biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm người trong bao (sê khốp) ở lớp 11 thpt miền núi - Pdf 24

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU THẢO

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
TÁC PHẨM “NGƢỜI TRONG BAO” (SÊ KHỐP)
Ở LỚP 11 THPT MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
TÁC PHẨM “NGƢỜI TRONG BAO” (SÊ KHỐP)
Ở LỚP 11 THPT MIỀN NÚI
Chuyên ngành: Lý luận và Phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
MÃ SỐ: 60.14.01.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Huy Quát
Thái Nguyên - 2013

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái
Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn. Tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS. TS. Nguyễn Huy Quát – người đã
trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn “Biện pháp nâng cao
hiệu quả dạy học tác phẩm “Người trong bao” (Sê Khốp) ở lớp 11 THPT
miền núi”. Tôi cũng xin được cảm ơn tất cả người thân, bạn bè đã giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này. Dù đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, vì vậy chúng tôi mong muốn sẽ nhận được sự góp ý từ thầy
cô và các bạn. Chúng tôi cũng hi vọng những nghiên cứu được đặt ra trong
luận văn sẽ trở thành nguồn tư liệu có giá trị đối với việc dạy học tác phẩm
văn chương nói riêng và dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thảo
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii

1.4 Dạy học tác phẩm truyện ngắn theo đặc trưng loại thể 30
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN HỌC NƢỚC NGOÀI VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
TRUYỆN NGẮN “NGƢỜI TRONG BAO” Ở LỚP 11, THPT MIỀN NÚI 35
2.1 Vài nét về tác phẩm VHNN trong chương trình, SGK Ngữ văn THPT
hiện hành 35
2.2 Những khó khăn khi giảng dạy tác phẩm VHNN ở trường THPT 37
2.2.1 Vấn đề bản dịch 37
2.2.2 Vấn đề ngôn ngữ 38
2.2.3 Vấn đề thời lượng trong phân phối chương trình VHNN 39
2.2.4 Vấn đề quan niệm của người dạy đối với các tác phẩm VHNN 39
2.2.5 Vấn đề dối tượng tiếp nhận là HS miền núi 40
2.3 Thực trạng và tồn tại trong giảng dạy VHNN ở trường THPT 40
2.3.1 Những hạn chế trong dạy và học VHNN ở trường THPT 41
2.3.2 Thực trạng về dạy học tác phẩm “Người trong bao” 42
2.4 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn “Người trong
bao” của Sê khốp 59
2.4.1 Đôi điều cần lưu ý đối với giáo viên 59
2.4.2. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn
“Người trong bao” – Sê khốp (SGK Ngữ văn 11) 67
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ DẠY THỂ NGHIỆM TRUYỆN NGẮN “NGƢỜI
TRONG BAO” 73
3.1. Đối tượng và nội dung thể nghiệm 73
3.2. Phương pháp và phương tiện dạy học 73
3.3. Quy trình triển khai thể nghiệm 74
3.4. Kết quả của quá trình thể nghiệm 90
3.4.1. Kết quả thu được từ phía HS 90
3.4.2. Một số ý kiến đánh giá từ phía nhà trường và GV dự giờ 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

5
HS
Học sinh
6
GV
Giáo viên
7
SGK
Sách giáo khoa
8
THPT
Trung học phổ thông

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học nước ngoài (VHNN) trong chương trình Ngữ văn ở trường
THPT chiếm một vị trí quan trọng. Về dung lượng và thời lượng phần văn
học này chiếm tỷ lệ không nhỏ trong chương trình SGK toàn cấp học. Đây là
những tác phẩm tinh hoa của văn học thế giới, đã vượt qua thử thách khắc
nghiệt của không gian và thời gian. Trong luận văn này, chúng tôi chọn nghiên

đánh giá tác phẩm theo sự cảm nhận riêng. Và do đó, chân lí nghệ thuật sẽ
được tiếp nhận một cách tự giác và tác động nghệ thuật sẽ lâu bền hơn trong
lòng bạn đọc, trong đó có bạn đọc - học sinh (HS). Văn học trong Nhà trường
còn góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho HS, mang lại cho các em
nhiều lợi ích và kĩ năng sống.
Tuy nhiên, vì văn học là một môn nghệ thuật nên việc xây dựng PPDH
phù hợp với môn học này cũng có những thuận lợi và khó khăn riêng. Những
phương pháp đó phải đạt được yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với
môn Văn, nói chung và bài học VHNN, nói riêng. HS học VHNN không chỉ
có những kiến thức, kĩ năng sử dụng trong cuộc sống mà còn biết trân trọng
những giá trị tinh thần cao đẹp của nhân loại, giúp cho tâm hồn, nhân cách
của các em được hoàn thiện.
Đổi mới PPDH Văn đòi hỏi có những nghiên cứu thực sự nghiêm túc
bởi đó không phải là việc dễ dàng. Tuy nhiên, đổi mới PPDH phần VHNN lại
càng khó khăn hơn, bởi có những độ “vênh” về văn hóa, vốn sống, ngôn
ngữ so với cả người dạy và người học ở Việt Nam.
1.2 Về độ “vênh” thường gặp khi dạy VHNN ở Việt Nam
Với Văn học Việt Nam, HS được học những tác giả, tác phẩm không xa
lại với các em về mặt ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa và vốn sống thực tế ở mức
độ nhất định (tuy cũng có những cái khó riêng); còn với VHNN, việc dạy và
học qua bản dịch nên còn bị “rào cản” như: “vênh” về tri thức lịch sử - văn
hóa có quan quan đến tác phẩm, “vênh” về vốn sống thực tế, phong tục tập
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/3
quán, “vênh” về ngôn ngữ Những tác phẩm VHNN được lựa chọn đưa vào
trường THPT đều là những tác phẩm tiêu biểu, có giá trị của các nền văn học

4
đa phần là HS dân tộc thiểu số. Vấn đề giáo dục văn hóa cho các em, đưa các
em đến với ánh sáng tri thức của nhân loại cũng không nằm ngoài những khó
khăn kể trên. Cần có những biện pháp như thế nào để kích thích sự hăng say học
tập của HS miền núi đối với các tác phẩm văn học (TPVH) nói chung, VHNN
nói riêng trong đó có truyện ngắn “Người trong bao” của nhà văn Sê khốp?
Những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu, có những luận
văn, luận án về đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học VHNN, trong đó có cả
những đề tài, nghiên cứu khoa học về Truyện ngắn “Người trong bao” (Sê
Khốp) ở lớp 11 hoặc có những đề tài nghiên cứu về cách thức tổ chức dạy học
cho HS dân tộc miền núi, nhưng “Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tác
phẩm “Người trong bao” (Sê khốp) ở lớp 11 – THPT miền núi” với đối
tượng là HS miền núi, dân tộc thiểu số thì chưa có một nghiên cứu nào.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn “Biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học tác phẩm “Người trong bao” (Sê khốp) ở lớp 11 – THPT miền núi”
làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu tư
cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao
nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Ông cha ta đã
từng nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh,
nguyên khí yếu thì nước suy’’. Nâng cao chất lượng giáo dục là một nhiệm vụ
quan trọng. Đặc biệt hơn nữa là phải đẩy nhanh chất lượng giáo dục miền núi
nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực. Phương pháp giảng dạy là
một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào
tạo, đặc biệt với HS miền núi vốn có những hạn chế riêng. Một phương pháp
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

khi đó, về phương diện lí luận, chúng ta coi tính dân tộc như một thuộc tính.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/6
Việc đọc hiểu khám phá, để hiểu đúng văn bản chính là một yêu cầu quan
trọng trong quá trình giảng dạy phần VHNN, nói chung và các tác phẩm văn
xuôi nước ngoài sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 11, nói riêng.
Khóa luận tốt nghiệp “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi
nước ngoài SGK Ngữ văn 11” của Trương Thị Thùy Linh có mục đích cơ bản
là hình thành phương pháp và qui trình dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi nước
ngoài ở SGK Ngữ văn 11. Qua đó, GV có thể có cái nhìn bao quát về quá
trình giảng dạy đọc hiểu đối với tác phẩm VHNN; đồng thời HS có được
phương pháp đọc hiểu cơ bản khi tiếp xúc với những văn bản này, nhờ vậy
tránh được những cách hiểu sai lệch vấn đề trọng tâm trong các tác phẩm.
Luận văn Thạc sĩ “Dạy học phần Văn học nước ngoài lớp 11 theo quan
điểm sư phạm tương tác” của Nguyễn Thị Luân đã đề xuất một số phương
pháp, cách thức dạy học phần VHNN cho HS lớp 11 theo quan điểm sư phạm
tương tác, nhằm nâng cao hứng thú, tăng hiệu quả dạy học.
2.2 Xét về lịch sử nghiên cứu về đổi mới PPDH với đối tượng là HS
miền núi, dân tộc thiểu số phải kể đến tài liệu “Tổ chức dạy học cho HS dân
tộc, miền núi” do TS. Phạm Hồng Quang – Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên biên soạn. Trước thực trạng giáo dục miền núi còn nhiều bất cập, khó
khăn do tính đặc thù cần được tháo gỡ, TS. Phạm Hồng Quang đã viết tài liệu
nhằm phục vụ mục đích trên. Tác giả đã phân tích khá sâu sắc đặc điểm tâm
lý của HS miền núi, những nét đặc thù về lịch sử, địa lý, kinh tế, truyền thống
văn hóa, giáo dục miền núi, từ đó trình bày phương pháp và các hình thức tổ
chức học tập phù hợp với HS các dân tộc miền núi và điều kiện dạy học ở

Người trong bao nói riêng ở lớp 1, THPT miền núi.
- Tìm hiểu đặc điểm tâm lí của HS dân tộc miền núi
- Thiết kế tác phẩm Người trong bao trong sách giáo khoa Ngữ văn 11
để kiểm nghiệm hiệu quả các biện pháp đã đề xuất.
- Tiến hành dạy thể nghiệm tác phẩm Người trong bao
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụng các
nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/8
- Nhóm phương pháp nghiên cứu Lý thuyết những vấn đề lí luận có
liên quan đến việc dạy và học ở trường phổ thông.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, khảo sát, phỏng
vấn, phân tích, đánh giá tổng hợp.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
+ Chương I: Cơ sở lí luận của đề tài
+ Chương II: Thực trạng dạy học VHNN ở trường THPT và đề xuất
một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn “Người trong bao”
+ Chương III: Thiết kế và thể nghiệm tổ chức dạy học truyện ngắn
“Người trong bao” của Sê Khốp trong chương trình Ngữ văn 11
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Các phụ lục
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/10
Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo, nó làm cho tác phẩm
không đứng yên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm. Tính sáng tạo của tiếp
nhận văn học đã được khẳng định từ lâu, nhà ngữ văn Nga Pôlepnhia đã nói:
“Chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi ca chừng nào chúng ta tham gia vào
việc sáng tạo nó”.
Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đem
lại ánh sáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương, mở thêm một
lối đi cho khảo sát văn chương khiến nó không bị đóng khung trong việc xem
xét mối quan hệ nhà văn và tác phẩm.
1.1.2 Lý thuyết tiếp nhận văn học từ truyền thống đến hiện đại
1.1.2.1 Lý thuyết tiếp nhận truyền thống
Hoạt động văn học từ xưa đến nay vận hành theo ba khâu: Nhà văn –
Tác phẩm – Bạn đọc. Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc đã từ rất lâu
được người ta ít nhiều đề cập. Hoạt động tiếp nhận chỉ thực sự được đặt ra
một cách có hệ thống từ khi văn học thành văn ra đời. Lý luận tiếp nhận văn
chương theo kiểu truyền thống quan niệm tiếp nhận văn chương ở hai dạng:
tri âm và ký thác.
Tiếp nhận theo kiểu tri âm: là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của
tác giả. Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của
tác giả ký gửi vào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm
trong cùng một vòng tròn đồng tâm. Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu
biết, cảm thông lẫn nhau. Tiếp nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ
quan, người ta quan niệm rằng tác phẩm được viết là để dành riêng cho những
người sánh văn chương, có khả năng đi sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi

không ngừng mở rộng giới hạn nghiên cứu của mình: đi sâu khám phá những
cấp độ khác nhau, lý giải về tính quy luật của hoạt động tiếp nhận … Nhờ vậy
mà cơ chế phức tạp của hoạt động này ngày càng được nhận thức một cách
khoa học và đầy đủ hơn.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/12
1.1.3 Tiếp cận đồng bộ trong dạy học TPVC
Tiếp cận đồng bộ TPVC trong nhà trường là một xu hướng tiến bộ, nó
vừa đảm bảo được phương pháp lịch sử phát sinh, vừa chú trọng được tác giả,
tác phẩm, đồng thời chú trọng đến vai trò tích cực của người đọc. Đặc biệt là
đặt tác phẩm trong bối cảnh sinh ra nó để hiểu sự vận động của tác phẩm, hiểu
ý tại ngôn ngoại trong thông điệp mà nhà văn gửi tới bạn đọc.
PPDH TPVC trong nhà trường, dưới ánh sáng của tiếp nhận văn học
phải là tiếp cận đồng bộ tức là cùng tiến hành ở 3 khía cạnh sau:
1.1.3.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh và sự vận dụng một cách
thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hoá, nhà văn ) để cắt
nghĩa tác phẩm.
Mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu
sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử. Mỗi nhà văn đều có khuynh hướng
khẳng định tài năng và nhân cách riêng, khẳng định vị thế của mình trong
dòng chảy văn học. Do vậy, việc nghiên cứu văn học phải dựa vào lịch sử là
một tất yếu. Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá, là một cá nhân
trong cộng đồng xã hội, nên việc tìm hiểu cá nhân văn hoá của nhà văn ở một
mức độ nào đó sẽ giúp cho người đọc hiểu hơn tác phẩm của họ.
Văn học cũng như mỗi TPVC luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử
xã hội văn hoá cụ thể; những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng

con người mà chúng ta không thể bỏ qua, không thể không biết đến. Chính
các yếu tố văn hoá của văn bản lại càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mĩ của
văn bản. Vì vậy, nó đòi hỏi sự nếm trải hay trải nghiệm cần thiết của người
đọc mới có hi vọng giải mã được những thông tin thẩm mĩ trong tác phẩm.
Đặc biệt người đọc phải có một khả năng ngôn ngữ tối thiểu để tri giác văn
bản, để thấu hiểu ngôn từ và đời sống của nó trong văn bản.
Cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyên Tuân ngoài giá trị
thẩm mĩ, ý nghĩa nhân văn còn có giá trị văn hoá truyền thống. Sự khao khát
cái đẹp, trân trọng người tài, lấy cái tài mà giữ gìn thiên lương trong sáng. Đó
là nét đẹp văn hoá cần được khai thác và giáo dục.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/14
Thiếu vốn văn hoá cần thiết thì việc cảm thụ văn chương cũng dễ bị sai
lệch hoặc thiếu sâu sắc.
“Văn chương vốn là một cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống” - Mác
đã từng ghi nhận tính chân thực sâu sắc của văn chươg. M. Gorki nói nhờ văn
chương mà hiểu cuộc đời và con người hơn.
Nói đến TPVC là nói đến một văn bản trong chỉnh thể. Tác phẩm văn
chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng lên một thế
giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ
giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phận và toàn thể, giữa yếu tố hữu hình và
yếu tố vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiềm văn bản.
Chính vì vậy mà khi giảng văn, cần chú trọng tính nhất quán, cảm hứng chủ
đạo của nhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và đặc biệt là tính chỉnh thể
của tác phẩm.
Có nhiều yếu tố thuộc lĩnh vực tiềm văn bản khi tiếp nhận văn chương

đọc để trở lại với cuộc sống vốn là xuất phát điểm.
Chính vì thế việc dạy học văn theo lối truyền thụ một chiều là dạy học
áp đặt không đem lại hiệu quả. Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở
trung học theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũng là sự vận dụng
sáng tạo kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học
hiện đại. Việc dạy học TPCV phải bắt đầu từ thói quen tự đọc của học sinh, từ
thói quen tự khám phá trên cơ sở gợi ý của giáo viên. Khi đó tác phẩm là tình
huống có vấn đề trước người đọc là học sinh. Giáo viên phải là người kiểm
soát được quá trình đọc, hoạt động đồng tiếp nhận của học sinh. Bằng cách ra
đề, kiểm tra thường xuyên, giáo viên từng bước hướng dẫn học sinh tiếp nhận
đồng bộ TPVC trong nhà trường.
1.2 Lý thuyết về PPDH tích cực
1.2.1 Khái niệm về PPDH tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp giáo dục, dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
http://lrc.tnu.edu.vn/16
“Tích cực” trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động,
chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo
nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực
nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp

lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". Có thể nói cốt lõi của đổi mới
dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học
tập thụ động.
1.2.4 PPDH tích cực trong dạy học TPVC
Đổi mới PPDH môn Văn không có sự hạ thấp vai trò của GV mà ngược
lại GV chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học.
Đây là phương pháp hạn chế tối đa lối dạy lý thuyết một chiều, chuyển
quá trình thuyết giảng của GV thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy
và trò, giữa HS và HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ tìm
hiểu bài học của mình.
Trước hết GV phải biết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt động học
tập môn Văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe - nói -
đọc - viết, năng lực cảm thụ TPVC. Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động
học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực,
chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản.
Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị đồ
dùng và ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác và vận dụng kiến thức
ngữ văn có hiệu quả. Bằng mọi cách GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện
kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức

Trích đoạn Đôi điều về thi pháp truyện ngắn Sêkhốp Vấn đề ngôn ngữ Những hạn chế trong dạy và học VHNN ở trường THPT Thực trạng về dạy học tác phẩm “Người trong bao”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status