ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
ĐẬU TRỌNG HẢO
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LỆNH THỰC HIỆN
DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
ĐẬU TRỌNG HẢO
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LỆNH THỰC HIỆN
DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số
: 60 31 02 01
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………….
5
Chƣơng 1: PHÁP LỆNH DÂN CHỦ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LỆNH DÂN CHỦ TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN YÊN THÀNH……………………………………………
11
1.1. Pháp lệnh dân chủ trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở
Việt Nam…………………………………………………………………
11
1.2. Những nhân tố tác động đến việc thực thi Pháp lệnh dân chủ trên địa
bàn huyện Yên Thành từ 2007 đến 2016…………………………………
21
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LỆNH DÂN CHỦ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN THÀNH TỪ 2007 ĐẾN 2016……….
32
2.1. Quan điểm, chủ trương triển khai thực thi Pháp lệnh dân chủ trên địa
67
KẾT LUẬN………………………………………………………………
85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………..
87
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
QCDC
Quy chế dân chủ
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
07/7/2003 Nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định số 79/NĐ-CP. Dấu
mốc pháp lý quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của dân chủ ở cơ sở là
việc ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (từ đây trong Luận văn gọi tắt là Pháp lệnh
dân chủ). Pháp lệnh dân chủ là một nền tảng pháp lý quan trọng để thực hiện
pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhằm phát huy quyền làm chủ, sức
sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức mạnh vật chất và
tinh thần của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng
5
cường đoàn kết, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn
và khắc phục tình trạng suy thoái; quan liêu, tham nhũng, góp phần thực hiện
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, theo định
hướng XHCN.
Quá trình triển khai thực thi Pháp lệnh dân chủ trên địa bàn toàn quốc nói
chung, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được nhiều kết quả
đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong thực tế triển khai vẫn còn bộc lộ những thiếu
sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên
nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham nhũng, gây
phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng. Phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chậm đi vào cuộc sống.v.v.. Do vậy, với
mong muốn vận dụng kiến thức đã học để nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải
pháp, qua đó góp phần cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền và nhân dân
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An nâng cao hiệu quả việc thực thi Pháp lệnh dân
chủ - một vấn đề chưa được nghiên cứu, nhất là từ góc tiếp cận Chính trị học tôi đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” cho
luận văn thạc sỹ Chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
sống xã hội, tạo động lực và mục tiêu cho sự nghiệp xây dựng đất nước [19].
Công trình Hỏi - đáp về dân chủ và tổ chức thực hiện năm 2007 do tác giả
Lê Trọng Vinh chủ biên: Công trình giới thiệu và giải đáp những vấn đề lý luận
về dân chủ và dân chủ cơ sở, đồng thời góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ
bản của Pháp lệnh dân chủ, qua đó góp phần làm cho công tác thực thi pháp lệnh
đạt hiệu quả cao, làm cho nhân dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
mình trong việc đóng góp ý kiến với chính quyền, thực hiện đúng phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” [70].
Công trình Hỏi - đáp về dân chủ cơ sở do tác giả Lan Anh chủ biên: Ngoài
việc cung cấp lý luận về dân chủ và dân chủ cơ sở, công trình còn giải đáp những
khúc mắc của quần chúng nhân dân trong quá trình tham gia vào công việc của chính
quyền cũng như giúp người dân nắm rõ quyền, nghĩa vụ của họ [2].
7
Ngoài các công trình nghiên cứu đã được xuất bản, hiện còn có khá nhiều
luận văn, luận án cũng lựa chọn thực hiện các đề tài gần hoặc có liên quan với đề
tài nghiên cứu của tôi, trong đó đặc biệt đáng lưu ý là các luận văn, luận án
nghiên cứu vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, chẳng hạn Luận văn chuyên
ngành lịch sử nhà nước và pháp luật Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội của tác giả Vương Ngọc Thịnh: Luận văn giới
thiệu những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về dân chủ cơ sở và quá trình thực
hiện quy chế dân chủ trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội [57].
Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu vấn
đề thực thi Pháp lệnh dân chủ trên địa bàn huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Riêng ở huyện Yên Thành, hiện có các văn bản, chỉ thị của Huyện ủy, Ủy
ban nhân dân huyện về triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ; các báo cáo đánh
giá của ban chỉ đạo huyện ủy, ban chỉ đạo một số cụm, xã. Đây là một nguồn tài
liệu tham khảo hữu ích cho luận văn, tuy nhiên, đó là những văn bản chính trị, có
Trong công trình nghiên cứu của mình, tôi quan niệm việc nâng cao hiệu
quả thực thi Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An chính là việc xác định rõ phương hướng và đưa ra
những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh trong thời gian tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
- Thời gian:
+ Nghiên cứu thực trạng thực thi Pháp lệnh dân chủ từ 2007 đến năm 2016.
+ Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh
dân chủ trên địa bàn huyện Yên Thành từ 2016 đến 2025.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được thực hiện trên
cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên
9
ngành khoa học chính trị, trong đó tập trung vào các phương pháp nghiên cứu cụ
thể sau:
- Phương pháp phân tích văn bản chính trị.
- Phương pháp phân tích quá trình chính sách.
- Phương pháp điều tra xã hội học.
6. Đóng góp của luận văn
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng thực thi Pháp lệnh dân chủ trên địa bàn
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An từ 2007 đến 2016.
Lịch sử đã chứng minh rằng, dân chủ là khát vọng lớn lao, là đòi hỏi bức thiết
của xã hội loài người, là một giá trị, lý tưởng đặc biệt quan trọng mà con người
luôn phấn đấu vươn tới; đồng thời đây cũng chính là là một động lực quan trọng thúc
đẩy xã hội phát triển. Sự phát triển của dân chủ đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã
hội loài người.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của dân chủ trong đời
sống xã hội, nên ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt
quan tâm đến dân chủ và phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân, coi dân
11
chủ hóa đời sống xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi, là một vấn đề hệ trọng,
mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.
Đường lối dân chủ của Đảng xuất phát từ tư tưởng dân chủ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, vấn đề trung tâm
trong suy nghĩ của Người chính là xây dựng chế độ xã hội dân chủ thực sự, trong
đó nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân làm chủ và vì lợi ích của nhân
dân. Dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là “Của quý bảu nhất của nhân dân”,
thực hành dân chủ chính là chìa khóa vạn năng đề giải quyết mọi vấn đề. Người
quan niệm: “Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ”. Ngay sau khi đất
nước giành được độc lập, Người đã khẳng định rõ quan điểm về dân chủ
trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam là:
“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương tới xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[51, tr. 114].
Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Hồ Chí
mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân chính là cội nguồn làm nên
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Quốc hội mới sau khi được bầu đã ngay
lập tức bắt tay vào xây dựng Hiến Pháp. Hiến pháp năm 1946 chính là Hiến pháp
dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho quá
trình xây dựng một nhà nước của dân, do dân vì dân, một nhà nước dân chủ, tiến
bộ trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ. Đây cũng chính là một trong những
động lực để Đảng Cộng sản Việt Nam có thể huy động, lãnh đạo nhân dân đấu
tranh giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ sau đó.
Đi vào nội dung cụ thể của dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”
[51, tr. 102]. Thực chất của nó là chế độ trưng cầu ý dân - một hình thức dân chủ
trực tiếp được đề ra rất sớm ở Việt Nam.
13
Người nhấn mạnh rằng nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và
đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tin cậy của
nhân dân. Cán bộ phải thực sự là đầy tớ của nhân dân, đồng thời phải là người có
năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước. Là đầy tớ của dân thì phải tuyệt đối tận tụy, trung thành,
cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Là
người lãnh đạo phải có trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt, nhìn xa, trông
rộng, gần gũi nhân dân, trọng dụng hiền tài. Có nghĩa là người thay mặt nhân
dân phải có đủ cả đức và tài, thiếu một trong hai điều đó đều không được.
Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện rõ qua hình thức dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện. Quốc hội là cơ quan cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là nơi mà thông qua đại
biểu của mình, nhân dân phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc,
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành
lập Đảng ngày 3/2/ 1030, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Cách mạng
Việt Nam là tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” và
xác định rõ nhiệm vụ cách mạng là: “Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và giai
cấp phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được
tự do…tịch thu hết sản nghiệp lớn của bọn đế quốc, lấy ruộng đất chia cho
dân cày nghèo” [44, tr. 7].
Với thái độ nghiêm túc “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày
15 đến ngày 18/12/1986 đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó ngay bài
học đầu tiên đã xác định: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán
triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”, xây dựng, phát huy tối đa quyền làm chủ của
nhân dân lao động.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) và Đại hội VIII của Đảng (7/1996),
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân
dân và xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, tầng lớp trí
thức làm nền tảng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ
của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm
phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
15
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, Hội nghị lần thứ ba Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII về phát huy quyền làm chủ của nhân dân tiếp
tục đề ra mục tiêu xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch,
vững mạnh, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước. Hội nghị cũng đưa ra phương
hướng chủ yếu là giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt
Nam; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng
xây dựng Đảng và nhà nước trong sạch, vững mạnh, Thường vụ Bộ Chính trị
quyết định tổ chức nghiên cứu xây dựng thiết chế dân chủ cơ sở và lập tổ chỉ đạo
việc nghiên cữu, xây dựng thiết chế dân chủ cơ sở.
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30-CT/TW về xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Đây là một bước tiến lớn, hết sức quan
trọng trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam với những
quan điểm chỉ đạo như sau:
- Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng
thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn mạnh một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp
mặt khác.
- Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, HHĐND và UBND các cấp, vừa thực
hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực
tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình.
- Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao
dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có hiệu quả và chất lượng.
- Nội dung các quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở phải phù hợp với Hiến
pháp, pháp luật, thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền
hạn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu,
mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi
phạm pháp luật.
- Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác
cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách về thủ tục hành chính.
Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, Ban bí thư Trung ương
Đảng (khóa IX) tiếp tục ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/02/2002 về
17
tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, gắn với việc
1.1.2. Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về thực hiện dân chủ ở cơ sở
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo về
mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa và thực hiện chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng. Nhà nước là tổ chức quyền lực thể hiện và
thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân và chịu trách
nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật.
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nêu rõ:
“Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri
thức” [59, tr. 2]. Quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua hai
hình thức chính là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và
thực hiện QCDC ở cơ sở, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã lần lượt ra các
Nghị quyết số 45-NQ/UBTVQH ngày 26/02/1998 về xây dựng và thực hiện
QCDC ở cơ sở và Nghị quyết số 60-NQ/UBTVQH ngày 20/08/1998 về việc
ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở loại hình doanh nghiệp Nhà nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội về xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số
29/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/09/1998 của Chính phủ ban hành Quy
chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số
07/1999/NĐ-CP ngày 13/02/1999 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực
hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; trước yêu cầu cấp thiết của việc thực
hành dân chủ ở cơ sở, để đẩy nhanh hơn nữa quá trình dân chủ hóa đời sống
xã hội nước ta, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh
dân chủ ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh
gồm 6 chương, 28 điều, cụ thể:
Có thể khẳng định rằng Pháp lệnh dân chủ là một bước tiến rất quan trọng
của Nhà nước Việt Nam trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và xây
dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân. Sự ra đời của Pháp
20
lệnh góp phần to lớn trong việc phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân,
góp phần xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; góp
phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu nhân dân.
Những quy định của Pháp lệnh dân chủ cơ sở thực sự là khung khổ pháp lý cho
thực hiện dân chủ ở Việt Nam. Đây cũng chính là khung khổ mà luận văn lấy
làm căn cứ để thực hiện đề tài này.
1.2. Những nhân tố tác động đến việc thực thi Pháp lệnh dân chủ trên
địa bàn huyện Yên Thành
1.2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Yên Thành
Huyện Yên Thành nằm ở phía bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh
và sân bay Vinh 60 km về phía nam; cách Quốc lộ 1A 12 km về phía đông, cách
Ga Sy 9km về phía đông trên đường Tỉnh lộ 538 đi Quốc lộ 1A), cách cảng Cửa
Lò 40 km về phía đông nam, cách Hà Nội 290 km về phía bắc. Yên Thành là
vùng đất nửa trung du miền núi, nửa đồng bằng với diện tích tự nhiên là 54.829
ha, dân số vào khoảng 29 vạn dân. Phía bắc giáp các huyện Tân Kỳ, Quỳnh Lưu,
Diễn Châu; phía đông giáp huyện Diễn Châu; phía đông nam giáp huyện Nghi
Lộc, phía nam giáp huyện Đô Lương.
Về địa hình, huyện Yên Thành tựa hình lòng chảo, ba phía bắc, tây, nam
là rừng núi và đồi thấp, ở giữa và phía đông là vùng đồng bằng trũng tiếp giáp
với huyện Diễn Châu; với chiều dài gần 40km từ bắc xuống nam, chiều rộng gần
35km từ đông sang tây, Yên Thành là một trong những huyện có diện tích lớn
của toàn tỉnh. Nơi gần bờ biển nhất là xã Đô Thành (cách biển 6km). Đỉnh Vàng
Tâm với độ cao 544m, là ngọn núi cao nhất huyện nằm ở phía bắc xã Lăng
Thành, Nhân Thành, Phúc Thành, Phú Thành, Quang Thành, Sơn Thành, Tăng
Thành, Tân Thành, Thọ Thành, Thịnh Thành, Trung Thành, Văn Thành, Viên
Thành, Vĩnh Thành, Xuân Thành, Đại Thành, Tây Thành, Kim Thành, Mã
Thành, Tiến Thành) có 523 làng, 87 khu dân cư. Toàn huyện có 78 tổ chức cơ
sở Đảng, trong đó có 39 Đảng bộ xã, thị trấn, 10 đảng bộ trực thuộc, 52 chi bộ
trực thuộc huyện ủy với tổng số 5.528 đảng viên, có 20 cơ quan hành chính, 10
doanh nghiệp nhà nước và 235 doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
22
Trong 30 năm tiến hành đổi mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ
thống chính trị, đảng bộ và nhân dân huyện Yên Thành đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, đổi mới kinh tế được xác định là
nhiệm vụ trọng tâm, đến nay Yên Thành đã chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để
xây dựng và phát triển một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hòa mình vào sự phát triển chung của cả nước.
Về nông nghiệp, do vị trí địa lý nằm trong vùng địa hình nửa đồng bằng,
nửa trung du, đồi núi, với lợi thế con sông Đào nối từ thượng nguồn sông Lam
chảy qua hầu hết các xã trên địa bàn huyện, ngoài ra có 232 hồ đập lớn nhỏ ở các
xã miền núi là nguồn nước phục vụ sản xuất, từ lâu Yên Thành đã nổi danh với
nền nông nghiệp lúa nước truyền thống. Nông nghiệp ở Yên Thành chủ yếu là
trồng lúa, chăn nuôi tự túc và làm kinh tế trang trại. Với diện tích tự nhiên
54.829 ha; đất nông nghiệp 22.817 ha (trong đó đất trồng lúa nước 13.600 ha),
đất lâm nghiệp 20.788 ha, đất phi nông nghiệp 9.928 ha, đất chưa sử dụng 920
ha; phù hợp với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp; nhiều vùng đất rộng lớn có
điều kiện thổ nhưỡng phù hợp phát triển cây cam hàng hóa. Yên Thành được biết
đến là huyện có trình độ thâm canh lúa, năng suất, sản lượng luôn đứng đầu tỉnh
Nghệ An (bình quân mỗi năm đạt 150 -155 ngàn tấn lúa); ngoài việc sản xuất các
loại lúa giống chất lượng cao , nay có thêm mô ̣t số cây trồ ng mới đã đươ ̣c khẳ ng