Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
MỤC LỤC
Phần Tên đề mục Trang
I
Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài. 2
II.Mục đích nghiên cứu 2
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 2-3
IV.Thời gian nghiên cứu. 3
V.Phương pháp nghiên cứu. 3
VI.Bố cục. 3
II
Giải quyết vấn đề
A. Cơ sở lí luận 4
B. Thực trạng của vấn đề 4
C. Các gải pháp thực hiện: Một số kinh
nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt
cho học sinh THPT trong môn Ngữ văn.
5
I. Rèn luyện ngôn ngữ nói. 5
II. Rèn luyện ngôn ngữ viết. 5
1.Bước 1: Chỉ ra những lỗi sai cơ bản cần
tránh trong diễn đạt.
6
2.Bước 2: Hướng dẫn học sinh một số cách
diễn đạt hay, hiệu quả.
7
3.Bước 3: Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn,
trong đó chủ yếu là các đoạn văn.
10
ngữ kém văn minh, lịch sự và mặc nhiên coi đó là ngôn ngữ “hiện đại”, “hợp mốt”.
Thậm chí nhiều HS còn có tâm lý xem thường, hoặc thờ ơ, chống đối với ngôn ngữ
học đường chính thống.
Làm thế nào để khắc phục những bất cập nói trên? Trong quá trình dạy học, tôi đã
tìm tòi và áp dụng một số biện pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh với
tinh thần coi đây là một khâu then chốt tháo gỡ khó khăn cơ bản đầu tiên đối với
các em trong quá trình học môn Ngữ văn.
II.Mục đích nghiên cứu:
- Tổng hợp lại những kinh nghiệm cá nhân để tiếp tục áp dụng trong thực tiễn dạy
học.
- Gợi ra một vấn đề về phương pháp để cùng trao đổi, đánh giá với bạn bè, đồng
nghiệp.
- Đem đến cho học sinh một số cách thức rèn luyện khả năng diễn đạt trong môn
Ngữ văn.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh thuộc các khối lớp mà tôi được phân công giảng dạy từ năm 2007, cụ
thể như sau:
+ Lớp 10A1, 11A5, 11A7, 11A8 năm học 2007 – 2008.
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
2
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
+ Lớp 11A9, 12A2, 12A5, 12A7 năm học 2008 – 2009.
+ Các lớp A1, A2, A3, B2 ở các năm học: 2010 – 2011 và 2011- 2012.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Chương trình SGK Ngữ văn 10, 11,12 hiện hành.
IV. Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2012.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Qua thực tế dạy học, tôi nhận thấy có thể tạm phân loại khả năng diễn đạt của học
sinh theo một số đối tượng như sau:
- Đối tượng thứ nhất là những học sinh có khả năng tiếp thu tốt, ngôn ngữ nói rất
thành thạo nhưng ngôn ngữ viết lại hạn chế. Số học sinh này chiếm đa số ở các
trường THPT hiện nay.
- Đối tượng thứ hai là những học sinh có khả năng tư duy tốt, ngôn ngữ viết khá
hoàn thiện nhưng ngôn ngữ nói lại hạn chế. Điều này quả là bất lợi cho các em
trong học tập và giao tiếp.
- Đối tượng thứ ba là những học sinh còn nói tiếng địa phương, phát âm sai dẫn đến
viết sai.
2. Về phía giáo viên:
Ở nhiều trường THPT hiện nay, có thể nhận thấy một xu thế dạy học mang tính
thực dụng đang phổ biến: dạy để thi. Nhiều giáo viên chỉ chú ý tới việc cung cấp
kiến thức, ôn luyện các dạng đề mà coi nhẹ khâu rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh. Nhiều giáo viên chỉ chăm chút cho những học sinh khá, giỏi mà thờ ơ với
những đối tượng còn lại. Việc dạy học như vậy không phải không có hiệu quả
nhưng “ăn xổi ở thì”, chưa tạo được gốc rễ lâu bền cho người học.
Trên đây những cơ sở then chốt giúp tôi phát triển đề tài này và áp dụng vào quá
trình dạy học.
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
4
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
C.Các giải pháp thực hiện:
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh THPT
trong môn Ngữ văn.
Rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh là một quá trình khổ luyện của cả thầy và
trò. Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ xin trình bày ngắn gọn một số cách rèn luyện
ngôn ngữ nói và viết cho học sinh từ kinh nghiệm cá nhân.
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
5
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
Bước 3: Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, trong đó chủ yếu là các đoạn văn
thường gặp như: đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn tổng phân hợp.
Thời gian áp dụng chủ yếu là các tiết tự chọn, các buổi dạy phụ đạo. Cụ thể như
sau:
1. Bước 1. Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai cơ bản trong diễn đạt, tìm ra
nguyên nhân và cách sửa.
- Tôi thường đưa ra một số lỗi sai cơ bản của học sinh trong quá trình viết bài, phân
tích và sửa mẫu cho học sinh, sau đó ra bài tập tương tự để các em thực hành và
chấm điểm.
a. Lỗi dùng từ:
- Dùng từ thiếu chính xác do không hiểu nghĩa từ hoặc đặt từ sai văn cảnh, dùng
sai thuật ngữ chuyên ngành.
Ví dụ 1: Bài thơ “Trao duyên” của Nguyễn Du
- Lỗi sai: dùng sai từ bài thơ do không hiểu thuật ngữ chuyên ngành.
- Sửa lại: đoạn trích.
Ví dụ 2: Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi thật là nồng hậu.
- Lỗi sai: dùng từ nồng hậu sai văn cảnh, từ này thường chỉ dùng để chỉ tình cảm
giữa con người với con người.
- Sửa lại: nồng nàn hoặc tha thiết.
- Lỗi lặp từ, thừa từ:
Ví dụ: Trong các tác phẩm hay của nhà thơ Huy Cận, có rất nhiều tác phẩm nổi bật
và được bạn đọc yêu thích hơn cả là tác phẩm “Tràng giang”.
- Lỗi sai: lặp từ tác phẩm, các từ thừa, rườm rà: hay, nổi bật
- Sửa lại: Trong những bài thơ hay của Huy Cận,“Tràng giang” được bạn đọc yêu
thích hơn cả.
b. Lỗi ngữ pháp:
phân tích để các em học tập. Yêu cầu ban đầu sẽ dừng lại ở mức bắt chước sau đó
nâng dần mức độ, đòi hỏi học sinh phải có cách diễn đạt sáng tạo, hấp dẫn.
a. Dùng từ chính xác, có hình ảnh và phong phú, linh hoạt:
Ví dụ:
- Từ trong lãng quên sâu như vực thẳm, nổi lên hình bóng cô gái Ba Lan kiêu kỳ.
- Đức giám mục Mirien đem đến cho Giăng Vangiăng một bình minh đạo hạnh,
còn Coset đem đến cho ông một bình minh trìu mến.
- Những người nông dân ấy đã phải sống quằn quại trong lòng chảo bỏng rát của
xã hội xấu xa.
- Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết
cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con
người.
Đối với trường hợp này tôi thường hướng dẫn học sinh cách huy động các từ
đồng nghĩa, gần nghĩa khi diễn đạt để có thể lựa chọn từ ngữ thích hợp, ưng ý.
Ví dụ:
- Thay vì quên, có thể dùng quên lãng, chôn vùi, tro tàn nguội lạnh, thay vì cuộc
tranh luận quyết liệt hãy dùng: cuộc tranh luận toé lửa.
- Dùng một từ có ý nghĩa chờ đợi, có thể huy động một loạt các từ ngữ cùng trường
nghĩa như: mong, chờ, hy vọng gặp, đợi mỏi mòn, trông ngóng
- kỷ niệm có lúc dùng: hoài niệm, ký ức, khung trời xưa cũ
b. Sử dụng lối liên tưởng, so sánh để tăng hiệu quả diễn đạt:
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
7
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
Ví dụ:
+ Tsêkhôp là con chim linh điểu của buổi tịch dương trên đồng cỏ vĩ đại nước Nga.
Ông là cái sáo diều vĩ đại trên đôi cánh âm vang tiếng nói của hiện thực và nhịp
thơ của lãng mạn.
+ V.Huygô là cây sồi già với tán lá xanh ngắt và cảm hứng nghệ thuật không bao
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
"Trên đời chỉ có một điều ấy thôi. Đó là thương yêu nhau" , trong sự ăn năn chân
thành của một lão nông vì "đã trót lừa một con chó" (Lão Hạc - Nam Cao) , trong
bát cháo hành xoàng xĩnh của cô gái xấu như ma chê quỷ hờn mà lòng đầy trắc ẩn
(Thị Nở trong "Chí Phèo" - Nam Cao) Nẻo về yêu thương có muôn ngàn lối rẽ
nhưng đó là con đường rộng mở nhất, đã đi là sẽ đến. Nó không phải không có
chông gai, nhọc nhằn nhưng ở đó, con người có thể vượt lên lên sự bon chen phù
phiếm, đến với nhau bởi hai tiếng chân tình.
Đây là kiểu câu tương đối khó, để viết thành công học sinh cần phải có kiến thức
và vốn từ phong phú, khả năng tư duy mạch lạc, nếu không dễ rơi vào chỗ luẩn
quẩn. Để hướng dẫn học sinh, tôi thường sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở:
Câu hỏi 1. Theo em, phần bổ ngữ của câu văn trên được tạo thành bởi mấy vế ?
Câu hỏi 2. Cách sắp xếp các vế có gì đặc biệt(theo thứ tự tăng dần)? Nếu đảo vế
cuối lên vế đầu có được không?(không tương ứng về cách sắp xếp kiến thức, hai
nhân vật người mẹ và Giăng Vangiăng là kiến thức văn học thế giới)
Từ đó, học sinh có thể hiểu cách tạo câu này và học hỏi.
e. Sử dụng các câu văn biểu cảm để thể hiện cảm xúc:
Ví dụ: Cảnh cũ, người xưa quen thuộc quá! Trái tim đứa con xa xứ nay trở về bỗng
thắt lại! Có cái gì vừa quen thuộc, thân thương, nồng ấm, xúc động vì được bao bọc
và chở che, được chào đón trong vòng tay giang rộng lại như có cái gì hối lỗi, ân
hận, xót xa, ngậm ngùi vì đã lâu lắm không về thăm quê mẹ.
h. Sử dụng các thành ngữ, quán ngữ, đề ngữ:
Ví dụ 1: Một không khí buồn đến nhức xương được gợi lên từ thân phận một con
người sống thì như trâu, như chó, chết thì như con giun, con dế ở một xó vườn
hoang (Văn - Bồi dưỡng HS giỏi – Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống - tập1).
Ví dụ 2: Như một bản tình ca bất tận, bài thơ gieo vào lòng người đọc những cảm
xúc nồng nàn, say đắm về tình yêu đôi lứa.
i. Tạo giọng điệu riêng và biến đổi linh hoạt theo từng đối tượng cụ thể:
Người học văn bao giờ cũng mong muốn thể hiện được cá tính qua cách diễn
đạt. Tôi thường định hướng cho học sinh tạo cho mình một giọng văn riêng, tuỳ
sau: đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn tổng phân hợp. Tôi thường đưa ra ví dụ cụ
thể, yêu cầu học sinh phân tích bằng một hệ thống câu hỏi để các em nắm được bố
cục và cách triển khai đoạn văn theo từng dạng, sau đó giao bài tập tương tự cho
các em và chấm điểm.
a. Đoạn diễn dịch:
Ví dụ: Đọc văn Nguyễn Du, tôi thường dừng lại bồi hồi về những bóng trăng trong
thơ ông. Trăng soi người biệt li “nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”; trăng gợi
một kỷ niệm tình cũ đau buốt “Mày ai trăng mới in ngần”. Lãng đãng trên các
trang Kiều, người ta vẫn gặp những vầng trăng xao xuyến lòng người. Ở nơi khác,
trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du vẫn nói về trăng có câu như sau đây:
Lá cùng đường trăng lại đến thăm ta
Ba mươi năm trăng theo ta suốt chân trời góc biển.
Đọc hai câu thơ trên, tôi bàng hoàng nghiệm ra rằng nếu không có ba mươi năm
“chân trời góc biển” kia thì làm sao có được vầng trăng ấy trong Truyện Kiều.
(Hoàng Phủ Ngọc Tường).
- Phân tích ví dụ bằng một hệ thống câu hỏi:
+ Câu văn nào là câu chủ đề?
+ Các câu văn còn lại có nhiệm vụ gì, có liên quan gì đến câu đầu?
+ Hãy nêu bố cục của một đoạn văn diễn dịch?
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
10
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
- Bài tập: Hãy viết một đoạn diễn dịch về chủ đề “đôi vai”.
b. Đoạn quy nạp:
Ví dụ : Khi đọc đến câu “Sống trong cát chết vùi trong cát”, tôi tưởng chừng nghe
lại câu nói ghê người của kinh thánh đạo Gia Tô: “Thân cát bụi trở về cát bụi”,
một câu nói đè nặng lên cuộc sống của hàng triệu triệu người trong hàng nghìn
năm và cũng đè nặng lên đời sống của tôi trong những năm dài thê thảm. Tôi có
cảm giác như lại sắp rơi vào vực thẳm của những tư tưởng chán chường, tuyệt
I. Kết quả thực hiện:
Sau thời gian năm năm áp dụng các biện pháp nói trên, bước đầu tôi đã thu được
những kết quả khả quan. Cụ thể:
1. Những HS phát âm sai khi nói, đọc hoặc sai chính tả, ngữ pháp trong bài viết đã
dần có ý thức tự sửa chữa. Cá biệt có một vài em đã vượt lên chính mình, gần như
rất ít khi mắc lỗi.
2. Những học sinh hay nhút nhát khi nói trước tập thể cũng đã bớt lúng túng hơn và
dễ dàng biểu đạt ý tưởng khi trả lời câu hỏi của giáo viên.
3. Những học sinh có thiên bẩm về diễn đạt ngày càng hứng thú hơn với những
cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Các em coi đó cũng là một cách để thể hiện cá tính
của mình.
4. Dưới đây là khảo sát của một số lớp trước và sau khi tôi rèn luyện kỹ năng diễn
đạt cho học sinh năm học 2010 – 2011:
- Trước khi thực hiện:
Lớp Sĩ số Dưới TB TB Khá, giỏi
10A1 45 11(24%) 26(58%) 8(18%)
10A2 43 13(30%) 20(47%) 10(23%)
10A3 43 15(35%) 21(49%) 7(16%)
11B2 42 12(28%) 23(55%) 7(17%)
- Sau khi thực hiện:
Lớp Sĩ số Dưới TB TB Khá, giỏi
10A1 45 8(18%) 25(55%) 12(27%)
10A2 43 10(23%) 20(47%) 13(30%)
10A3 43 11(26%) 22(51%) 10(23%)
11B2 42 9(22%) 22(52%) 11(26%)
II.Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình thực nghiệm, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm quý báu cho việc rèn
luyện rèn luyện kỹ năng diễn đạt của học sinh như sau:
1. Các biện pháp trên có thể áp dụng cho nhiều đối tượng học sinh, ở nhiều cấp
học.
5. Muốn viết được bài văn hay – Nguyễn Đăng Mạnh.
6. Các chuyên đề “Cách làm bài thi môn văn đạt điểm cao” của thạc sĩ Phạm
Hữu Cường trên báo điện tử “Tiền phong online”.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày10 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Pham Ngọc Hà
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
14