PHẦN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là cả một quá trình rèn luyện làm
thay đổi hẳn tư duy một con người. Cái thay đổi mà tôi muốn đề cập ở đây là thay đổi tư duy về
ngôn ngữ. Để tạo được thói quen giao tiếp sơ đẳng đối với một ngôn ngữ mới việc đầu tiên người
học cần có đó là thay đổi thái độ của bản thân về nhiều phương diện, từ phương diện nhận thức đến
phương diện hành động. Đối với bộ môn tiếng Anh nói riêng thì thay đổi từ tư duy ban đầu là ngôn
ngữ mẹ đẻ là hết sức quan trọng. Còn việc thay đổi hành động ở đây là chúng ta chấp nhận cái gọi là
"hơi ngớ ngẩn" để từng bước hoàn thiện cách phát âm, cách giao tiếp và các kỹ năng của mình.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập, tất cả mọi ngành nghề đều cần sử dụng Tiếng Anh như
ngôn ngữ giao tiếp cho công việc của họ. Tôi nhận thấy kỹ năng đọc hiểu rất quan trọng cho dù nó
hơi khó đối với người học. Trong quá trình tham gia giảng dạy, tôi có cơ hội dự giờ các đồng
nghiệp, ứng dụng nhiều phương pháp, thủ thuật nhưng không có phương pháp nào là vạn năng mà
chúng ta cần phải kết hợp nhiều phương pháp ứng với mỗi tình huống, nội dung khác nhau. Một nhà
giáo dục học nhận xét "Một người thầy giỏi không phải là người mang chân lí đến cho học sinh mà
phải là người đưa học sinh đi tìm chân lí".
Thực tế nhiều giáo viên cho rằng kỹ năng đọc và viết là quá khó đối với học sinh nên hiển
nhiên trong quá trình dạy học ngữ pháp và bài tập ứng dụng dưới dạng câu trắc nghiệm đơn lẻ là
trọng tâm của mỗi bài học. Nhưng vấn đề tôi muốn đề cập ở đây là thành công của người học ngoại
ngữ không phải chỉ là nắm cấu trúc ngữ pháp giỏi, mà là phát triển các kỹ năng phục vụ cho giao
tiếp vì đây chính là mục đích cuối cùng của việc dạy một ngôn ngữ.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình, tôi
xin nêu lên "Một vài kinh nghiệm trong việc sử dụng các bảng, biểu nhằm rèn luyện kỹ năng đọc
hiểu cho học sinh THPT áp dụng với bộ sách Tiếng Anh 10".
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ đề cập đến dạy kỹ năng đọc hiểu thông qua việc khai thác
các bảng, biểu, cột thông tin, thông số nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và vận dụng
vào thực tế học tập cũng như công việc trong tương lai.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Dạy học sinh THPT học chương trình Tiếng Anh theo sách giáo khoa mới, Tiếng Anh 10.
nhanh nhất và hiệu quả nhất đối với từng bài đọc mà loại bỏ được những khó khăn về vấn đề ngữ
pháp, từ vựng là một vấn đề hết sức quan trọng mà tất cả những điều đó lại phụ thuộc rất nhiều vào
phương pháp, cách thức mỗi giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác nó như thế nào cho hiệu quả
nhất. Từ đó học sinh có thể dùng thông tin đó để phục vụ cho các kỹ năng khác như nói và viết một
cách độc lập.
Nghiên cứu và giảng dạy bộ sách Tiếng Anh dành cho khối THPT, theo kinh nghiệm của bản
thân đã sử dụng nhiều phương pháp, thủ thuật khác nhau, dựa vào các nguyên tắc dạy kỹ năng đọc,
2
nhưng trong phạm vi bài viết này tôi chỉ đề cập đến thủ thuật sử dụng các bảng biểu, cột thông tin,
thông số để khai thác bài đọc bằng cách kết hợp giữa cách đọc lướt để lấy thông tin chính và đọc kỹ
để lấy thông tin chi tiết. Học sinh có thể đọc nhanh để tìm các thông số, từ khóa và đọc chậm để hiểu
các thông tin liên quan đến các thông số, từ khóa đó. Đây là thủ thuật mà tôi đã sử dụng thường
xuyên và nó mang lại hiệu quả khá cao. Bên cạnh đó còn tránh được tình trạng sử dụng các nguồn tài
liệu sách tham khảo, sách để học tốt sai mục đích nhằm học theo kiểu đối phó, tạo ra được hứng thú
học tập cho học sinh trong giờ học kỹ năng đọc và rèn luyện thói quen làm việc theo nhóm, cặp. Qua
đó tăng cường vai trò chủ động của học sinh, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho học sinh, giáo
viên là người làm nhiệm vụ gợi mở, dẫn dắt để học sinh tự tìm ra lời giải đáp, hoặc con đường đi của
mình. Kết hợp với việc huy động các kiến thức có sẵn về văn hóa xã hội cũng như ngôn ngữ của các
em trong bài luyện tập đọc về một chủ đề nào đó. Giáo viên đừng quá chú trọng đến sản phẩm cuối
cùng là các em sẽ trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa đúng hay sai mà cần chú trọng đến quá trình
học sinh làm cách nào để tìm ra câu trả lời, thậm chí phải chấp nhận cả cái sai tất yếu. Điều đó sẽ
giúp các em học tập được từ chính những lỗi của bản thân và bạn bè.
Sau đây là một số ví dụ mà tôi đã áp dụng khá thành công với học sinh của mình.
Ví dụ 1: Unit 1: A Day in The Life of (English 10)
Sau khi thực hiện các bước lên lớp như dẫn dắt vào bài học, dạy từ vựng, GV cho học sinh
đọc lướt qua đoạn văn và đoán xem nội dung của nó là gì.
Bước tiếp theo, GV cho phát phiếu sau và yêu cầu học sinh đọc lướt qua bài đọc để điền
những thông tin vào phiếu của mình.
Time Activities
4.30 -
6.00 - finish the work
7.00 - have dinner
10.00 - go to bed
Bảng thông tin mà GV vừa cho học sinh làm là phần tổng hợp khá chi tiết của bài đọc. Từ
bảng này GV, học sinh có thể làm phần Task 2 một cách dễ dàng hơn. Đồng thời nó là câu trả lời
cho Task 3 mà học sinh chỉ cần xác định các mốc thời gian trên tương ứng với từng buổi sáng, chiều,
tối. Qua đó GV có thể kết hợp cho học sinh rèn luyện kỹ năng nói hoặc viết dựa vào các thông tin đã
có ở bảng trên theo cách diễn đạt riêng thay vì đọc lại nguyên văn các câu trong bài đọc cho phần
Post reading.
Cũng là thủ thuật đó, khi có những bài đọc về tiểu sử của các nhân vật, bằng việc sử dụng
cột, biểu, bảng như trên hiệu quả giờ dạy sẽ rất cao và giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng
đọc lướt rồi lấy thông tin chính, đọc kỹ để lấy thông tin cụ thể. Từ đó cung cấp ngữ liệu giúp học
sinh làm quen với chủ đề và những nội dung ngôn ngữ để dựa vào đó các em có thể nói, nghe, hoặc
viết được những chủ đề liên quan đến chủ đề của bài học sau và ở ngoài lớp học.
Ví dụ 2: Unit 3 - People's Background
Ở phần while reading, GV có thể chuẩn bị các handout như sau:
Year Events
- was born in Warsaw
1891 -
1894 -
- got married
became the first woman to receive PhD from the Sorbornne
1906 -
1914 -
Expected table from students
Year Events
4
1867 - was born in Warsaw
1891 - went to Paris with very little money
Duration one day
Finally Huong Pagoda
Time Two days
Distance 20 km from Hanoi to Thay Pagoda
Plan
- bring all food,
- share the buses with other classes
Difficulty getting parents' permission
Weather warmer, sunshine
5
Feeling enjoyable
Ví dụ với những bài đã có sẵn các thông tin, số liệu như Unit 7 - The Mass Media thì qua
trình chúng ta rèn luyện cho học sinh lâu nay là các em đọc bài đọc đó để làm gì, xem cái gì ở các
chương trình hay các mốc thời gian mà được hỏi tới thì đi kèm với chương trình nào tương đương
với các kênh. Đây chỉ là cách đọc nhanh với mục đích tìm một chi tiết nào đó dựa vào các từ khóa.
Ví dụ: folk songs học sinh chỉ cần nhìn vào chương trình VTV1, VTV2, VTV3 gạch chân những
mốc thời gian có chương trình đó và hiển nhiên chỉ thấy ở VTV1 lúc 21.30. Đó là câu trả lời cho câu
5 trong Task 3 (Which channel will you watch if you like folk songs?). Ví dụ chương trình The
Nature of Languge is a documentary program at 15.15 on VTV2, học sinh chỉ cần xác định điểm sai
là ở VTV3 chứ không phải ở VTV2. Câu trả lời cho True/False statement ở đây là False. Học sinh có
thể làm theo cách tương tự cho các câu khác.
Ví dụ với Unit 8 - The Story of My Village
Đây cũng là kiểu bài sử dụng bảng thông tin để khai thác ý chính của bài đọc. GV chỉ cần bổ sung
thêm một số ý như, children, life trong cột areas of change và có thể cho học sinh bổ sung một số ý
ngoài nội dung bài đọc từ thực tế cuộc sống. Ví dụ:
Areas of change Before Now
Houses made of straw
Radio and TV every family has
Roads muddy, narrow
Children
richer (changed a lot)
Crops not good bumper crops for exports
Work harder, by hand
easier, using a lot of
machines for farming
Travel by bike, on foot by motorbike
Nhìn vào nội dung tổng kết ở bảng, học sinh có thể nắm được sự thay đổi ở một làng quê
trong quá khứ và ở hiện tại. Từ đó học sinh có thể trả lời các câu hỏi ở Task 3 một cách dễ dàng hơn,
đồng thời dùng thông tin đó, yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm để nói lên sự thay đổi thực tế
đang diễn ra ở quê hương mình trong phần Post reading.
Qua nghiên cứu cấu trúc chương trình, nội dung và cách thức khai thác các kỹ năng cũng như
qua quá trình giảng dạy thực tế của bản thân, tôi nhận thấy việc sử dụng các biểu bảng này để tóm tắt
ý chính của một bài đọc cũng như bài viết mẫu khá đa dạng và phổ biến ở phần dạy các kỹ năng
Nghe, Nói, Đọc, Viết. Nhưng mục đích chính của tôi trong phạm vi bài viết này là biến nó thành một
thói quen cho cả học sinh và GV trong qua trình dạy học tiếng Anh.
Sau đây là 2 tiết dạy đọc minh họa:
Unit 14: The World Cup
LESSON 1: READING
I. Objectives:
1. Aims: By the end of the lesson students will be able to get some specific and general
information about the World Cup.
2. Knowledge:
General knowledge: - Knowledge about the World Cup.
Vocabulary concerning sport: tournament, final, trophy
3. Skills: -Speaking: talk in pairs and in groups.
-Reading comprehension: better sts' reading skill through using the column/ table to
fill in the mising information based on the reading text.
II. Anticipated problems:
- Students may not have much knowledge and words/phrases about sports.
every 4 years
FIFA was set up
1930
more than one billion viewers
took part in the first tournament
the first champion in history of
the World Cup
The first runner up
32 finalists
was jointly held by Japan and South Korea
The trophy five times
Expected table from students
Figure cues Event/ Information
every 4 years The World Cup is held
in 1904 FIFA was set up
8
1930 The first World Cup was held
more than one billion viewers Final game of 2002 tournament attracted
13 teams took part in the first tournament
the first champion in history of
the World Cup
Uruguay - host nation
The first runner up Argentina
32 finalists the final tournament
The 2002 World Cup was jointly held by Japan and South Korea
The trophy five times Brasil became the first team to win
Sau khi hoàn thành thông tin ở bảng trên, yêu cầu HS nhìn vào thông tin ở bảng để làm Task 2 (5
mins) trong sách giáo khoa.
Đối với Task 3 (5 mins) là dạng bài tập xác định thông tin đúng, sai. GV cho HS làm việc theo cặp,
- Ask the students to name some historical places in Vietnam.
- After 2 minutes, the group which has the longest list will be the winner
2. Before you read: (8 minutes)
Aims: - To provide students with words/phrases about historical places.
- Students are required to work in pairs to answer the questions in the textbook.
- Go around to offer help S.
- Ask some S to answer the questions.
- Listen and help S to give correct answers.
Suggested answers:
1. Co Loa Citadel. Hoa Lu Capital. Con- Son- Kiep Bac Site. Den Hung Remains, Quang Tri
Citadel, Hue Imperial City. Hoi An City, etc.
2. Yes, it is. It is the first university of Vietnam.
3. Van Mieu- Quoc Tu Giam was founded in 1070 by the Ly Dynasty. It is one of the most visited
places in Hanoi.
10
- Give S some new words:
* The new words/phrases are:
+ Confucian ( a): ngêi theo ®¹o Khæng, nhµ nho
+ engrave ( v): kh¾c, tr¹m træ
+ stelae ( n): bia ®¸
+ banyan trees ( n): c©y ®a
+ tortoise ( n): con rïa
Read each word/phrase 3 times and ask the students to repeat it.
Ask 4-5 students to read all the word/phrases aloud in front of the class (1 student/ 1 time)
Listen and help the students to read the words/phrases correctly (have students read correctly stress)
3. While you read: (20 minutes)
Aims: Read for general and specific information to do the tasks
Task 1: Guesing in context
- Ask the students to read the passage indepently then find the italicized words in task 1.
- Write these words on board:
other pairs with the explanation
- Ask some representatives to give their choice orally in front of the class and explain their answers.
- Listen and help S to give the right answer.
Answer:
1. F ( it was built in 1070)
2. T (1076)
3. F ( from 11
th
century(1076) to 18
th
century(1779))
4. F ( it is an example of well- preseved traditional Vietnamese architecture)
5. T
6. T
4. After you read: (10 minutes)
Aims: S can talk briefly about Van Mieu- Quoc Tu Giam.
- Ask S to work in groups of 3 or 4 and prepare a talk about Van Mieu- Quoc Tu Giam, using the
brief information in tha table.
- Go round to help the students with their work.
- Ask some S to talk in front of the class and give feedback.
Suggested talk:
Van Mieu- Quoc Tu Giam is a historical and cultural relic of Vietnam, which attracts a great
number of visitors every year. Van Mieu- Quoc Tu Giam was built originally by the Ly dynasty in
1070 in Hanoi. Quoc Tu Giam became the first university of Vietnam in 1076, which was established
on the grounds of Vietnam .from 1076 to 1779 Quoc Tu Giam educated thousands of talented men
for the country. Royal exams used to take place here and the first comers were honoured by having
their names carved on the stone stelae. These talae were carried on the backs of giant tortoises,
which can still be seen today.
5. Homework: (2 minutes)
- Write a passage about Van Mieu- Quoc Tu Giam.