MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
I. LỜI NÓI ĐẦU :
Đổi mới phương pháp dạy – học là một khâu rất cần thiết của giáo dục
hiện nay. Làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy – học, đó là
câu hỏi luôn trăn trở đối với mỗi giáo viên đứng trên bục giảng có tâm huyết.
Mục đích cuối cùng của giáo dục là : “Giúp cho học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”
( Trích điều 23 – luật GD năm 2005 )
Để thực hiện được điều đó, các môn học, các hoạt động giáo dục trong
nhà trường đều có ý nghĩa, vai trò nhất định. Trong đó môn GDCD giữ vai trò
quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục đạo đức, phát triển tâm lực và nhân
cách người Việt Nam. Giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan
trọng của chương trình giảng dạy môn GDCD bậc THPT. Nhiệm vụ của phần
này là trang bị cho học sinh một hệ thống những tri thức về đạo đức, trên cơ sở
đó mà giáo dục truyền thống dân tộc và phát triển các phẩm chất đạo đức người
công dân, người lao động trong xã hội mới. Hiện nay nhiều người cho rằng giáo
dục đạo đức là một nội dung giảng dạy tương đối dễ vì ít nhiều học sinh đã học
ở các lớp dưới, ở các môn học xã hội khác và tự học hỏi từ thực tiễn cuộc sống.
Nhưng thực tế không phải vậy, bởi vì chúng ta biết rằng, đạo đức là toàn bộ
những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự điều chỉnh hành
vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, với hạnh phúc của con người và sự tiến
bộ của xã hội. Cho nên trong quá trình giảng dạy nội dung này đòi hỏi giáo viên
phải tìm ra một phương pháp thích hợp để làm “mềm hóa” giờ dạy giáo dục
công dân, gây hứng thú cho học sinh, để làm thế nào mà những quy tắc, chuẩn
mực đạo đức không khô khan, cứng nhắc, giáo điều, tránh sự thụ động nhàm
chán của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, nhằm đạt được hiệu quả
giáo dục cao nhất.
Bản thân tôi khi giảng dạy phần đạo đức, tôi luôn cố gắng tìm tòi, vận
dụng những phương pháp mới và cũng đã có những kết quả nhất định. Một
trong những phương pháp mới mà tôi thường áp dụng và đem lại hiệu quả cao là

nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, ý thức chấp hành
pháp luật kém, mất niềm tin vào người khác, sống không có lý tưởng, sống vô
cảm với mọi người, không có chính kiến của mình nên dễ bị lôi kéo vào những
việc xấu và các tệ nạn xã hội như: gây bè phái đánh nhau, không tôn trọng người
già, vô lễ với giáo viên, nghiện ma túy, mại dâm, lô, đề, bài bạc, game, chat…
2.2 Về phía chủ quan:
Do quan niệm của học sinh và nhiều người trong xã hội cho rằng: “Thi gì
học nấy, không thi không học”, môn GDCD không đưa vào các kỳ thi nên nó bị
coi là môn phụ học sinh không học. Vai trò của môn GDCD từ trước đến nay
đang bị lu mờ, chưa được mọi người nhìn nhận một cách đúng đắn như nó vốn
có. Từ chỗ học sinh chán không học bị nhiều người xem nhẹ dẫn đến giáo viên
cũng chán không muốn dạy, đa số giáo viên không tâm huyết với nghề nên chưa
đầu tư xứng đáng cho môn học. Giáo viên vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức
theo kiểu thuyết trình, giảng giải, ít phát huy tính tích cực và phát triển tư duy
chỉ khai thác những thông tin có sẵn trong sách giáo khoa, chưa chịu tìm tòi mở
rộng.
Rút kinh nghiệm ở các khóa trước, trong quá trình giảng dạy cho học sinh
các lớp 10B1, 10B2, 10B3, 10B4, 10B5, 10B6 năm 2012 - 2013. Bên cạnh
những phương pháp dạy học truyền thống như: Diễn giải, đàm thoại, tranh luận
vv…Tôi đã áp dụng thêm phương pháp mới “Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành
ngữ” để làm mềm hóa các tiết dạy GDCD, để các em hứng thú, tích cực, chủ
động tiếp thu kiến thức, đồng thời học sinh biết trân trọng, biết kế thừa có chọn
3
lọc và phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Sự lựa chọn này của
tôi là hợp lý bởi vì chúng ta đã biết ca dao, tục ngữ, thành ngữ là một phần rất
quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Ca
dao, tục ngữ có tác dụng rất lớn trong việc hình thành tư tưởng, tình cảm, thói
quen đạo đức cho mỗi người. Ngay từ khi còn nằm trong nôi các em đã bắt đầu
cảm nhận được giá trị đạo đức của dân tộc qua các câu ca dao, tục ngữ, thành
ngữ từ những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Lớn lên các em lại được các thế

Phân tích, tổng hợp, so sánh, logic, trao đổi ý kiến với giáo viên trong nhóm, đặc
biệt trú trọng phương pháp sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào giảng dạy.
Đây cũng là phương pháp "Tích hợp" - một trong những phương pháp đổi mới
dạy - học mà Bộ giáo dục và đào tạo đang ứng dụng.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Hướng dẫn học sinh hiểu và làm quen với phương pháp “Sử dụng ca dao, tục
ngữ, thành ngữ” vào giảng dạy GDCD lớp 10, giáo viên phải thực hiện các bước
sau :
Bước 1 : Giáo viên và học sinh sưu tầm, chuẩn bị các câu ca dao, tục ngữ,
thành ngữ có nội dung phù hợp để đưa vào bài học.
5
Bước 2 : Học sinh lắng nghe và trình bày những câu ca dao, tục ngữ mà
mình đã sưu tầm bằng các hình thức ngâm, đối đáp, sau đó giáo viên yêu cầu
học sinh phân tích và phát biểu cảm nghĩ của mình.
Bước 3 : Giáo viên theo dõi, lắng nghe và tổng hợp ý kiến của học sinh
trả lời đồng thời xem xét, bổ sung thông qua hình thức trò chơi chia lớp thành
các tổ, nhóm cùng sưu tầm theo một chủ đề mà giáo viên đưa ra.
Bước 4: Yêu cầu học sinh rút ra bài học về nhận thức, hành động, tình
cảm qua hình thức phát biểu, viết bài luận và tham gia ngoại khoá.
2. Giải pháp cụ thể
2.1 Sự chuẩn bị của thầy và trò trong bài học:
Trong bất cứ một bài học, tiết học nào thì sự chuẩn bị của thầy và trò cũng
đều rất quan trọng nhất là khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học mới coi
học sinh là trung tâm, người thầy đóng vai trò hướng dẫn, học sinh là người chủ
động tự tìm hiểu, tự nghiên cứu để rút ra kiến thức và vận dụng kiến thức đó vào
thực tiễn cuộc sống thì sự chuẩn bị càng hết sức cần thiết. Do vậy trước khi vào
bài mới giáo viên cần phải soạn giáo án, xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài, cả
học sinh và giáo viên đều phải sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ.
Giáo viên yêu cầu tất cả học sinh đều phải sưu tầm và ghi vào giấy theo đơn vị
tổ. Kết quả là các em đều hào hứng, tích cực sưu tầm được rất nhiều những câu

Vd 3 : Giới hiệu bài 7 SGK “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức” giáo viên có thể dùng các câu thành ngữ sau :
“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.
“Đi ra biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.
Giáo viên đặt câu hỏi : Em hiểu nội dung hai câu thành ngữ trên muốn
nói điều gì ? Cũng như các ví dụ trên giáo viên chỉ định học sinh trả lời, gọi học
sinh khác bổ sung và sau đó kết luận. Hai câu thành ngữ trên muốn nói lên vai
trò quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức con người. Nếu không có thực
7
tiễn thì con người sẽ không có nhận thức đúng đắn, sâu sắc. Thế thực tiễn là gì ?
Thế nào là nhận thức ? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức như thế nào ? Ta
cùng đi nghiên cứu bài 7.
2.3. Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong quá trình truyền thụ kiến
thức cơ bản đồng thời giáo dục truyền thống đạo đức của dân tộc cho học
sinh.
Vd 1 : Khi giảng dạy phần 2a của bài 13 : “Nhân nghĩa” để học sinh hiểu
rõ nội dung này, giáo viên đưa ra câu hỏi vấn đáp: Em hiểu như thế nào là nhân
nghĩa ?
Học sinh trả lời : “Nhân” là lòng thương người, “Nghĩa” là điều được
coi là hợp lẽ phải, làm khuôn phép cho cách xử thế của con người trong xã hội.
Nhân nghĩa là lòng thương người và đối xử với người theo lẽ phải.
Giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: Vậy cha ông ta đã ca ngợi người có nhân
nghĩa và phê phán những kẻ bất nhân, bất nghĩa như thế nào ? Để trả lời câu hỏi
này giáo viên sẽ chỉ định một số em đại diện của các tổ đứng lên trình bày và
đọc các câu ca dao, tục ngữ mà các em đã sưu tầm. Sau đó giáo viên yêu cầu các
thành viên khác nhận xét bổ sung. Các em đã làm việc rất tích cực , sưu tầm
được nhiều câu thể hiện rõ được nội dung của truyền thống nhân nghĩa như :
+ Các câu ca ngợi tình yêu thương con người và lòng nhân ái :
- Thương người như thể thương thân

giềng. Biết cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn hoạn
nạn, tích cực tham gia các hoạt động uống nước nhớ nguồn đền ơn đáp nghĩa,
hoạt động nhân đạo do trường, do cộng đồng tổ chức như : Hiến máu nhân đạo,
giúp đỡ các bạn học sinh nghèo vượt khó, mua tăm tre ủng hộ người mù, ủng hộ
nạn nhân chất độc da cam, đồng bào bị thiên tai…
Vd 2 : Khi giảng dạy bài 12 “Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình”
Giáo viên đặt câu hỏi : em quan niệm về tình yêu như thế nào ? Hãy sưu
tầm những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về tình yêu đôi lứa.
9
Hỏi : Giáo viên gọi một số học sinh đứng lên trình bày quan điểm của mình về
tình yêu và đọc các câu mà mình đã sưu tầm.
Học sinh sẽ trả lời : Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa
hai người khác giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt làm cho họ có nhu cầu
gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho
nhau cuộc sống của mình. Học sinh đã sưu tầm được một số câu ca dao, tục ngữ
nói về tình yêu nam nữ:
- Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
- Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.
- Vì sông nên phải lụy đò
Vì trời tối phải lụy cô bán hàng
Vì tình nên phải đa mang
Vì duyên thiếp biết quê chàng ở đây.
- Thương em vô giá quá chừng
Trèo non quên mệt, ngậm gừng quên cay.
- Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than

- Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.
- Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
- Vợ chồng là nghĩa tao khang
Chồng hòa, vợ thuận nhà thường yên vui
Sinh con mới ra thân người
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.
11
- Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở : Rằng anh giận gì?
- Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê.
- Xấu xa cũng thể chồng ta
Dù cho tốt đẹp cũng ra chồng người .
- Tay nâng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…
b. Quan hệ cha mẹ với con cái:
Giáo viên đọc câu hỏi : Cha mẹ phải có trách nhiệm thế nào với con cái
và ngược lại ? Đọc những câu nói lên mối quan hệ này
Học sinh trả lời: Cha mẹ có trách nhiệm yêu thương, nuôi dưỡng và tạo
điều kiện cho con cái được học tập nên người, tôn trọng ý kiến và quyền lợi hợp
pháp của con. Cha mẹ phải giáo dục con cái trở thành người con hiếu thảo của
gia đình, là công dân có ích cho xã hội. Ngược lại con cái có bổn phận yêu quý,
kính trọng, biết ơn với cha mẹ, ông bà, biết lắng nghe những lời khuyên bảo
đúng đắn của cha mẹ, biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con cái có
nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, không được ngược đãi, súc phạm cha,
mẹ.
Các câu ca dao, tục ngữ như:
- Công cha như núi Thái Sơn

- Anh em như tre cùng khóm
Chị em gái như trái cau non.
- Anh em ăn ở thuận hòa
Chớ điều chênh lệch người ta chê cười…
Phần này ngoài làm rõ khái niệm gia đình, mối quan hệ các thành viên
với nhau thì học sinh phải biết áp dụng những kiến thức đã học vào gia đình
13
mình để cư xử với nhau cho đúng mực, các em phải biết cố gắng học tập và rèn
luyện đạo đức bản thân để trở thành người con ngoan, có hiếu với ông bà, cha
mẹ.
Vd 4 : Giảng dạy phần 3 bài 11: “Nhân phẩm và danh dự”
Giáo viên đặt câu hỏi : Em hãy đọc những câu ca dao, tục ngữ nói về
nhân phẩm và danh dự con người.
Học sinh đã sưu tầm được những câu sau :
- Đói cho sạch rách cho thơm.
- Giấy rách phải giữ lấy lề.
- Chết đứng hơn sống quỳ.
- Chết vinh còn hơn sống nhục.
- Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
- Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.
- Ăn một miếng, tiếng một đời.
- Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ .
- Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.
- Vàng thật chẳng phải thau đâu
Đừng đem thử lửa cho đau lòng vàng.
- Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi người có được, hay nhân

đánh giá.
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu xong các giá trị truyền thống đạo đức dân
tộc, giáo viên tiếp tục sử dụng một số câu nhằm củng cố, kiểm tra kiến thức,
kiểm tra khả năng liên hệ thực tiễn của các em như:
- Nhường cơm sẻ áo.
15
-Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
- Yêu nhau cởi áo cho nhau.
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
Hỏi : Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình khi đọc các câu trên và hãy nêu biểu
hiện trái với truyền thống đó cần được lên án, phê phán trong xã hội ta hiện nay.
3. Đối chiếu, so sánh phương pháp dạy học mới với phương pháp dạy học cũ.
Phương pháp dạy học cũ Phương pháp dạy học mới
- Mục đích: Trang bị cho học sinh
những kiến thức cơ bản có hệ thống
trong SGK.
- Ưu điểm của phương pháp cũ. Học
sinh chỉ cần nắm vững kiến thức trong
SGK là đủ, các lĩnh vực khác như hiểu
biết xã hội, tài liệu tham khảo, các
thông tin về thời sự, chính trị không
cần phải quan tâm nhiều, không mất
quá nhiều thời gian cho môn học.
- Hạn chế: Học sinh hầu như chỉ tiếp
thu một cách thụ động, áp đặt, không
phát huy được tính tích cực, chủ động,
- Mục đích: Ngoài việc trang bị đầy đủ

hiểu biết nhất định về kiến thức xã hội.
- Kết quả: Hầu hết học sinh nắm vững
kiến thức bộ môn một cách sâu sắc và
toàn diện. Học sinh rất tích cực, chủ
động trong quá trình học tập, đồng thời
các em biết trân trọng, biết kết thừa
những giá trị thuyền thống đạo đưc tốt
đẹp của cha ông ta.
C. KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
1. Kết quả : Qua 13 năm giảng dạy tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau và đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên dạy học là một ngành
luôn đòi hỏi sự sáng tạo ? Mỗi khoá học đi qua người thầy lại tìm thêm được
những phương pháp dạy mới hay hơn, sáng tạo hơn dựa trên kinh nghiệm từ
thực tiễn. Chính bởi vậy được nhà trường, nhóm chuyên môn phân công dạy các
lớp 10B1 đến 10B6 năm nay, bên cạnh những phương pháp dạy học truyền
thống tôi đã vận dung thêm chuyên đề "Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ" và
đã đạt được những kết quả khả quan.
Thông qua phương pháp dạy - học mới này giúp học sinh hứng thú hơn
trong học tập, tạo cho các em một phương pháp học mới hiện nay là tự học, tự
tìm tòi, tự sáng tạo và đưa ra quan điểm chính kiến của mình. Đây cũng là một
xu thế học mới của thời đại. Thông qua chuyên đề dạy học mới này giúp các em
17
từng bước tránh bỏ lối học thụ động, quá lệ thuộc vào sách giáo khoa và ý kiến
áp đặt của giáo viên. Vận dụng phương pháp mới vào giảng dạy năm nay tôi đã
có 3/3 học sinh đạt giải trong kì thi học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh (trong đó có
một giải ba và hai giải khuyến khích).
Phương pháp dạy - học mới sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ đã tác
động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, hành vi đạo đức của các em. Thông qua
kiến thức bài học, học sinh đã biết trân trọng, biết kế thừa và phát huy những

thú với môn
học
10B1 49 37,8% 44,8% 13,4%
10B3 47 45% 35% 20%
10B6 45 30,2% 46,5% 23,3%
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
1. Đối với Bộ và Sở Giáo dục - Đào tạo:
18
Nghiên cứu xem xét để đưa môn GDCD vào các kỳ thi do Bộ và Sở tổ
chức như: Thi vào 10, thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng, Trung học
chuyên nghiệp để học sinh chú trọng, để mọi người trong xã hội, đặc biệt là phụ
huynh học sinh thấy được tầm quan trọng của môn GDCD từ đó để đôn đốc con
em mình học tập một cách tích cực.
Hàng năm Sở Giáo dục - đào tạo Thanh Hoá nên mở nhiều hơn những
chuyên đề về cải tiến phương pháp dạy - học môn GDCD để tất cả các giáo viên
chuyên ngành đi tiếp thu. Sở GD&ĐT nên lựa chọn một số giáo viên có năng
lực chuyên môn cao, lại có kinh nghiệm giảng dạy ở các trường chất lượng cao
trong tỉnh truyền đạt những kinh nghiêm, những sáng kiến mới để giáo viên
được học tập.
2 Đối với nhà trường và tổ chuyên môn:
Nên xây dựng hệ thống tư liệu tham khảo đầy đủ, phong phú hơn để giáo
viên có tài liệu tham khảo. Mỗi giáo viên phải xây dựng cho mình thói quen đọc
- nghe, tự nghiên cứu. Các giáo viên trong nhóm phải thương xuyên trao đổi
kinh nghiệm giảng dạy cho nhau.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯƠNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Trần Thị Vân
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status