sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ngân sách xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bảo Thắng - Pdf 26

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bảo Thắng, ngày 15 tháng10 năm 2013
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp huyện
Họ tên tác giả: Lương Văn Hưng
Ngày, tháng, năm sinh:12/10/1979
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị công tác: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Bảo Thắng
Trình độ chuyên môn: Cử nhân kinh tế.
ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN, KINH NGHIỆM
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ngân sách xã, thị
trấn trên địa bàn huyện Bảo Thắng.
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN NGƯỜI VIẾT
Lương Văn Hưng
I. TÊN SÁNG KIẾN, KINH NGHIỆM:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ngân sách xã, thị trấn
trên địa bàn huyện Bảo Thắng.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN, KINH NGHIỆM:
1. Đặc điểm, tình hình chung:
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng không thể thiếu để Nhà
nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Sự phân cấp quản lý NSNN phù
hợp với sự phân cấp của bộ máy chính quyền, tạo ra những đòn bẩy tích cực
nhằm phát triển mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngân sách xã là một cấp
ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, nó đại diện và đảm bảo tài chính cho
chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh có sẵn để phát triển
kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã.
Ngân sách xã trực tiếp gắn với người dân, trực tiếp giải quyết toàn bộ mối quan
hệ về lợi ích giữa Nhà nước với dân. Chính vì vậy, NSX là tiền đề đồng thời là
hệ quả trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước. Có thể hiểu một
cách khái quát nhất về NSX như sau: NSX là hệ thống các quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền

Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã được hình thành dựa trên cơ
sở khả năng và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương kết hợp với các
nhiệm vụ về quản lý kinh tế- xã hội mà chính quyền xã được phân công, phân
cấp đảm nhiệm. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân cấp quản lý về kinh tế
- xã hội với phân cấp quản lý tài chính - ngân sách. Tuy nhiên, tùy thuộc vào
điều kiện kinh tế - xã hội và sự phân cấp quản lý ngân sách xã mà trong từng
thời kỳ cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi có những thay đổi, bổ sung cho phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.
1.2.1 Nguồn thu ngân sách xã gồm:
* Các khoản thu mà ngân sách xã được hưởng điều tiết 100%:
Là các khoản thu dành cho ngân sách xã sử dụng toàn bộ để chủ động về
nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, HĐND cấp tỉnh xem
xét dành cho ngân sách xã hưởng 100% các khoản thu sau:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định.
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần lộp vào ngân sách nhà
nước theo quy định.
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản theo quy định của pháp luật do xã quản lý.
- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm các khoản huy
đọng đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự
nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND cấp xã quyết định đưa vào
ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác.
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức cá nhân ở ngoài nước trực tiếp
cho ngân sách xã theo chế độ quy định.
- Thu kế dư ngân sách xã năm trước.
- Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật.
* Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã
vơí ngân sách cấp sách xã với ngân sách cấp trên.
Theo quy định tại Điều 34 của Luật NSNN: các khoản thu theo tỷ lệ phần
trăm (%) phân chia cho ngân sách cấp xã, thị trấn tối tối thiểu là 70% (quy định

sách xã quản lý.
Các khoản chi đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật.
* Chi thường xuyên gồm:
Chi cho hoạt động của các hoạt động cơ quan nhà nước ở cấp xã.
Kinh phí hoạt động của các cơ quan đảng công sản Việ nam ở xã.
Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở cấp xã (Mặt trận
TQVN; Đoàn thanh niên VN, Hội cựu chiến binh VN, Hội liên hiệp phụ nữ VN,
Hội nông dân VN).
Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an ninh xã hội.
Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin thể dục, thể thao
do xã quản lý.
Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ, lớp
mẫu giáo, kể cả trợ cấp giáo viên mẫu giáo và cô nuôi day trẻ do xã, thị trấn
quản lý.
Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ thường xuyên và mua sắm các khoản trang
thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã.
Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ
tầng do xã quản lý như: Trường học, trạm y tế, nhà trẻ lớp mẫu giáo, nhà văn
hoá, thư viện, đài tưởng niện, cơ sở thể dục, thể thao, cầu cống đường giao
thông, các công trình cấp thoát nước công cộng
Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy dịnh của pháp luật.
* Căn cứ vào định mức, chế độ, tiêu chuẩn của nhà nước, HĐND cấp tỉnh
quy định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình hình
đặc điểm và khả năng ngân sách địa phương.
2. Thực trạng công tác quản lý tài chính ngân sách trong những năm
qua:
2.1. Kiện toàn bộ máy quản lý tài chính ngân sách xã:
Tất cả các xã đều có ban tài chính xã đảm bảo đủ các chức danh và phân
định cụ thể các chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh, tạo điều kiện cho ban
tài chính xã từng bước củng cố và tăng cường công tác quản lý tài chính - ngân

nguồn thu chưa triệt để, vẫn còn nhiều xã còn coi thường nguồn thu có tỷ trong
nhỏ, vẫn còn trông trờ vào sự cấp bổ sung từ ngân sách cấp trên.
Đối với chi: Các xã điều chi ngân sách đảm bảo tuân thu dự toán được
duyệt, kiểm soát chi chặt chẽ, có hiệu quả, đúng chính sách chế độ nhà nước.
Một số xã đã tiết kiệm một phần chi thường xuyên dành cho chi sửa chữa, mua
sắm trang thiết bị phục vụ chuyên môn. Tuy nhiên vẫn còn một số xã chi không
đúng dự toán, chưa đúng mục đích, chưa đảm bảo chật tự ưu tiên.
* Công tác quyết toán: Cùng với tổ chức triển khai thực hiện Luật NSNN,
việc triển khai thực hiện chế độ kế toán kép theo quy định của Bộ Tài chính, đến
nay cán bộ kế toán ngân sách xã đã hạch toán, ghi chép vào sổ kế toán có nề
nếp. Việc thực hiện chế độ báo cáo kế toán được chấp hành nghiêm túc, chất
lượng báo cáo ngày càng tiến bộ, đảm bảo số liệu khớp đúng, phản ánh đúng
mục lục ngân sách Nhà nước, từng bước đám ứng yêu cầu kiểm tra, kiểm soát,
tổng hợp và phân tích, đánh giá các hoạt động tài chính của chính quyền cơ sở.
Mặc dù đạt được những thành tự khả quan trên, song việc quyết toán ngân sách
xã vẫn còn một số hạn chế nhất định. Một số xã chưa phản ánh chính xác, kịp
thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, công tác quản lý, theo dõi tài sản còn yếu
kém, chất lượng báo cáo và thời gian gửi báo cáo còn chưa đáp ứng được yêu
cầu.
2.3. Công tác kiểm tra, chấp hành các chế độ quản lý tài chính ngân
sách xã:
Những năm qua, cán bộ quản lý tài chính- ngân sách xã các cấp đã tích cực
đi cơ sở vừa hưỡng dẫn cán bộ Ban tài chính xã chấp hành Luật NSNN đồng
thời thực hiện giám sát các hoạt động tài chính cơ sở. Thông qua thẩm định dự
toán thu - chi ngân sách xã đã kiểm tra các căn cứ xây dựng dự toán đàm bảo thu
đúng, thu đủ, không bỏ sót các nguồn thu, định hướng cho cơ sở bố trí cơ cấu
chi đúng chế độ, tiết kiệm, hiệu quả. Thông qua kiểm soát chi tại kho bạc Nhà
nước đã phát hiện các khoản chi sai, thu sai từ đó có giải pháp uấn nắn kịp thời.
Qua công tác kiểm tra chấp hành chế độ kế toán, thẩm định quyết toán đã phát
hiện và uấn nắn kịp thời các vi phạm góp phần đưa công tác quản lý tài chính

động trực tiếp đến sự phát triển của ngân sách xã cả quy mô lẫn tốc độ tăng
trưởng. Chế độ, chính sách cho cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập.
* Nguyên nhân chủ quan:
Một số cán bộ xã còn chưa xác định rõ chức năng nhiệm vụ của mình nên
chưa tham mưu hiệu quả cho cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở trong quản lý và
điều hành tài chính xã. Vai trò lãnh đạo, năng lực điều hành và tổ chức thực hiện
của chính quyền cơ sở trên một số lĩnh vực còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu đề ra.
Chưa giám tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất và
việc đưa các lạo giống mới vào sản xuất nên không tạo ra những đột biến
trong sản xuất, hạn chế nguồn thu mới cho ngân sách xã. Sự phối hợp giữa các
ngành, địa phương chưa tốt, tính chủ động của người đứng đầu trong giải quyết
công việc thuộc phạm vi được phân công từng nơi, từng lúc chưa được phát huy
đúng mức, chất lượng, hiệu quả của công tác cải cách hành chính có mặt chưa
đáp ứng yêu cầu đề ra.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính
ngân sách xã.
3.1. Khâu xây dựng, lập dự toán phải chính xác, sát thực tế.
Công tác lập dự toán là khâu đầu tiên của quá trình quản lý ngân sách, do
đó chất lượng công tác quản lý ngân sách đều phụ thuộc vào khâu lập dự toán.
Lập dự toán Ngân sách là việc lê kế hoạch cụ thể, chi tiết cho các chỉ tiêu thu và
các nội dung chi ngân sách cho năm ngân sách hàng năm, toàn bộ các dự kiến về
các khoản thu như (các loại thuế, phí, lệ phí, thu bổ sung ) và các nội dung chi
nhhư (chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên ) đều được thể hiện rõ nét. Đó là
yêu cầu cơ bàn nhất mà khâu lập dự toán ngân sách cần phải thực hiện.
Thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng dự toán Ngân sách như vậy,
cấp chính quyền địa phương phải có các biện pháp cụ thể trong chỉ đạo, đôn đốc
các xã, thị trân, các ban ngành đoàn thể lên kế hoạch cụ thể cho ngân sách. Xây
dựng dự toán xã cần phải được thực hiện sớm, cần phải xem xét kỹ lưỡng, tránh
tình trạng bỏ sót nguồn thu, tính thiếu chi phí cho các nhiệm vụ chi. Khi các
trường hợp đó xẩy ra sẽ làm cho công tác quản lý ngân sách bị động.

Mục lục ngân sách nhà nước.
Hệ thống tài khoản, sổ sách, mẫu biểu báo cáo.
Mã số đối tượng nộp thuế và mã số đối tượng sử dụng ngân sách.
Các xã, thị trấn tiến hành lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách gửi
phòng Tài chính - Kế hoạch phải đảm bảo thời gian và đúng biểu mẫu quy
địnhcủa Luật NSNN.
3.3. Tăng cường đôn đốc, rà soát các nguồn thu, thường xuyên kiểm
tra, giám sát các hoạt động chi tiêu tại các xã.
Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng và bộ máy hoạt động của địa phương, trước hết phải thực hiện quản
lý thu tốt các nguồn thu. Như vậy muốn có nguồn thu không ngừng được phát
triển thì phải tăng cừng đôn đốc, kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu.
Phải thường xuyên tuyên truyền sâu rộng các chế độ về thuế tới các hộ kinh
doanh, doanh nghiệp và nhân dân. Có các chính sách về thuế vừa phải đảm bảo
nguồn thu ổn định, lâu dài cho ngân sách vừa phải nuôi dưỡng, phát triển mạnh
mẽ các nguồn thu, vừa khuyến kích phát triển sản xuất, kinh doanh của các
thành phần kinh tế.
Thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong công tác thu thuế, thực hiện
công khai minh bạch công tác thu thuế. Thực hiện tốt công tác vân động các hộ
kinh doanh, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tự kê khai,
tự nộp thuế.
Thường xuyên tập huấn nghiệp vụ, cử đi đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ,
đặc biệt là cán bộ cơ sở. Coi trọng việc bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện phẩm
chất đạo đức, nhất là cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải gương mẫu từ đó nhằm
xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất
đạo đức, có nghiệp vụ chuyên môn tốt và toàn tâm, toán ý với nhiệm vụ được
giao.
Đối với nhiệm vụ giám sát các khoản chi: Trước hết cơ quan chuyên môn là
phòng Tài chính - Kế hoạch huyện phải thường xuyên trong việc kiểm tra, giám
sát các hoạt động chi tiêu của các xã, thị trấn hàng quý để kịp thời uấn nắn,

Để phát triển nguồn thu cho ngân sách, ngoài việc tận dụng khai thác những
tiềm năng vốn có, caáp chính quyền địa phương phải có các giải pháp nuôi
dưỡng và tạo nguồn thu một cách ổn định, bền vững thì phải đầy mạnh xây dựng
các trung tâm thương mại, dịch vụ thị trấn, thị tư, trung tâm cụm xã, mạng lưới
chợ nông thôn, bến bãi, khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế
phát triển.
3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp chính quyền xã.
Cán bộ kế toán tài chính xã, thị trấn phải có trách nhiệm giúp Chủ tịch
UBND xã, thị trấn thực hiện quản lý tài chính và ngân sách xã theo quy định của
Nhà nước và hướng dẫn chỉ đạo của cơ quan cấp trên.
3.6. Tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, bồi dững cho cán bộ xã.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ làm công tác kế toán, tài chính
xã được xem là một trong những giải pháp tích cực, góp phần nâng cao năng
lực, hiệu quả trong công tác quản lý điều hành ngân sách đại phương.
Đề quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ xã đi vào nề nếp, chính quy, hiện
đại, đảm bảo đúng cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý cán bộ của Đảng. Đội
ngũ cán bộ phải ổn đinh, chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện
nhiệm vụ, tận tụy phục vụ, thực sự là cầu nối giữa nhân dân với cơ quan nhà
nước.
Muốn được đội ngũ cán bộ như vậy thì cần phải đào tạo phát triển đội ngũ
cán bộ xã trên cơ sở xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính
quyền xã trong điều kiện và tình hình nhiệm vụ mới.
Quá trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã cần phải tiến hành đồng bộ
cả về xây dựng thể chế, tổ chức, quản lý, chế độ đãi ngộ.
3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý ngân sách.
Để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước
thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý ngân sách là hết sức cần thiết.
Cần trang bị máy móc, thiết bị tin học, phần mềm quản lý chuyên dùng và phầm
mềm kế toán ngân sách cho các xã, thị trấn, đồng thời đi đôi với việc trang bị
máy móc, thiết bị cần phải tập huấn cho các cán bộ làm công tác này về chuyên


2.Thành viên hội đồng sáng kiến, kinh nghiệm chấm lần 2:

3.Thành viên hội đồng sáng kiến, kinh nghiệm chấm lần 3:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status