CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên
: Vương Thị Ánh
Ngày, tháng, năm sinh: 11 – 05 – 1973
Năm vào ngành
: 1993
Chức vụ
: Giáo viên
Đơn vị công tác
: Trường Tiểu học Xuân La
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm
Khen thưởng: - Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.
- Giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố năm học 2008 – 2009.
- SKKN đạt loại C cấp ngành năm học 2008 – 2009.
1
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
vận dụng kiến thức toán học vào thực tế cuộc sống, phát triển ở học sinh những
kĩ năng, năng lực để các em trở thành con người có khả năng hành động và giải
quyết mọi vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Xuất phát từ tình hình thực tế cũng như những nhận thức sâu sắc, tầm
quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã tiến hành nghiên cứu,
thực hiện đề tài:
“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các phép tính ở lớp 2”
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
- Xác định những nội dung kiến thức cơ bản khi dạy học các phép tính ở
lớp 2.
- Tìm các biện pháp giúp học sinh nắm chắc cách thực hiện các phép tính,
để tránh những sai lầm cơ bản khi thực hiện phép tính.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Tài liệu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 2.
- Phương pháp dạy học toán bậc tiểu học.
- Tiến hành điều tra xem xét: thông qua sự trao đổi với bạn bè, đồng
nghiệp, với tổ chuyên môn, với các em học sinh,...
- Thực nghiệm trên học sinh lớp 2 tại trường Tiểu học Xuân La để bước
đầu kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài.
IV. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN.
Đề tài được thực hiện tại lớp 2A1 Trường Tiểu học Xuân La trong năm
học 2011- 2012. (từ tháng 9 năm 2011 – tháng 3 năm 2012)
3
PHẦN 2. NỘI DUNG
A. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LÀM CƠ SỞ CHO ĐỀ TÀI.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở
TIỂU HỌC
a. Học cá nhân:
Trước mỗi hoạt động học (học bài mới, thực hành, luyện tập) giáo viên
có thể hướng dẫn bằng lời (nói ngắn gọn, rõ ràng) hoặc bằng viết (nêu trong
phiếu giao việc, phiếu học toán).
Học sinh tự học theo hướng dẫn của giáo viên với sự hỗ trợ của phiếu
học tập, đồ dùng học toán, sách giáo khoa để chiếm lĩnh tri thức thức mới, để
luyện tập, thực hành theo khả năng cá nhân, để tự kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập.
Trong quá trình học của cá nhân, học sinh có thể hỏi ý kiến, trao đổi riêng
ý kiến với giáo viên. Giáo viên có thể đến chỗ ngồi của mỗi học sinh để theo
dõi, hướng dẫn kiểm tra, trao đổi ý kiến. Khi cần thiết, giáo viên có thể cho một
nhóm học sinh hoặc cả lớp học sinh tạm ngừng hoạt động để trao đổi chung, để
báo cáo kết quả, để nhắc nhở hoặc hướng dẫn chung.
b. Học theo nhóm.
Cách chia nhóm : Có thể chia nhóm trong dạy học Toán tuỳ theo nội
dung và tính chất của bài học:
Nhóm hỗn hợp (bao gồm cả học sinh giỏi, học sinh khá, trung bình ). Loại
nhóm này thường gọi là nhóm học tập và thường hoạt động trong các tiết học
Toán để giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết.
Nhóm theo sở trường (Chỉ dành cho đối tượng đặc biệt trong các tiết hoạt
động ngoại khoá, tự chọn về Toán): Chẳng hạn nhóm học sinh tham gia các lớp
bồi dưỡng học sinh giỏi Toán hoặc nhóm học sinh có khả năng học toán tốt.
Hoạt động chủ yếu:
Theo hướng dẫn của giáo viên, các nhóm trưởng tổ chức các hoạt động
của nhóm: thực hành, luyện tập theo sự phân công của nhóm trưởng, thảo luận
nhóm để tìm cách giải quyết từng vấn đề của tiết học.
Nên phối hợp học nhóm với học cá nhân, đặc biệt khi cần giải quyết
những vấn đề của học sinh, đánh giá những vấn đề mới.
c. Học theo lớp:
Hoạt động chủ yếu: Thực hiện một số hoạt động của lớp như: nghe giáo viên
1000, phép cộng, phép trừ các số có 3 chữ số (không nhớ).
b. Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành về: cộng và trừ có nhớ trong
phạm vi 100, nhân và chia trong phạm vi các bảng tính, giải một phương trình
đơn giản dưới dạng bài “ Tìm x “, (tính giá trị biểu thức dạng đơn giản), bước
6
đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và
bài thực hành, tập dượt so sánh, lựa chọn phân tích, tổng hợp, trìu tượng hoá,
khái quát hoá, phát triển trí tưởng tượng trong quá trình áp dụng các kiến thức
và kĩ năng trong học tập và trong đời sống.
c. Tập phát hiện, tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo mức độ của lớp 2,
chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành Toán.
2. Nội dung dạy học các phép tính ở lớp 2
a. Dạy học phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100
Giới thiệu tên gọi thành phần và kết quả của phép cộng (số hạng, tổng ),
phép trừ (số bị trừ, số trừ, hiệu )
Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 20
Phép cộng và phép trừ không nhớ hoặc có nhớ trong phạm vi 100. Tính
nhẩm và tính viết.
Tính giá trị biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ.
Giải bài tập dạng “ Tìm x, biết: a + x = b, x – a = b, a – x = b với a, b là
các số có đến 2 chữ số” bằng sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả
của phép tính.
b. Các số đến 1000. Phép cộng, phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 1000
Đọc, viết, so sánh các số có 3 chữ số. Giới thiệu hàng đơn vị, hàng chục,
hàng trăm.
Phép cộng các số có đến 3 chữ số, tổng không quá 1000, không nhớ, tính
nhẩm và tính viết.
Phép trừ các số có đến 3 chữ số không nhớ. Tính nhẩm và tính viết.
cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100, có nhớ khi cộng trừ (không nhớ) trong phạm
vi 1000… Đi vào tìm hiểu vấn đề, tôi thấy nguyên nhân của tình trạng trên là do
các nguyên nhân khách quan như: Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh, điều kiện
học tập của các em chưa đầy đủ, phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của
các em hoặc quan tâm chưa đúng cách,...
Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khác như: Giáo viên chưa thực sự
đầu tư thời gian công sức cho hoạt động giảng dạy, còn thiếu tài liệu, thiếu
những thông tin về dạy học theo phương pháp mới.
Từ thực tế trên, tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh làm đúng các phép
tính ở lớp 2 là rất cần thiết. Làm thế nào để khắc phục những hạn chế trên? Tôi
xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:
8
B. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
I. Đối với giáo viên:
1.Giáo viên lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp.
Trước đây, phương pháp giảng dạy: “Người thầy là trung tâm”. Vì vậy,
học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Hiện nay với việc đổi mới
phương pháp dạy học: “Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động
học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” đã giúp cho mọi học sinh tự
phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới là chủ
yếu dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tăng cường thiết lập mối quan hệ giữa
kiến thức mới và kiến thức cũ. Bám sát vào chuẩn kiến thức kĩ năng các môn
học và công văn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học.
Nắm được phương pháp giảng dạy mới, trong mỗi giờ học, giáo viên cần
lựa chọn và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cho phù hợp với tâm lí
lứa tuổi và tình hình thực tế của lớp mình để tiết học diễn ra nhẹ nhàng, học sinh
hiểu bài tốt.
2. Gây hứng thú ở học sinh
tìm hiểu, lĩnh hội, tự chiếm lĩnh kiến thức. Bởi vậy, yêu cầu trước tiên khi sử
dụng đồ dùng học Toán là phải cho học sinh tự sử dụng để học Toán với sự
hướng dẫn đúng mức của giáo viên.
4. Giáo viên đưa ra các tình huống trong tiết học Toán.
Khi dạy các phép tính, việc làm đầu tiên là giáo viên đưa ra các tình
huống. Việc đưa ra các tình huống nhằm khơi gợi trí tò mò của học sinh. Hướng
dẫn các em vào nội dung bài học. Có nhiều cách để giáo viên đưa ra các tình
huống.
a. Đưa tình huống thông qua các bài toán:
Đây là cách làm phổ biến khi dạy các phép tính ở lớp 2.
Giáo viên đưa ra bài toán dẫn. Việc học sinh đi tìm lời giải cho bài toán là các
em tìm hiểu nội dung bài học.
Ví dụ:
Bài: 32 - 8
Khi dạy bài này giáo viên đưa ra bài toán: “ Cô có 32 que tính. Sau đó cô
bớt đi 8 que tính. Hỏi cô còn lại bao nhiêu que tính ?”
Giáo viên gợi mở cho học sinh bằng việc đưa ra các câu hỏi:
Ban đầu cô có bao nhiêu que tính ? (Học sinh nêu: Cô có 32 que tính )
10
Cô bớt đi mấy que tính ? (Học sinh nêu: Cô bớt đi 8 que tính .)
Để biết còn lại bao nhiêu que tính con phải làm gì ? (Học sinh nêu: Thực
hiện phép trừ: 32 - 8)
Vậy là từ bài toán dẫn, giáo viên đã hướng học sinh vào bài học là thực
hiện phép tính 32 – 8.
b. Đưa tình huống thông qua hình vẽ.
Đây là cách đưa tình huống trực quan và dễ hiểu nhất bởi các em được
+ Sau đó học sinh cắt tờ bìa làm hai phần: một phần có 6 ô vuông, một
phần có 4 ô vuông. Học sinh đố tiếp các bạn: Từ tờ bìa này tôi chia thành hai
phần, phần con lại là 6 ô vuông. Vậy đố các bạn mình đã cắt bỏ đi mấy ô vuông?
Bằng câu đố của mình, bạn học sinh đã lôi cuốn cả lớp vào nội dung bài học.
Với việc tìm số ô vuông cắt đi chưa biết, giáo viên giúp học sinh đó chính là tìm
thành phần “Số trừ” trong phép trừ.
5. Ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong các giờ học Toán.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đổi mới phương pháp
dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất. Do đặc điểm
tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học các em luôn thích những cái mới, cái lạ nên
bằng những hình vẽ sinh động, những hiệu ứng đơn giản sẽ thu hút sự chú ý vào
bài giảng của giáo viên từ đó tạo cho các em sự thích thú trong việc khám phá
kiến thức. Tùy vào từng bài mà giáo viên có những cách áp dụng CNTT khác
nhau.
Ví dụ : Bảng nhân 2
* Hướng dẫn học sinh lập bảng nhân 2 (lấy 2 nhân với một số)
Áp dụng CNTT, trình chiếu trên powerpoint:
- GV nêu bài toán và đưa hình ảnh và yêu cầu HS nêu phép tính. Cứ tiếp tục như
vậy với 2 phép tính tiếp theo. Các phép tính còn lại GV yêu cầu HS sử dụng
BĐD để tìm kết quả. Khi học sinh báo cáo kết quả GV đưa kết quả lên có đổi
màu kết quả phép tính.
- Hướng dẫn HS học thuộc bảng nhân 2: GV lần lượt thay đổi kết quả của phép
tính bằng các bông hoa. Yêu cầu HS nêu bảng nhân 2. Tiếp tục thay đổi một số
số ở thừa số thứ nhất và thừa số thứ hai để kiểm tra việc học thuộc bảng nhân 2
của học sinh. => Việc thay đổi màu và thay đổi các số bằng hình ảnh các bông
hoa tạo hứng thú cho HS kích thích trí tò mò và từ đó HS cố gắng thuộc bài tại
lớp.
12
+
Có kết quả là:
A. 51
+ 50
23
70
47
14
B. 61
C. 33
D. 21
C. 53
D. 73
b. Kết quả của phép cộng:
44 + 9 = …
là: A. 43
B. 33
b/ Tổ chức cho học sinh thực hành nhiều trước lớp:
Đối với những học sinh nhận thức chậm, hay mắc các sai lầm nói trên, tôi
từng que tính cho đến khi bớt được 5 que tính. Tiếp theo các em đếm số que tính
còn lại và tìm được còn lại là 6 que tính.
Cách 2:
Học sinh lấy 1 bó que tính và một que tính rời để có 11 que tính. Để bớt 5
que tính, học sinh lấy 1 que tính rời rồi tháo 1 bó một chục que tính lấy tiếp 4
que tính nữa . Học sinh đã tìm được số que tính còn lại là 6 que tính.
14
Sau khi học sinh được thao tác trên đồ dùng là các que tính. Giáo viên để
cho học sinh được mô tả bằng lời các thao tác và kết quả thu được. Giáo viên
tổng kết có nhiều cách làm, các cách làm của các em đều đúng và chọn cách làm
thông thường là cách thứ hai.
Qua thao tác trên que tính, các em biết: “Có 11 que tính bớt đi 5 que tính,
còn lại 6 que tính. Vậy 11 - 5 = 6.”
Tương tự như trên, học sinh tìm được kết quả của các phép trừ:
11 - 2 = 9
11 - 6 = 5
11 - 3 = 8
11 - 7 = 4
11 - 4 = 7
11 - 8 = 3
11 - 5 = 6
không chỉ để “biết” mà học còn để “làm” để “vận dụng” . Khi hướng dẫn học
sinh luyện tập, thực hành giáo viên cần lưu ý:
a. Giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo
khả năng của mình.
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài tập trong sách giáo khoa hay
trong vở , không chữa lướt hay bỏ qua một bài tập nào dù là dễ. Song nói như
vậy không có nghĩa là yêu cầu tất cả các học sinh đều phải làm hết các bài tập.
Nếu bài tập nào các em chưa làm xong, các em sẽ tiếp tục làm trong các tiết
hướng dẫn học.
Đa số các bài tập của Toán lớp 2 là không khó, không phức tạp nhưng
chứa đựng nhiều nội dung ở các mức độ khác nhau. Tuỳ trình độ của học sinh
mà giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác.
Ví dụ:
Bài: 9 cộng cvới một số 9 + 5
Bài 1: Tính nhẩm:
9+3=
9 + 6=
9 + 8=
9 + 7=
9 + 4=
3+9=
6 + 9=
- Em hãy nêu một phép tính tương tự với 2 phép tính trên? ( HS nêu
phép tính và cách thực hiện).
Thực hiện như trên, HS vừa được nêu ý kiến cá nhân, tự tin vào bản thân
khi được nói trước tập thể, vừa có tác dụng củng cố, khắc sâu kiến thức về bảng
công thức : “ 11 trừ đi một số”.
Một hoạt động nữa mà tôi thường xuyên thực hiện trên lớp là tổ chức cho
HS thi đua học tập bằng các hình thức: thi đua giữa cá nhân với cá nhân, thi đua
giữa các tổ, nhóm với nhau. Các bài tập được thiết kế cho HS thi chủ yếu là các
bài tập trắc nghiệm:
+ Thi điền Đ - S vào ô trống bên cạnh phép tính,
+ Thi điền nhanh kết quả phép tính vào chỗ chấm,...
Ngoài ra sau mỗi bài học lý thuyết, tôi đều cho HS thi nhẩm nhanh, thi
đọc thuộc lòng bảng trừ vừa học tại lớp. Sau mỗi lần thi tôi đều có phần thưởng
cho HS. Phần thưởng giành cho mỗi cuộc thi có thể chỉ là một tràng pháo tay,
một chiếc bút chì hoặc một bông hoa,.. nhưng nó đã tạo nên một không khí học
tập vô cùng sôi nổi trong lớp học.
b. Tạo sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh.
Trong tiết học, giáo viên có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm
hay toàn lớp về cách giải quyết một phép tính hay mỗi bài tập, khuyến khích các
em mạnh dạn nêu ý kiến suy nghĩ của mình, nhận xét bài làm của bạn. Từ đó,
các em rút ra kinh nghiệm trong quá trình thảo luận.
17
Ví dụ:
Bài: Bảng nhân 3
Bài 3: Viết số thích hợp vào ô trống
3
c. Khuyến khích học sinh tự đánh giá kết quả thực hành luyện tập của mình.
Để làm được điều này, giáo viên cho học sinh tập sau mỗi phép tính, sau
mỗi bài kiểm tra, bài tập phải tự kiểm tra xem mình làm đã làm đúng chưa bằng
cách thử lại.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài làm của mình hoặc bài bài
làm của bạn bằng cách tự chấm điểm rồi báo cáo lại cho giáo viên. Giáo viên
giúp các em kiểm tra lại kết quả rồi khen ngợi các em biết đánh giá bài chính
xác và động viên, khuyến khích các em chưa đánh giá đúng bài làm của mình để
lần sau các em làm bài tốt hơn. Qua đó, giáo viên giúp học sinh tự nhận thấy và
nêu ra những hạn chế, thiếu sót của mình để các em nhớ và lần sau không mắc
phải.
d. Tập cho học sinh thói quen không tự thoả mãn với bài làm của mình, với
cách giải đã có sẵn.
18
Sau mỗi tiết luyện tập, giáo viên nên tạo cho các em niềm vui, niềm tin vì
các em đã hoàn thành công việc được giao và đạt được những tiến bộ (dù ít)
trong học tập bằng cách cho điểm để khuyến khích, nêu gương, khen ngợi. Nếu
các em gặp khó khăn khi làm bài tôi thường gợi mở, giúp học sinh suy nghĩ, tìm
tòi để tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán.
Ví dụ
Bài: Số 0 trong phép nhân và phép chia.
Bài 5: x, : ?
0
1
Cách chơi:
+ Có 2 đội chơi, mỗi đội có 4 bạn tham gia chơi.
19
+ Các bạn ở dưới là trọng tài và cổ vũ hai đội chơi.
+ Khi giáo viên ra hiệu lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu tiên của mỗi đội lên
điền kết quả của phép tính đầu tiên vào hình vuông rồi nhanh chóng trao phấn
cho bạn thứ hai. Cứ tiếp tục như vậy, bạn thứ tư lên điền kết quả của phép tính
cuối cùng vào ngôi sao. Đội nào điền đúng và nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
Trò chơi:” Làm tính tiếp sức” được các em rất yêu thích. Trò chơi này vừa
tạo hứng thú học tập vừa có tác dụng củng cố cách thực hiện tính
Trò chơi “lắp hình “ có sức hấp dẫn đối với học sinh. Trò chơi giúp các
em phát triển tư duy, óc sáng tạo. đồng thời củng cố các bảng cộng, trừ. Phát
huy tinh thần đoàn kết giữa các học sinh.
Trò chơi “ Thi nối nhanh”
Cách chơi: Hai đội chơi, mỗi đội có 6 bạn.
Khi có hiệu lệnh chơi, bạn thứ nhất của đội sẽ chọn phép tính và kết quả
phù hợp nối với nhau, sau đó trao bút cho bạn thứ hai. Cứ như thế tiếp tục cho
đến bạn cuối cùng.
Đội nào làm đúng và nhanh đội đó sẽ là đội thắng cuộc.
Tham gia vào trò chơi “thi nối nhanh” học sinh sẽ được củng cố và khắc
sâu bảng nhân 3. Đây chính là cách giáo viên ôn tập, hệ thống lại cho học sinh
các kiến thức đã học.
* Những trò chơi mà tôi đã trình bày ở trên đã được áp dụng vào lớp học
một cách hiệu quả. Ngoài ra, tôi còn linh hoạt vận dụng nhiều hình thức tổ chức
giờ học sao cho các em tiếp thu bài một cách hứng thú nhất, tạo tâm lý cho học
sinh thích học môn Toán, các em luôn chờ mong đến giờ học Toán, không còn
ngại hay thấy đây là giờ học “khó “ và “khô” nữa.
II. Nội dung thực nghiệm
Tôi đã chọn 2 lớp : 2A1 (Lớp thực nghiệm)
2A6 (Lớp đối chứng)
+ Lớp 2A1 có sĩ số 53
+ Lớp 2A6 có sĩ số 49
Học lực môn Toán của 2 lớp tương đương nhau (căn cứ vào kết quả kiểm tra
định kỳ giữa kỳ I năm học : 2011 – 2012)
Lớp
Giỏi
Khá
Trung Bình
Sl
%
Sl
%
Sl
%
2A1
Tuần 24
Ngày dạy: Thứ ba ngày 28/2/2012
+ Bài: Tìm số bị chia. Tuần 26
Ngày dạy: Thứ ba ngày 13/3/2012
Mục đích: Đưa phương pháp mới dạy vào lớp 2A1 còn lớp 2A6 dạy theo
phương pháp thông thường do cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị Quỳnh Dung
thực hiện.
22
Sau đây tôi xin trình bày hai giáo án dạy thực nghiệm tại lớp 2A1đã sử
dụng một trong số các biện pháp nêu trên trong các tiết học nhằm nâng cao
hiệu quả giờ học, giúp học sinh chủ động tích cực nắm chắc nội dung bài.
TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN LA
Giáo viên: Vương Thị Ánh
Khối: 2
MÔN: TOÁN
TIẾT 117: BẢNG CHIA 4
Ngày dạy: Thứ ba, 28/02/2012
Tuần: 24
I - MỤC TIÊU:
Kiến thức: - Lập bảng chia 4
- GV nhận xét
- GV hỏi
- GV nhận xét
- 3 HS lên bảng
- Cả lớp làm nháp
- HS trả lời
II. Bài mới:
1. Giới thiệu bài: Giờ toán hôm
- GV nêu mục tiêu - HS lắng nghe và
nay các con sẽ dựa vào bảng nhân 4
của tiết học và ghi ghi vở
để thành lập bảng chia 4.
bảng
2. Giới thiệu phép chia 4:
1. Ôn tập phép nhân 4.
- Gắn lên bảng 3 tấm bìa, mỗi tấm
bìa có 4 chấm tròn (như SGK) rồi
hỏi HS.
Nêu bài toán
+ Trên các tấm bìa có 12 chấm
tròn, mỗi tấm bìa có 4 chấm tròn.
Hỏi có mấy tấm bìa? Hãy đọc phép
tính thích hợp để tìm số tấm bìa?
12 : 4 = 3 .
- GV hỏi
-HS viết phép nhân
- GV viết bảng
- HS quan sát và
lắng nghe
- GV nêu yêu cầu
GV viết phép chia
lên bảng dưới phép
nhân.
- GV chỉ vào hai
phép tính trên bảng
rồi kết luận.
Nhận xét: Từ phép nhân 4 là 4 × 1 =
- GV nêu yêu cầu
4,. Ta có phép chia 4 nào ?
- GV chốt cách làm
(4: 4 = 1)
- GV nhận xét
Bài 2: Giải toán
- GV nêu yêu cầu
+ Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?
- GV hỏi phân tích
bài
24
- 1 HS đọc yêu cầu
của bài
- HS lắng nghe và
Thời
Nội dung
Phương pháp, hình thức
gian
cỏc hoạt động dạy học chủ yếu
tổ chức các hoạt động dạy học tương ứng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trũ
Bài giải
Mỗi hàng có số học sinh là :
TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN LA
Giáo viên: Vương Thị Ánh
Tuần: 26
25