có hướng dẫn mẫu)

-

Giúp học sinh có phương pháp tự học SQ3R


10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhận thấy được tầm quan trọng của việc lấy lại kiến
thức căn bản cho học sinh trung bình yếu, có một số đề tài đã được nghiên cứu để nâng
cao hiệu quả dạy học cho nhóm đối tượng học sinh này như:
-

Đặng Thị Duyên (2011), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học chương



Nguyễn Chí Linh (K17), Sử dụng bài tập phát triển tư duy rèn trí thông minh

cho HS trong dạy học Hoá học ở trường THPT, Luận văn Thạc sỹ-ĐHSP TPHCM.
-

Nguyễn Nữ Hoàng Duyên (2004), Giúp học sinh trí nhớ có hiệu quả trong dạy

học chương “Oxi-Lưu huỳnh” lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp- ĐHSP.
-

Phan Thị Thuý Nguyên (K18), Thiết kế giáo án dạy học theo nhóm môn hoá 9

THCS, Luận văn Thạc sỹ-ĐHSP TPHCM.
-

Nguyễn Thị Hương Thuỳ (2005), Phương pháp dạy học nâng cao hiệu quả tự

học môn Hoá của học sinh phổ thông, khoá luận tốt nghiệp-ĐHSP TPHCM.
Nhìn chung các tác giả đã đưa ra rất nhiều biện pháp phong phú, đa dạng để bồi


11

dưỡng học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học. Tuy nhiên trong các đề tài theo hướng
nghiên cứu trên vẫn còn ít, ít đi sâu nghiên cứu từng chương cụ thể, chưa đưa ra các
bài tập cụ thể cho các chương.

1.2. Nâng cao hiệu quả dạy học
1.2.1. Khái niệm


ion dương.
-

Bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa (giúp học sinh biết xác định vị trí

của nguyên tử các nguyên tố, nguyên tử khối, độ âm điện, năng lượng ion hóa...vv).


12

-

Phản ứng oxi hóa khử (để giải bài toán có cân bằng phản ứng, học sinh phải biết

cân bằng phản ứng hóa học và quan trọng là phản ứng có sự thay đổi số oxi hóa).
-

Tính chất vật lý, tính chất hóa học, điều chế của các chất như nhóm halogen,

oxi...H 2 SO 4 (để HS giải được các bài tập liên quan).

1.2.2.2. Hứng thú học tập [5]
a. Khái niệm hứng thú
Theo Từ điển tiếng Việt - Nhà xuất bản Xã hội 1992: “Hứng thú là sự ham thích,
hào hứng với công việc”.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt 1999: Hứng thú có hai nghĩa: “biểu hiện của một nhu
cầu, làm cho chủ thể tìm cách thoả mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh
lực để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích”.
Hứng thú nhận thức là xu hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào lĩnh vực nhận

Hứng thú làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ (quy luật hướng đích và quy luật ưu tiên).
Hứng thú tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động. Theo
Alecxêep: “Chỉ có hứng thú đối với một hoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động
ấy được tích cực.”
Hứng thú là động cơ chiếm ưu thế trong hoạt động hàng ngày của con người. Hứng
thú là hệ động cơ duy nhất có thể duy trì được công việc hàng ngày một cách bình
thường. Hứng thú ảnh hưởng đến tính chất, diễn biến và kết quả của hoạt động. Hứng
thú làm cho hiệu quả của hoạt động được nâng cao.
Cảm xúc hứng thú tham gia điều khiển tri giác và tư duy. Hứng thú điều khiển hoạt
động định hướng. Chính cảm xúc hứng thú cùng với các cấu trúc và định hướng nhận
thức quyết định phương hướng của tri giác, nhận thức và hành động.
Hứng thú tạo cơ sở động cơ cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo. Hứng thú có vai
trò trung tâm trong các hoạt động sáng tạo.
Hứng thú là hệ động cơ cực kỳ quan trọng trong sự phát triển các kỹ năng, kỹ xảo
và trí tuệ.
Hứng thú rất cần thiết với sự phát triển nhân cách, phát triển tri giác và nhận thức.
Hứng thú có vai trò quan trọng trong sự phát triển cuộc sống xã hội và duy trì các
quan hệ giữa các cá nhân. Hứng thú cũng giúp duy trì các quan hệ tình dục và gia đình.
c. Một số biện pháp gây hứng thú trong dạy học
• Gây hứng thú bằng cái mới lạ:
-

Những điều mới lạ, những khác biệt với cái thông thường của nội dung kiến

thức.
- Cách nhìn mới đối với kiến thức. Một kiến thức quen thuộc nhưng có thể phát
hiện ra trong đó những nét mới nếu chúng ta quan sát nó dưới một góc độ khác, một
cách nhìn khác, hoặc nghiên cứu nó một cách sâu sắc hơn.
-



Gây hứng thú bằng sự thỏa mãn nhu cầu, đem lại cảm giác thú vị, dễ chịu.



Gây hứng thú bằng cách tác động vào ý thức, tình cảm.
-

Cảm xúc và thái độ của giáo viên.

-

Quan hệ thày - trò, trò – trò.

1.2.2.3. Trí nhớ
a. Khái niệm trí nhớ
“Trí nhớ: khả năng lưu giữ trong óc những điều đã biết, đã trải qua, có thể nhắc lại,
nói lại được”. Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên [26].
“Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình
thức biểu tượng bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo sau đó ở trong óc cái mà con
người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây.”Tâm lý học
Đại cương– Phạm Minh Hạc chủ biên [10].
“Trí nhớ là năng lực tái hiện kinh nghiệm đã qua, một trong các tính chất cơ bản
của hệ thần kinh, biểu hiện ở khả năng lưu giữ lâu dài thông tin về các sự kiện của thế
giới bên ngoài và các phản ứng của cơ thể, nhiều lần đưa thông tin đó vào phạm vi ý
thức và hành vi.”Đại Bách khoa toàn thư Xô viết - Phát triển trí nhớ của học sinh phổ
thông - Nia Tsut-co.


15

trọng. Trí nhớ có thể học tập và rèn luyện được.
c. Các quy luật trí nhớ
PGS.TS. Trịnh Văn Biều trong tài liệu “Các phương pháp dạy học hiệu quả” [5]
đã tổng kết 5 quy luật của trí nhớ. Các quy luật này có rất nhiều ứng dụng trong dạy
học, giáo viên có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả bài lên lớp.
 Quy luật hướng đích
Muốn ghi nhớ tốt cần tập trung sự chú ý vào một mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Chú ý là
tập trung tinh thần vào một đối tượng rõ ràng nhất định. Đỉnh điểm của chú ý là sự tập
trung tinh thần. Tập trung tinh thần là để cho óc ngừng lâu trên một hình ảnh độc nhất.


16

Tập trung tinh thần không làm mệt mỏi toàn bộ trí óc mà chỉ một phần trí óc bị ảnh
hưởng bởi sự tập trung ấy.
Ví dụ: Người ta đã làm thí nghiệm cho học sinh A đọc một bài văn dài nửa trang
cho 10 học sinh khác. 10 học sinh này có nhiệm vụ phải thuộc để đọc lại cho cả lớp
nghe. A đọc từ 15 đến 20 lần và 10 học sinh kia đã thuộc bài. Nhưng A thì lại không
thuộc (vì A có tích cực đọc nhưng không có chủ định nhớ).
 Quy luật ưu tiên
Sự ghi nhớ có chọn lọc theo mức độ ưu tiên khác nhau tùy đặc điểm từng tài liệu.
-

Bao giờ thì hình ảnh cụ thể cũng dễ nhớ hơn ngôn từ trừu tượng.

-

Sự việc, hiện tượng càng hấp dẫn, sinh động, gây hứng thú, để lại ấn tượng sâu

sắc trong tâm trí thì càng dễ hình dung và hoài niệm lại.

+ Các vật có tính chất tương tự hay tương phản nhau.
+ Các vật gần nhau về thời gian và không gian.
+ Các vật có mối quan hệ phụ thuộc, ngang hàng hay giao nhau.
-

Phân loại

Chúng ta sẽ rất khó nhọc khi phải ghi nhớ điều gì phi lý và hỗn độn. Phân loại là
sắp các vật, các vấn đề ra từng hạng cho có trật tự, tuỳ theo những điểm tương cận của
chúng. Trí nhớ dễ ghi nhận những vấn đề được sắp xếp theo trật tự hợp lý, bởi vì trật
tự hợp lý khiến ảnh tượng này phải khêu gợi ảnh tượng kia, ý này nhắc nhở ý khác.
Ví dụ: Học thuộc một bài học có dàn bài chi tiết rõ ràng, trật tự thì nhanh hơn một
bài có dàn bài không rõ ràng, chi tiết.
 Quy luật lặp lại
Muốn nhớ điều gì phải lặp đi lặp lại thật nhiều lần. Ôn tập là mẹ của trí nhớ. Cách
tốt nhất để ghi nhớ là lặp đi lặp lại.
Sự lặp lại là một phương pháp rất hiệu quả trong việc bảo tồn trí nhớ, nó là một
điều kiện thiết yếu nếu muốn tạo được một ký ức máy móc.
Ví dụ: Đối với trẻ nhỏ, để giúp các em nhớ được chữ cái, đọc được vần, thầy cô
thường xuyên lặp đi lặp lại các chữ đó và cho các em ê a đọc theo, tác dụng rất có hiệu
quả.
 Quy luật kìm hãm
Sự ghi nhớ sau bao giờ cũng làm suy giảm sự ghi nhớ trước:
-

Cần quên đi những gì không cần thiết bằng cách không nhắc lại, gợi lại.

-

Cần xác định rõ mức độ cần ghi nhớ với mỗi tài liệu (dài hạn, ngắn hạn hoặc


đích học tập của học sinh, làm cho nội dung đó trở thành mục đích của hành động,
hình thành được nhu cầu, hứng thú của học sinh với tài liệu đó.
 Sử dụng tối đa các giác quan
-

Thị giác là quan trọng nhất vì dễ tạo biểu tượng bằng hình ảnh.

-

Sử dụng sơ đồ, mô hình, hình vẽ, thí nghiệm…. để chuyển những vấn đề trừu

tượng thành hình ảnh cụ thể.
 Đọc to, đọc thầm hoặc viết ra giấy khi học thuộc lòng
Học thuộc lòng: Nên kết hợp ghi nhớ có ý nghĩa với ghi nhớ máy móc, nghĩa là ghi
nhớ trên cơ sở thông hiểu tài liệu. Các lợi ích của học thuộc lòng:
-

Nhanh chóng nhớ lại được kiến thức lúc cần sử dụng.

-

Giúp ta nhớ được những gì khó ghi nhất.

-

Là cách tập dượt khả năng ghi nhớ, khiến cho trí nhớ nhạy bén hơn.

 Tạo thật nhiều mối liên hệ
-


Em

Phải

Bón

Phân

Hóa

Học



 Lặp đi lặp lại thật nhiều lần
-

Nhắc lại ngay trong bài giảng,sau mỗi bài, mỗi chương.

-

Thực hiện tốt khâu củng cố.

-

Ôn luyện thường xuyên những kiến thức quan trọng.

Ngoài


1.2.3. Phương pháp dạy học
1.2.3.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy
và người học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học. Đó là sự kết hợp hữu cơ và
thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học. Phương
pháp dạy và phương pháp học có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập.
Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng bao gồm: Phương tiện dạy học, hình thức tổ
chức dạy học, phương pháp dạy học theo nghĩa hẹp.
1.2.3.2. Các phương pháp dạy học tích cực
Theo PGS.TS. Trịnh Văn Biều [5], các phương pháp dạy học tích cực có những
đặc trưng cơ bản sau:
 Đặt trọng tâm vào hoạt động của người học
Trong dạy học tích cực, người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy
học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động.
Người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động
"học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông
qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu


20

những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, người học
chủ động quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy
nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức mới.
 Coi trọng hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên
Trong dạy học tích cực, giáo viên chủ yếu giữ vai trò cố vấn, khích lệ, điều chỉnh,
giáo viên không làm hộ, chỉ rõ ngay cách học, cách làm. Từ dạy và học thụ động sang
dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt
kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để học sinh tự

Biết một số thủ thuật và phép biến đổi toán học, cách giải phương trình và hệ phương
trình bậc 1, 2 ...
1.2.4. Phương tiện dạy học [5]
Cùng với phương pháp dạy học, phương tiện dạy học cũng có ảnh hưởng rất lớn
đến kết quả dạy học.
1.2.4.1. Khái niệm và phân loại phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất (sách vở, đồ dùng, máy
móc, thiết bị …) dùng để dạy học. Các phương tiện dạy học bao gồm:
- Sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo.
- Các đồ dùng dạy học.
- Các phương tiện kĩ thuật dạy học.
- Các thí nghiệm.
1.2.4.2. Sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo
Đây là loại phương tiện dạy học có từ rất lâu. Chúng có tầm quan trọng đặc biệt,
luôn được các nhà giáo dục và giáo viên quan tâm nghiên cứu, cải tiến để ngày một
hoàn thiện. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của tin học thì tài liệu tham khảo của
giáo viên và học sinh không chỉ bao hàm các ấn phẩm mà còn rất nhiều nguồn cung
cấp thông tin khác. Có thể kể ra một số dạng sau:
- Sách giáo khoa (dùng cho học sinh và giáo viên).
- Sách giáo viên (có tác dụng hướng dẫn, cung cấp thêm tư liệu dạy học …).
- Sách tham khảo.
- Tạp chí chuyên đề.
- Sách báo các loại.


22

- Thư viện điện tử.
- Các thông tin trên mạng internet …

- Nâng cao hiệu quả dạy học, học sinh dễ hiểu bài, nhớ lâu.
1.2.5. Bài tập và việc sử dụng bài tập
1.2.5.1. Khái niệm về bài tập hóa học
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt [26] “Bài tập là những bài ra cho học sinh để tập vận
dụng những điều đã học”.
Bài tập hóa học chính là những bài tập có nội dung liên quan đến hóa học. Nội
dung của bài tập hóa học thông thường bao gồm những kiến thức chính yếu trong bài
giảng. Bài tập hóa học có thể là những bài tập lý thuyết đơn giản chỉ yêu cầu học sinh
nhớ và nhắc lại những kiến thức vừa học hoặc đã học xong nhưng cũng có thể là
những bài tập tính toán liên quan đến cả kiến thức hóa học lẫn toán học, đôi khi bài tập
còn là những bài toán tổng hợp yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức đã
học từ trước kết hợp với những kiến thức vừa học để giải. Tùy theo mục đích của từng
bài học mà bài tập được xây dựng dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau.


23

1.2.5.2. Tác dụng của bài tập hóa học
Giải bài tập hóa học chính là một trong những phương pháp tích cực nhất để kiểm
tra khả năng tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh. Thông qua bài tập, giáo viên có
thể phát hiện những thiếu sót, những hạn chế, khiếm khuyết trong kiến thức cũng như
kĩ năng của học sinh, từ đó có biện pháp để khắc phục, rèn luyện kịp thời. Do đó, bài
tập hóa học có những tác dụng lớn sau:
a. Làm rõ và khắc sâu kiến thức đã học
Thông qua việc giải các bài tập hóa học, học sinh sẽ nhớ lại các tính chất của chất,
các phương trình phản ứng xảy ra, các khái niệm, nguyên lý và định luật hóa học.
Những kiến thức chưa được vững, chưa được nắm kĩ thông qua việc giải bài tập sẽ
giúp học sinh hiểu sâu hơn và nhớ lâu hơn.
b. Hệ thống hóa kiến thức đã học
Phần lớn bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học của

f. Giáo dục đạo đức tư tưởng
Khi giải bài tập học sinh đã được rèn luyện về tính kiên nhẫn, tính sáng tạo khi xử
trí các vấn đề xảy ra. Mặt khác, việc tự mình giải các bài tập hóa học thường xuyên
cũng góp phần rèn luyện cho học sinh tinh thần kỉ luật, tính tự kiềm chế, cách suy nghĩ
và trình bày chính xác, khoa học, qua đó nâng cao lòng yêu thích bộ môn.
g. Giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Riêng đối với bộ môn hóa học thì đã có nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp, còn
bài tập hóa học thì tạo điều kiện tốt cho nhiệm vụ giáo dục này phát triển vì những vấn
đề kĩ thuật của nền sản xuất được biến thành nội dung của các bài tập hóa học.
Bài tập hóa học còn cung cấp những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao
động, về sản lượng mà ngành sản xuất hóa học đạt được giúp học sinh hòa nhịp với sự
phát triển khoa học kĩ thuật của thời đại mình đang sống.

1.2.6. Kiểm tra đánh giá [6]
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập
của học sinh, đặc biệt là học sinh trung bình - yếu.

1.2.6.1. Chức năng của kiểm tra
Kiểm tra - đánh giá gồm nhiều chức năng bộ phận liên kết thống nhất với nhau,
thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau.
a. Chức năng phát hiện, điều chỉnh


25

Thông qua việc tiến hành kiểm tra đánh giá giáo viên phát hiện được thực trạng kết
quả học tập của học sinh cũng như những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thực trạng này.
Cụ thể là:
-


năng, kỹ xảo …
Qua kiểm tra – đánh giá học sinh được tập dượt trình bày tri thức của mình (bằng
ngôn ngữ nói hay viết) một cách nhất quán, hệ thống. Khi đó tri thức được diễn đạt
bằng ngôn ngữ của bản thân, đảm bảo cho chúng được lĩnh hội một cách vững chắc.
Như vậy, kiểm tra – đánh giá kết quả học tập giúp học sinh có cơ hội củng cố kiến


Trích đoạn Đối tượng thực nghiệm Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status