Thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệu quả công
chứng, chứng thực ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
Theo Quy định của Luật Công chứng 2007 và Nghị định 79/2007/NĐ-CP của
Chính phủ, từ 1/7/2007 thì việc công chứng bản sao, chữ ký các văn bản tiếng Việt
do cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thực hiện. Thực hiện Luật Công
chứng và các văn bản hướng dân, trong những năm qua, công tác chứng thực đã được
các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành hữu quan quan tâm chỉ đạo thực hiện
nghiêm túc. Tuy nhiên hoạt động công chứng chứng thực ở các xã, thị trấn thời gian
qua còn xuất hiện một số sai sót như trong lĩnh vực chứng thực các hợp đồng, các bên
tham gia giao kết hợp đồng chưa ghi đầy đủ các thông tin cũng như không ký tắt vào
từng trang của hợp đồng; hồ sơ lưu trữ và các giấy tờ kèm theo còn thiếu; việc mở sổ
sách theo dõi tuỳ tiện
Về nguyên nhân tồn tại những yếu kém nêu trên, chủ yếu là: Một số xã, thị trấn
việc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, trình ký chứng thực hợp đồng, giao dịch do cán bộ
địa chính thực hiện dẫn đến nhiều hợp đồng chứng thực nhưng không được ghi vào
sổ, không lưu trữ hồ sơ chứng thực theo quy định; năng lực, trình độ của một bộ phận
cán bộ làm công tác công chứng, chứng thực còn hạn chế; cán bộ làm công tác công
chứng, chứng thực đôi khi do mối quan hệ cá nhân còn cả nể nên dễ dàng bỏ qua
những thủ tục quy định của pháp luật dẫn đến việc làm sai. Một số trường hợp mặc
dù có hiểu biết pháp luật nhưng do chủ quan hoặc do sức ép từ những người có thẩm
quyền
Những sai sót từ hoạt động trên đã gây ra một số hậu quả đáng tiếc như: Xảy ra các
tranh chấp hợp đồng nhưng không có cơ sở hoặc rất khó giải quyết; một số trường
hợp xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp khiếu kiện gây mâu thuẫn, mất ổn định tại địa
phương
Để nâng cao hiệu quả công tác chứng thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân; bảo đảm
tính an toàn pháp lý trong giao dịch của các tổ chức và cá nhân cần thực hiện tốt một
số giải pháp sau:
Một là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền cấp cơ sở trong
chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực cũng như thực hiện
tốt Luật công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
pháp luật khác. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua
toàn bộ các bước của một phiên tòa (chủ yếu là ở phiên tòa sơ thẩm).
1. Chuẩn bị xét xử:
Đối với việc giải quyết vụ án hình sự:
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà là người cầm cân, nảy mực cùng hội
đồng xét xử quyết định bị cáo có tội hay vô tội và những vấn đề khác liên
quan đến trách nhiệm hình sự.
Để đưa ra được bản án, quyết định duy trì sự nghiêm minh của
pháp luật, duy trì kỉ cương phép nước, Thẩm phán cùng các thành viên trong
hội đồng xét xử phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu trong hồ sơ vụ án một cách
độc lập (đánh giá các chứng cứ đã thu thập được, so sánh đối chiếu các
chứng cứ với nhau để tìm ra chứng cứ cần thiết liên quan đến việc giải quyết
vụ án; không ỉ lại vào kết luận của cơ quan điều tra hay cáo trạng của viện
kiểm sát). Đối với việc giải quyết những vụ án hình sự, Thẩm phán phải quán
triệt đầy đủ chính sách hình sự của Nhà nước đối với phụ nữ, trẻ em, giá trị
tài sản mà người đó chiếm đoạt.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án nói chung và Thẩm phán nói
riêng phải xem xét những tình tiết, chứng cứ trong hồ sơ có cấu thành tội
phạm hay không trên cơ sở phân tích những dấu hiệu chủ quan và khách
quan của các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ không? Các yếu tố nhân thân
để từ đó cùng hội đồng xét xử đưa ra được bản án, quyết định về vụ án.
Thẩm phán tiến hành nhận thức về vụ án chủ yếu thông qua việc tri giác
kết quả nhận thức của cơ quan điều tra nên dễ bị ảnh hưởng của tài liệu điều
tra, do đó họ phải tư duy tích cực, căng thẳng, phải có óc khái quát và trí
tưởng tượng cao. Thẩm phán phải độc lập và quyết đoán trong quá trình
nhận thức về vụ án. Khi nhận thức về vụ án, Thẩm phán phải có ý thức và
tinh thần trách nhiệm cao trong việc tìm kiếm, phát hiện những tình tiết,
chứng cứ mới và chủ động đánh giá nó để từ đó có thể xét xử vụ án chính
xác, khách quan.
Thẩm phán chủ động xây dựng kế hoạch xét hỏi để nhằm đảm bảo cho
về quyết định hành chính hay hành vi hành chính mà công dân hay tổ chức
cho là trái pháp luật.
Sau khi có quyết định thụ lí vụ án hành chính, Thẩm phán được giao
nhiệm vụ giải quyết vụ án hành chính sẽ tiến hành điều tra vụ án; Viện kiểm
sát chỉ tham gia điều tra nếu xét thấy cần thiết để làm rõ tính chất vụ án Để
có thể thu thập chứng cứ, nghiên cứu và bước đầu đánh giá chứng cứ thì
trong quá trình chuẩn bị xét xử Thẩm phán phải định hướng được một số vấn
đề như tự mình điều tra hay uỷ thác cho toà hành chính khác điều tra. Nếu tự
mình điều tra thì Thẩm phán phải xác định được một số vấn đề như: quan hệ
pháp luật giữa các đương sự, những vấn đề cần chứng minh trong vụ án…
Thẩm phán toà hành chính tự mình tiến hành xác minh, thu thập chứng
cứ nên trong giai đoạn này họ bắt đầu nghiên cứu hồ sơ. Nếu giai đoạn điều
tra được tiến hành một cách thận trọng, đúng pháp luật thì sẽ giảm nhẹ lao
động của Thẩm phán trong việc nghiên cứu hồ sơ. Để cho khâu chuẩn bị xét
xử đạt chất lượng tốt, Thẩm phán phải xác định được một số vấn đề như:
kiểm tra, xác định thẩm quyền xét xử, xác định tư cách người tham gia tố
tụng trong vụ án; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, những vấn đề về
thủ tục tố tụng; cơ sở vật chất chuẩn bị cho hoạt động xét xử. Đồng thời
Thẩm phán phải dự kiến trước những tình huống có thể xảy ra tại phiên toà
và cách thức giải quyết những tình huống đó nhằm đạt được mục đích của
hoạt động xét xử.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính phải nắm được
toàn bộ nội dung vụ án, tìm hiểu nguyên nhân làm phát sinh vụ việc hành
chính và đảm bảo có các chứng cứ chính xác, đầy đủ để chứng minh được
nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của đương sự; cũng như chứng minh được
tính đúng đắn của quyết định hay hành vi hành chính của cán bộ, công chức
hoặc cơ quan Nhà nước.
Để thực hiện được những yêu cầu trên, Thẩm phán phải trực tiếp giao
tiếp với những người có trách nhiệm của cơ quan hữu quan để họ cung cấp
những chứng cứ; trực tiếp tiếp xúc với bên khởi kiện, bên bị kiện, với người
định của pháp luật, nên về cơ bản đã giải quyết các vụ án đúng pháp luật và
trong thời hạn pháp luật quy định, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên
đương sự, góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự, kinh tế và đảm bảo sự
công bằng xã hội.
Nếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì các cơ quan điều tra,
truy tố phải chủ động tiến hành các biện pháp điều tra để tìm ra chứng cứ,
tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án, thì trong quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự các đương sự phải chủ động và có trách nhiệm cung cấp
chứng cứ cho toà án và thông qua đó chứng minh cho yêu cầu của họ là có
căn cứ và lợi ích của họ là hợp pháp. Như vậy trách nhiệm cung cấp chứng
cứ và nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự của vụ việc dân sự. Toà
án nói chung hay Thẩm phán nói riêng chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự
có yêu cầu. Quy định như vậy Nhà nước đảm bảo được nguyên tắc tôn trọng
quyền tự định đoạt của đương sự.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự trực tiếp tiến hành
lập hồ sơ giải quyết vụ việc dân sự nên họ phải trực tiếp tiếp xúc trao đổi với
cá nhân, tổ chức, một số cơ quan có liên quan nhằm thu thập đầy đủ các
chứng cứ của vụ án để có căn cứ giải quyết vụ việc dân sự. Thẩm phán khi
giao tiếp với các đương sự hoặc những người tham gia tố tụng khác phải hết
sức mềm dẻo và thông thạo để các đương sự đưa ra chứng cứ đầy đủ và
chính xác. Trong quá trình giao tiếp, tuỳ theo đặc điểm tâm lí riêng của đối
tượng (trình độ văn hoá, tính cách, khí chất, năng lực) như thế nào mà Thẩm
phán sử dụng ngôn ngữ nói cho phù hợp.
2. Bắt đầu phiên tòa:
Trước khi bắt đầu khai mạc phiên tòa sơ thẩm Thư ký phiên tòa phải tiến
hành kiểm tra những người được triệu tập đến phiên tòa, sắp xếp chỗ ngồi
cho những người có mặt tại phòng xử án; nếu có người vắng mặt thì tìm hiểu
lý do. Đồng thời Thư ký phiên tòa phổ biến nội quy phiên tòa và yêu cầu mọi
người đến phòng xử án thực hiện theo đúng nội quy đó. Qua đó làm cho các
đương sự và tất cả những người tham dự phiên tòa có được những khái
xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật để chấp nhận hoặc không
chấp nhận yêu cầu đó.
3. Xét hỏi:
Xét hỏi công khai tại phiên toà sẽ tạo ra mối quan hệ giao tiếp tâm lí
phức tạp - đó là giao tiếp tâm lí nhiều chiều diễn ra giữa hội đồng xét xử với
các bên tham gia xét xử (người bào chữa, kiểm sát viên), với bị cáo và các
đương sự khác… tuỳ theo từng loại vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự:
Thẩm phán nói riêng, hội đồng xét xử nói chung giữ vai trò trung tâm,
điều khiển quá trình xét hỏi để làm sáng tỏ những tình tiết, những chứng cứ
liên quan đến việc giải quyết vụ án; điều khiển trình tự những người được xét
hỏi, những vấn đề cần xét hỏi; biết phối hợp với các thành viên trong hội
đồng xét xử để cùng tham gia xét hỏi; kịp thời cắt những ý kiến trình bày của
đương sự hay của các bên tham gia xét xử nếu ý kiến đó nằm ngoài phạm vi
xét hỏi hoặc ngoài những yêu cầu làm rõ các tình tiết vụ án.
Khi tòa án tiến hành xét xử vụ án công khai, tại đây những tình tiết,
chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xác minh công khai, dân
chủ tại phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy ở một số vụ án, tòa án đã tuyên
bị cáo không phạm tội hoặc bị cáo phạm tội theo khung hình phạt nhẹ hơn.
- Tòa án xét xử công khai, liên tục, trực tiếp và bằng lời. Trong quá trình
xét xử, hội đồng xét xử nói chung và Thẩm phán nói riêng phải tập trung tư
duy, tập trung chú ý cao độ để tiếp nhận thông tin, nghiên cứu, kiểm tra
nguồn của chúng. So sánh đánh giá chúng với mô hình sự kiện phạm tội có
trong hồ sơ vụ án tránh để quên, bị sót hoặc nhầm lẫn các tình tiết, chứng
cứ.
- Quá trình nhận thức của hội đồng xét xử nói chung, Thẩm phán nói
riêng bao gồm cả việc nhận thức các điều luật cần áp dụng đối với vụ án. Vì
vậy, đòi hỏi họ phải xác định được tương quan giữa mô hình vụ án và các
điều luật cần áp dụng. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thực tế cho thấy
không hiếm trường hợp một vụ án qua các cấp xét xử khác nhau thì các điều
ra những mâu thuẫn bên trong mà không phải bao giờ đương sự cũng có thể
nói ra, nói hết.
- Đối với các đương sự khác như người làm chứng, người bị hại, Thẩm
phán phải nắm vững đặc điểm tâm lý của họ để đưa ra các câu hỏi phù hợp;
phải làm cho họ có thái độ bình tĩnh, chú ý lắng nghe và trả lời câu hỏi của
hội đồng xét xử.
- Tác phong đi đứng cách ăn mặc, hành vi, cử chỉ của hội đồng xét xử
cũng ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm của phiên tòa, ảnh hưởng đến
hiệu quả giáo dục của hoạt động xét xử. Nhưng trong thực tế không phải
Thẩm phán nào cũng chú ý đến vấn đề này. Chẳng hạn, khi giao tiếp ở phiên
tòa có những Thẩm phán nói năng, cử chỉ rất “đời thường” làm cho mọi
người tham dự phiên tòa không có ấn tượng sâu sắc, vì vậy cũng ảnh hưởng
đến hiệu quả giáo dục pháp luật.
- Trong quá trình xét hỏi Thẩm phán phải đảm bảo thời gian, yêu cầu và
đồng thời phải đảm bảo xét hỏi sao cho dân chủ, khách quan, thông qua đó
lồng những nội dung pháp luật vào giải thích, hướng dẫn nhằm tuyên truyền,
giáo dục pháp luật trong nhân dân.
- Tác động giáo dục có ý nghĩa quan trọng của hội đồng xét xử là ở tính
nghiêm minh, đúng đắn, toàn diện của các phán quyết mà họ đưa ra phải
dựa trên những tình tiết, chứng cứ, lời khai đã được xác minh, kiểm tra một
cách công khai, dân chủ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nói chung, Thẩm phán
nói riêng phải khách quan, tôn trọng và lắng nghe ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, người bào chữa, lời khai của bị cáo và các đương sự;
phải đảm bảo và tôn trọng quyền dân chủ và bình đẳng của họ. Có như vậy
bản án họ đưa ra mới được các bên “tâm phục, khẩu phục”.
Hoạt động xét xử của Thẩm phán liên quan chặt chẽ tới quyền nghĩa vụ
cơ bản của công dân và tổ chức xã hội, ảnh hưởng lớn đến nền công lý quốc
gia. Mặt khác đằng sau mỗi bản án ngoài bị cáo, các đương sự còn có
những người thân (bố, mẹ, vợ chồng, con cái…) cũng bị ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống tinh thần hay vật chất. Quá trình xét hỏi tuỳ theo từng vụ
- Để việc xét hỏi có hiệu quả, làm rõ được những yêu cầu cần giải quyết,
có sự thuyết phục đối với đương sự và những người tham dự phiên tòa; hội
đồng xét xử và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải nắm vững hồ sơ và có kế
hoạch xét hỏi cụ thể để làm rõ các vấn đề liên quan đến tư cách nguyên đơn,
bị đơn; bị đơn có thừa nhận lời khai của nguyên đơn không ? thừa nhận nội
dung nào, không thừa nhận nội dung nào ? lí do không thừa nhận ?
- Nếu trong quá trình hỏi xuất hiện mâu thuẫn giữa các lời khai của
đương sự, Thẩm phán tổ chức đối chất giữa các đương sự có lời khai mâu
thuẫn đó, yêu cầu các đương sự phải khai rõ dựa vào cơ sở nào lại khai như
vậy.
- Trong quá trình hỏi nếu đương sự có những đề xuất mới trong việc giải
quyết vụ án thì Thẩm phán phải làm rõ đề xuất đó rồi mới tiếp tục hỏi về nội
dung; không nên lảng tránh đề xuất của các đương sự. Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa nên tìm ra cách giải quyết tình huống đó một cách hợp lý; bởi vì
việc giải quyết những tình huống nảy sinh trong quá trình hỏi có ý nghĩa pháp
lý và chính trị sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến đương sự của vụ án cũng như
những người tham dự phiên tòa.
Thực tiễn hoạt động xét xử đòi hỏi Thẩm phán không được có thái độ
lộng quyền, thiếu tôn trọng các bên đương sự, đưa ra các câu hỏi hàm ý
mớm câu trả lời. Hội đồng xét xử phải nghiêm túc, không để xảy ra tình trạng
dân chủ quá trớn, để các đương sự tranh nhau trả lời, đương sự nhiều khi
cướp lời của hội đồng xét xử; luật sư, kiểm sát viên tranh nhau hỏi
5
.
- Tại phiên toà, mọi câu nói, câu hỏi của Thẩm phán đòi hỏi phải chặt
chẽ, rõ ràng, nghiêm túc, lưu loát. Trong đó việc sử dụng ngôn ngữ (kể cả
âm sắc) đối với từng đối tượng cũng khác nhau, phải đảm bảo nghiêm túc,
có tính thuyết phục. Tuy nhiên, có những Thẩm phán không có sự nhạy cảm
về ứng xử, ngôn ngữ nói và hỏi đối với bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng, tội liên quan đến thuần phong mỹ tục cũng giống như cách nói, cách
động xét xử cho thấy, nếu hội đồng xét xử chú ý đến lời bào chữa của bị cáo,
tạo điều kiện để bị cáo được trình bày thì việc giải quyết vụ án được toàn
diện và chính xác hơn. Đồng thời bản án, quyết định về việc giải quyết vụ án
có sự phân tích, xem xét đầy đủ đến lời bào chữa của bị cáo sẽ có tính
thuyết phục cao hơn đối với bị cáo, với các đương sự của vụ án và những
người tham dự phiên tòa.
Các bên tranh luận có quyền yêu cầu bên kia giải thích những vấn đề
chưa rõ. Chủ toạ phiên toà là người quyết định bên bị yêu cầu có phải trả lời
yêu cầu đó không. Trên cơ sở đó hội đồng xét xử nói chung, Thẩm phán nói
riêng xem xét vụ án được toàn diện, ở nhiều góc độ để củng cố thêm quan
điểm về đánh giá chứng cứ, về áp dụng pháp luật và đường lối xét xử vụ án.
Ngoài ra họ phải thực hiện hoạt động tư duy tích cực, có hiệu quả để nghe
và nắm bắt diễn biến tư tưởng của các bên tham gia tranh luận trên cơ sở đó
khẳng định lại tính chất vụ án, từ đó ra quyết định đúng về vụ án trong giai
đoạn nghị án và tuyên án.
Trong phiên tòa hành chính, việc tranh luận diễn ra giữa các bên đương
sự, đại diện Viện kiểm sát không tham gia tranh luận (trừ vụ án do Viện kiểm
sát khởi tố). Sau khi nghe ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát
trình bày ý kiến chính thức của mình về hướng giải quyết vụ án (phát biểu
sau cùng).
Hội đồng xét xử không tham gia vào tranh luận mà cần tập trung chú ý,
lắng nghe ý kiến, lý lẽ của từng bên; trên cơ sở đó xem xét vụ án một cách
toàn diện, củng cố thêm quan điểm về đánh giá chứng cứ, về áp dụng pháp
luật và đường lối xét xử đối với vụ án.
- Trong vụ án dân sự: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa điều khiển toàn bộ
quá trình tranh luận đi đúng hướng và đúng trọng tâm nhằm làm sáng tỏ sự
việc có những ý kiến khác nhau của những người tham gia tố tụng, từ đó làm
sáng tỏ các tình tiết của vụ án.
- Tranh luận tại phiên toà là một giai đoạn tố tụng, đảm bảo quyền bình
đẳng trước pháp luật của những người tham gia tố tụng trong phiên toà hình
hội đồng xét xử. Từ đó giải quyết một số vấn đề trọng tâm như: xác định
chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là những quan hệ
pháp luật nào? (vụ án hành chính hay vụ việc dân sự); sự tương quan giữa
mô hình vụ án với các quy định của pháp luật (vụ án hình sự); xác định và
đối chiếu những chứng cứ, những tài liệu trong hồ sơ vụ án một cách công
khai tại phiên toà để từ đó ra những quyết định, bản án.
- Các thành viên trong hội đồng xét xử độc lập nhận thức vụ án như: xác
định các đặc điểm, các thành phần của mô hình vụ án, xác định sự tương
quan giữa các sự kiện xảy ra với các điều luật tương ứng. Trên cơ sở đó họ
đưa ra ý kiến của mình và biểu quyết khi nghị án, ý kiến chiếm đa số sẽ
quyết định cuối cùng của hội đồng xét xử. Vì vậy các thành viên hội đồng xét
xử phải có ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm cao trong các quyết định
được đưa ra.
- Trong giai đoạn nghị án, Thẩm phán cùng các thành viên trong hội
đồng xét xử không chỉ ra các quyết định hay bản án mà còn đảm bảo cho
việc thực hiện các quyết định, bản án đó trên thực tế. Do đó, hội đồng xét xử
nói chung và Thẩm phán - chủ tọa phiên toà nói riêng còn phải xác định các
biện pháp cưỡng chế cần thiết. Chẳng hạn để đảm bảo cho việc thi hành án,
cùng với việc tuyên án, chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử còn phải xác
định các vấn đề có liên quan đến thi hành án như : xác định trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức hữu quan, xác định vấn đề liên quan đến điều kiện
chấp hành hình phạt như hoàn cảnh gia đình, nhân thân, sức khoẻ. Hội đồng
xét xử có thể cho hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án đang
tại ngoại trong trường hợp ốm nặng, phụ nữ có thai hoặc mới sinh con.
- Để đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác khi ra bản án,
quyết định thì quá trình nghị án phải đảm bảo một số điều kiện mang tính
nguyên tắc như sau :
Thứ nhất : Toà án xét xử tập thể, quyết định theo đa số. Khi xét xử một
vụ án, hội đồng xét xử quyết định số phận pháp lý của một con người và điều
đó liên quan đến nhiều người khác (gia đình, họ hàng, bạn bè…) và tác động
sự giám sát của nhân dân trong xét xử cũng như để nâng cao tác dụng giáo
dục, phòng ngừa của hoạt động xét xử. Đối với phiên tòa hình sự, mọi công
dân (trừ trẻ em dưới 16 tuổi) đều có quyền tham dự phiên toà, được nghe ý
kiến của hội đồng xét xử cũng như những người có liên quan đến vụ án.
Trong những trường hợp cần thiết phải giữ bí mật Nhà nước, thuần phong
mỹ tục của dân tộc hoặc bí mật đời tư của đương sự toà án có thể xử kín
một phần hay toàn bộ vụ án. Tuy nhiên, dù xét xử công khai hay xử kín,
quyết định của tòa án đều phải được công bố công khai để mọi người được
biết.
Tòa án phải xét xử liên tục đòi hỏi hội đồng xét xử khi ra được bản án,
quyết định phải tư duy căng thẳng, phải duy trì liên tục không thể ngắt quãng
quá trình suy luận. Họ phải tập trung chú ý để tránh sai sót, nhầm lẫn, bỏ
quên các thông tin, các chứng cứ của vụ án. Để đảm bảo được tính khách
quan, dân chủ trong nghị án Thẩm phán – chủ toạ phiên toà nên để các
thành viên trong hội đồng xét xử nêu ý kiến trước, còn mình sẽ nêu ý kiến
sau cùng.
6. Tuyên án:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên toà, thay mặt hội đồng xét xử, nhân danh
Nhà nước tuyên một bản án hay ra quyết định về vụ án mà mình được phân
công giải quyết. Để đảm bảo sự trang nghiêm của phiên tòa, khi tuyên án các
thành viên hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, Thư ký phiên tòa và
những người có mặt tại phòng xử án phải đứng dậy.
- Để việc tuyên án có tính thuyết phục cao, tác động đến đương sự của
vụ án cũng như những người tham dự phiên toà đòi hỏi Thẩm phán đọc bản
án phải rành mạch, rõ ràng, khúc triết.
- Để bản án có ý nghĩa giáo dục thì khi viết bản án đòi hỏi Thẩm phán
phải xử dụng ngôn ngữ chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu; không dài dòng, suy
diễn. Văn trong bản án là văn nghị luận, khi Thẩm phán đưa ra các luận cứ,
luận chứng, luận điểm phải rõ ràng. Bản án là mệnh lệnh, một trong những
tính chất của ngôn ngữ bản án là tính hành chính; do đó lời lẽ phải rõ ràng,