Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. PHẦN MỞ ĐẦU
3
1. Lý do chọ đề tài
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Phạm vi nghiên cứu
4
5. Phương pháp nghiên cứu
4
II. PHẦN NỘI DUNG
3. Giải pháp, biện pháp
10
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
10
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
11
3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
24
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
24
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
24
nghiên cứu
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học
25
Xã hội được cấu trúc lại thành các môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2,3), Khoa
học, Lịch sử và Địa lí (lớp 4,5). Các môn học này được kế thừa, bổ sung, hoàn
thiện từ các chủ đề và phân môn của môn Tự nhiên và xã hội và môn Sức
khỏe trước đây. Đây là môn học có vị trí quan trọng giúp học sinh lĩnh hội
những tri thức ban đầu và thiết thực về con người, tự nhiên và xã hội xung
quanh. Từ đó giúp các em phát triển khả năng quan sát, năng lực tư duy, lòng
ham hiểu biết khoa học và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Góp
phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục, cùng với các môn học khác Tự
nhiên và Xã hội là một môn học có nhiều sự đổi mới. Thế nhưng hiện nay có
một bộ phận giáo viên chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa, tầm quan trọng của
môn Tự nhiên và Xã hội, việc đổi mới phương pháp dạy học môn học này
nên chưa thật sự từ bỏ thói quen dạy theo kiểu truyền đạt kiến thức sách vở
theo lối học thụ động, một chiều. Vậy một giờ học Tự nhiên và Xã hội ở lớp
2 được tiến hành ra sao để có hiệu quả ?
Mặc dù tất cả giáo viên của trường tôi đều tích cực đổi mới phương
pháp dạy học nhưng ở đâu đó vẫn còn tình trạng giờ học Tự nhiên và Xã hội
vẫn diễn ra tẻ nhạt, trầm lắng với các hoạt động quen thuộc, nhàm chán, rất
dễ làm các em mệt mỏi. Điều đó đòi hỏi giáo viên cần có sự thay đổi linh
hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
Trường TH Lý Tự Trọng 3 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Từ trước đến nay đã có nhiều đồng nghiệp quan tâm và nghiên cứu về
vấn đề dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội. Nhưng ở đơn vị tôi chưa có ai
nghiên cứu về vấn đề này. Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình
vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở ở lớp 2A
nói riêng và trường Tiểu học Lý Tự Trọng nói chung, chính vì vậy mà tôi luôn
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp trò chơi
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Tại hội nghị trung ương lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định rằng : “Đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế”. Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục nước
nhà, Giáo dục Tiểu học đang tạo ra những bước chuyển dịch định hướng có
giá trị. Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực
hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp học
sinh tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống
“thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò chép”. Theo quan điểm dạy học mới, dạy
học là quá trình học sinh tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn
Tự nhiên và Xã hội cũng không nằm ngoài định hướng đó.
Tự nhiên và xã hội là một môn học mang tính tích hợp cao. Tính tích
hợp ấy được thể hiện ở chỗ : Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội xem xét
tự nhiên, con người, xã hội trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại
và tác động lẫn nhau. Các kiến thức trong chương trình môn Tự nhiên và Xã
hội là kết quả của việc tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học như :
Sinh học, Vật lí, Hoá học, Dân số. Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội có
Trường TH Lý Tự Trọng 5 GV: Phạm Thị Thúy Lan
̀
Trường TH Lý Tự Trọng 6 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
soan săp xêp thanh môt hê thông va rât khoa hoc, kênh hình
̣
́ ́
̀
̣
̣
́
̀ ́
̣
phong phú, kênh
chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Phần nội dung cần thiết ngắn gọn, dễ nhớ.
Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen
dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động học của học sinh.
* Khó khăn
Mỗi bài học được tích hợp nhiều nội dung, nội dung bài khá dài và
dàn trải (mỗi bài từ 2 đến 3 tiết).
Một số giáo viên và cả học sinh chỉ chú trọng vào hai môn Toán và
Tiếng Việt nên không đầu tư vào chất lượng dạy và học cho môn Tự nhiên
và Xã hội, dẫn đến tình trạng giáo viên chỉ dạy qua loa, còn học sinh học hời
hợt, học chỉ để hoàn thành chương trình.
Khả năng tập trung chú ý của học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế, kĩ năng
quan sát, tưởng tượng còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm, máy móc.
môn Tự nhiên và Xã hội để đem lại hiệu quả cho tiết dạy.
* Hạn chế:
Bên cạnh đó một số giáo viên chưa thực sự từ bỏ cách dạy học theo
kiểu đàm thoại, giảng giải, truyền thụ một chiều, áp dụng các phương pháp
dạy Tự nhiên và xã hội còn khá máy móc, đơn điệu, chủ yếu hướng học sinh
đến việc hoàn thành bài học, môn học chứ chưa chú ý đến việc hình thành
cho học sinh những kĩ năng khi học Tự nhiên và Xã hội, học sinh biết được
điều gì, hiệu quả mà tiết học mang lại là gì vẫn chưa được chú trọng.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Bản thân tôi đã có ba năm dạy lớp 2 nên cũng có chút ít kinh nghiệm khi
dạy môn Tự nhiên và Xã hội.
Một số học sinh đã biết cách làm việc, khai thác sách giáo khoa, đồ
dùng dạy học, bước đầu các em đã có một số kĩ năng như quan sát và sắp
xếp, phân tích tranh, ảnh; đọc, hệ thống hóa.
Từ đó giúp các em ham thich hoc môn
́
̣
Tự nhiên và xã hội hơn, thích tìm
tòi, khám phá về Tự nhiên và xã hội. Môn học này đã khơi gợi ở các em tính
tò mò, thích tìm hiểu về tự nhiên, con người, xã hội. Từ đó các em biết được
những điều kì diệu trong cuộc sống, giúp các em thêm yêu cuộc sống và sống
có trách nhiệm hơn.
* Mặt yếu
Tài liệu Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội là sách “ba trong một”
nó vừa là sách giáo viên vừa là sách học sinh, vừa là sách bài tập nên giáo viên
không có sách hướng dẫn để làm cơ sở định hướng cho tiết dạy.
Trường TH Lý Tự Trọng 8 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Năm học 2014 – 2015 là năm học tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm
và giảng dạy lớp 2A, nhiều em gia đình rất khó khăn, có những em bố mẹ thường
đi làm ăn xa nên không quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình. Chính
vì vậy mà tôi luôn trăn trở để tìm biện pháp giúp học sinh yêu thích học Tự
nhiên và xã hội hơn, chất lượng môn học này khả quan hơn.
Từ lâu nay trong suy nghĩ của nhiều giáo viên và học sinh vẫn cho rằng
Tự nhiên và Xã hội là môn học không được coi trọng, các em chỉ học qua loa
còn phần lớn thời gian là dành để học Toán, học Tiếng Việt và mỗi lần kiểm
tra giáo viên cũng chỉ kiểm tra khả năng làm toán, viết văn, khả năng đọc viết
của các em chứ ít chú trọng đến kiểm tra kiến thức về Tự nhiên và Xã hội từ
đó nảy sinh tâm lí xem thường môn học này dẫn đến chất lượng dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội chưa cao là điều khó tránh khỏi.
Năm học này cũng là năm thứ ba trường tiểu học Lý Tự Trọng thực hiện mô
hình dạy học kiểu mới gọi tắt là VNEN. Với mô hình dạy học này cả giáo viên và
học sinh phải chuyển đổi từ cách truyền thụ một chiều của giáo viên (thầy giảng
trò nghe, thầy đọc trò chép) sang dạy học hợp tác ( dạy học theo nhóm, học sinh
chủ động học tập, tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người hướng
dẫn, gợi mở để học sinh nắm được kiến thức). Việc học hợp tác rèn cho các em
các kĩ năng như kĩ năng làm việc, trao đổi trong nhóm, trong lớp; kĩ năng giao tiếp,
tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên.
Sách Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội vừa là sách dùng cho học
sinh vừa là sách dùng cho giáo viên, đồng thời cũng là sách bài tập. Sự kết hợp ba
trong một này vừa tiện lợi nhưng cũng gây khó khăn cho giáo viên vì không có sách
thiết kế bài giảng hay sách giáo viên để làm cơ sở cho việc dạy học. Nội dung bài
dài thường từ 2 đến 3 tiết.
Chẳng hạn như bài : Cây sống ở đâu ? được dạy trong 3 tiết. Đây là sự tích
hợp nội dung của 3 bài học trong sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội của chương
trình hiện hành. Đối với bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu về môi
Trường TH Lý Tự Trọng 10 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Hoạt động cá nhân
Trường TH Lý Tự Trọng 11 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Hoạt động cặp đôi
Hoạt động nhóm
Hoạt động cả lớp
Hoạt động với cộng đồng
Kênh chữ chủ yếu là các câu hỏi, các lệnh yêu cầu học sinh làm việc,
cung cấp kiến thức của bài học.
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học
mới Việt Nam (VNEN) gồm 14 bài và 3 phiếu kiểm tra tương ứng với 35 tiết,
được phân phối theo 3 chủ đề: Con người và sức khoẻ; Xã hội; Tự nhiên.
Chủ đề: Con người và sức khoẻ (gồm 5 bài) :
Bài 1: Vì sao chúng ta vận động được ?
Bài 2: Làm gì để xương và cơ phát triển ?
Bài 3: Thức ăn được tiêu hóa như thế nào ?
Bài 4: Ăn uống thế nào để cơ thể khỏe mạnh ?
Bài 5: Vì sao chúng ta phải ăn uống sạch sẽ ?
Phiểu kiểm tra 1.
Chủ đề xã hội (gồm 6 bài)
Bài 6: Gia đình thân yêu của em
Bài 7: Em cần làm gì khi ở nhà ?
Trường TH Lý Tự Trọng 12 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
*Biện pháp 2: Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan
sát
Quan sát là phương pháp sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có
mục đích các đối tượng tự nhiên và xã hội mà không có sự can thiệp vào quá
trình diễn biến các hiện tượng hoặc sự vật nào đó.
Phương pháp quan sát là phương pháp đặc trưng để dạy môn Tự nhiên
và xã hội. Sách Hướng dẫn học môn Tự nhiên và xã hội có rất nhiều tranh,
ảnh giúp học sinh quan sát để biết được hình dạng, đặc điểm bên ngoài của
cơ thể người, của một số cây xanh, con vật hoặc nhận biết các hiện tượng
diễn ra trong tự nhiên, trong cuộc sống.
Thông thường khi hướng dẫn học sinh quan sát, tôi thường tiến hành
theo 4 bước sau :
Lựa chọn đối tượng quan sát : trong mỗi tiết học, bài học giáo viên
cần xác định lượng kiến thức cần đạt, từ đó xác định đối tượng để khai thác
lượng kiến thức đó. Đối tượng quan sát có thể là tranh ảnh, mô hình, vật thật,
nên tối đa lựa chọn vật thật cho học sinh quan sát. Khi không có điều kiện để
chuẩn bị vật thật thì mới cho học sinh quan sát mô hình, tranh ảnh. Đối tượng
quan sát phải rõ ràng, đủ lớn, đảm bảo tính sư phạm, tính thẩm mĩ thì mới có
thể giúp học sinh tri giác đúng về sự vật, hiện tượng.
Xác định mục đích quan sát : khi đã lựa chọn được đối tượng quan sát,
giáo viên phải xác định cho học sinh quan sát để đạt mục đích gì, cần hướng
học sinh quan sát bộ phận, đặc điểm của đối tượng, tránh quan sát lan man.
Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát : giáo viên cần hướng dẫn,
tổ chức cho học sinh quan sát một cách khéo léo, nhẹ nhàng, đúng trọng tâm.
Tùy vào số lượng đồ dùng, mục tiêu của từng tiết học, từng hoạt động có thể
tổ chức cho học sinh quan sát cá nhân (nếu đảm bảo 1 đồ dùng/học sinh)
hoặc theo cặp, nhóm (nếu ít đồ dùng). Các nhóm có thể cùng quan sát một đối
để thực hiện mục tiêu, yêu cầu nào đó của tiết học, kiến thức nào đó của bộ
môn. Trò chơi học tập giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời
phát triển vốn kinh nghiệm mà các em thu được thông qua hoạt động trò chơi.
Đồng thời qua trò chơi học tập học sinh được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thúc
đẩy trí tuệ làm cơ hội hoạt động của các em đa dạng và phong phú. Qua hoạt
động trò chơi các em biết kiềm chế, tự hoạt động, tham gia một cách tích
cực. Bên cạnh đó, giáo dục cho học sinh một số năng lực : tư duy, giao tiếp,
hoà đồng, làm việc với tập thể…Khi tham gia trò chơi học tập, học sinh có
những phản ứng tâm lý như sau : hăng say, chơi hết mình trong trò chơi; dễ
dàng bỏ qua những sai phạm của người khác; tôn trọng kỉ luật, có tính tập
thể; giúp đỡ, nâng đỡ đồng đội; tích cực hoạt động, sẵn sàng vì danh dự của
đội mình, nhóm mình. Khi tổ chức trò chơi giáo viên cần lưu ý: Trò chơi phải
có mục đích học tập, không đơn thuần là trò chơi giải trí. Trò chơi phải đơn
Trường TH Lý Tự Trọng 16 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
giản, dễ thực hiện; thu hút được đa số học sinh tham gia; không tốn nhiều
thời gian, sức lực để không làm ảnh hưởng đến các tiết học tiếp theo. Trò
chơi phải được chuẩn bị tốt về điều kiện, phương tiện, phải có kế hoạch
thực hiện như một bài soạn.
* Một trò chơi phải có tên gọi và được thiết kế theo các nội dung sau:
+ Mục đích của trò chơi : Trò chơi dùng để củng cố kiến thức, kĩ năng
nào ?
+ Đồ dùng và người chơi : Phương tiện của trò chơi là gì ? Mô hình của
trò chơi ra sao ? Bao nhiêu người chơi là đủ ?
+ Luật chơi: Chỉ rõ quy tắc và cách hoạt động đối với người chơi và
quy định thắng thua.
+ Hình thức chơi : Chơi theo nhóm, cá nhân, tập thể.
+ Cách thức chơi : Cách hướng dẫn, tổ chức các hoạt dộng trò chơi.
* Cách tiến hành: Các nhóm, đội nhận bộ tranh câm và các thẻ chữ; sau
đó gắn thẻ chữ với nội dung tranh cho phù hợp. Sau khi hoàn thành các nhóm
có thể gắn sản phẩm của đội, nhóm mình lên bảng hoặc để tại chỗ làm việc
của nhóm mình và báo cáo kết quả với giáo viên.
Ví dụ: khi dạy bài : Thức ăn được tiêu hóa như thế nào? Tôi sử dụng trò
chơi này giúp học sinh nhận biết và nhớ được vị trí các bộ phận của cơ quan
tiêu hóa.
Trường TH Lý Tự Trọng 18 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Sơ đồ có quan tiêu hóa
Sau khi ghép chữ vào hình học sinh sẽ nói được các bộ phận, vị trí của
cơ quan tiêu hóa, đường đi của thức ăn trong ống tiêu hóa.
* Trò chơi “Đi chợ”
Học sinh nói được cần phải ăn uống như thế nào để có sức khỏe tốt,
biết được những thức ăn giúp các em khỏe mạnh, mau lớn. Từ đó các em có ý
thức tự giác trong việc ăn uống và giữ vệ sinh khi ăn uống.
Trò chơi này tôi vận dụng khi dạy bài 4 trong chủ điểm Con người và
sức khoẻ.
Ví dụ : Khi dạy bài 4, tôi cho học sinh quan sát các món ăn trong sách
giáo khoa, sau đó thảo luận nhóm 4 để lựa chọn và viết vào bảng nhóm tên
các loại đồ ăn, đồ uống cho 3 bữa ăn trong một ngày sao cho đảm bảo đủ
chất, hợp lí. Học sinh có thể lựa chọn và viết thực đơn trong một ngày như
sau:
Bữa ăn
Nhóm nào có nhiều câu trả lời đúng hơn thì nhóm đó thắng cuộc.
* Trò chơi “Biển báo nói gì”
Trò chơi này thường được sử dụng khi dạy các bài học liên quan đến
an toàn giao thông nhằm củng cố kiến thức về một số biển báo giao thông.
Trò chơi này tôi áp dụng để dạy bài 10: An toàn khi đi trên các phương
tiện giao thông.
Khi dạy bài này tôi chuẩn bị: bộ bìa gồm 12 tấm bìa nhỏ 6 tấm vẽ biển
báo, 6 tấm viết tên biển báo. Tôi chọn ngẫu nhiên 12 học sinh để tham gia trò
chơi, phát cho mỗi học sinh một tấm bìa, giáo viên hoặc quản trò hô “biển
báo nói gì” học sinh có tấm bìa vẽ biển báo và học sinh có tấm bìa viêt chữ
Trường TH Lý Tự Trọng 20 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
phải tìm đến nhau, cặp nào tìm đến nhau nhanh nhất và đúng thì cặp đó được
khen.
* Trò chơi “Chim bay cò bay”
Tạo cho học sinh không khí thoải mái trước khi vào bài học
Áp dụng cho bài 13: Loài vật sống ở đâu ?
Khi dạy bài này tôi cho một học sinh làm chủ trò, chủ trò sẽ phổ biến
luật chơi và cho các bạn chơi thử. Khi chủ trò hô “chim bay, heo bay, gà bay,
…” học sinh lắng nghe và làm động tác giơ tay vẫy vẫy giống như con vật
đang bay hoặc đứng yên nếu con vật đó không biết bay.
* Trò chơi “Đố bạn con gì”
Học sinh nhớ được đặc điểm chính của một số con vật đã học. Thực
hành kĩ năng đặt câu hỏi để loại trừ. Phương pháp này được tôi vận dụng vào
dạy bài 13: Loài vật sống ở đâu ?
(Là gì ? Đáp án: Mặt trời, mặt trăng)
Trường TH Lý Tự Trọng 22 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Tiếp đó tôi dẫn dắt vào bài: Mặt trời, mặt trăng là hai hành tinh. Độ lớn
của hai hành tinh này chênh lệch nhau như thế nào? So với trái đất lớn, nhỏ ra
sao? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài 14 : “Bầu trời ban ngày và ban đêm”.
Khi dạy học, tôi lựa chọn thời điểm thích hợp để tổ chức trò chơi cho
phù hợp, đúng lúc tạo hứng thú cho học sinh.
Để củng cố kiến thức của bài 13: Loài vật sống ở đâu ? Tôi tổ chức
cho học sinh chơi trò chơi giải câu đố để củng cố kiến thức của bài
“Cá gì đủ chữ, xứng câu?”
(Đố cá gì ? Đáp án : cá đối)
“ Chim gì biểu tượng hòa bình
Cả nhân loại lẫn chúng mình đều yêu”
(Đố chim gì ? Đáp án : chim bồ câu)
“ Khen ai dạ sáng như đèn
Tối trời như mực biết bạn quen mà mừng”
(Đố con gì ? Đáp án : con chó)
“Vừa bằng hạt thóc biết bay
Đi đêm mang đuốc, ban ngày thì không”
(Đố con gì ? Đáp án : con đom đóm)
Biện pháp 3: Phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp thảo luận
nhóm
Thảo luận nhóm là một phương pháp giúp học sinh tham gia một cách
chủ động, tích cực vào quá trình học tập, học sinh được hợp tác với bạn, biết
chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề nào đó.
Phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành thường xuyên trong quá
Viết tiếp vào chỗ … các phương tiện giao thông tương ứng:
Trường TH Lý Tự Trọng 24 GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
a) Đường bộ : ………………………………………………………………
b) Đường sắt : ……………………………………………………………...
c) Đường thủy : …………………………………………………………….
d) Đường hàng không : …………………………………………………….
Tôi đến từng nhóm để kiểm tra. Sau khi các em hoàn thành tôi cho các
nhóm báo cáo kết quả.
Biện pháp 4: Sử dụng đồ dùng dạy học trực quan
Đồ dùng trực quan là những thiết bị dạy học dạy học sẵn có hoặc do
giáo viên, học sinh tự làm, tự tìm tòi để phục vụ cho nội dung bài học.
Thiết bị dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học.
Thiết bị dạy học giúp học sinh tri giác một cách trực tiếp về sự vật, từ đó các
em có nhận thức sâu hơn nội dung bài học. thiết bị dạy học gồm thiết bị
dạy : là những thiết bị do giáo viên sử dụng khi giảng dạy như tranh, ảnh, vật
mẫu, băng hình,…Còn thiết bị học : là những thiết bị do học sinh sử dụng
như phiếu học tập, tranh ảnh, vật thật mà học sinh tự chuẩn bị.
Sử dụng đồ dùng trực quan cần gắn với nội dung của sách giáo khoa,
phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học và phù hợp với hình thức, phương
pháp dạy học bộ môn đó và phải đúng lúc, đúng chỗ, cần nghiên cứu sử dụng
thành thạo các loại đồ dùng.
Ví dụ : khi dạy Bài 13 : “Loài vật sống ở đâu ?” khi dạy xong hoạt
động cơ bản, tôi yêu cầu học sinh sưu tầm tranh ảnh về các con vật và sẽ
mang đến lớp vào tiết học sau. Ở hoạt động thực hành học sinh sẽ lấy tranh
ảnh về các con vật mà mình sưu tầm được để giới thiệu với các bạn : đó là
con vật gì ? Nó sống ở đâu ? Nó có lợi ích hay có tác hại gì đối với con