skkn một số kinh nghiệm giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 24-36 tháng - Pdf 24

Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU
Đề tài:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ
24 - 36 THÁNG
1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU
Đề tài:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ
24 - 36 THÁNG
MÃ SKKN: 3KA
Họ và tên người viết: Hồ Thị Thái
Chuyên môn: Trung cấp mầm non
Đơn vị : Trường Mầm Non 19/8 - TP.Pleiku
NĂM HỌC 2010- 2011
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
NĂM HỌC 2010- 2011
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÁO DỤC DINH DƯỠNG
CHO TRẺ 24-36 THÁNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người nói chung và
trẻ em nói riêng. Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí lực. Trẻ
em nếu được nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn, khoẻ mạnh, thông minh và học giỏi.
Ngược lại, nếu nuôi dưỡng không đúng cách, trẻ sẽ bị còi cọc, chậm lớn,
chậm phát triển và dễ dàng mắc bệnh.
Dinh dưỡng không hợp lýù, kể cả thiếu hay thừa đều ảnh hưởng đến sức
khoẻ và sự phát triển của trẻ. Khi thiếu dinh dưỡng, cơ thể của trẻ phát triển
chậm lại và sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc học hành, trẻ dễ buồn chán, lười
hoạt động, cáu bẳn, không hoà đồng với bạn bè. Do đó, việc quan tâm đến chế

dưỡng); 100% trẻ lần đầu tiên được đi học, thay đổi môi trường, thay đổi chế
độ sinh hoạt, ăn ngủ ,… tuần đầu tiên, tôi rất vất vả để ổn định nề nếp lớp
nhưng kết quả vẫn là con số “O” tròn trĩnh. Giờ ăn thật lộn xộn, cứ nhốn nháo
cả lên, có cháu không ăn thịt, cháu thì nhả rau,… đến giờ ngủ mới thật là nan
giải: cháu chưa quen ngủ đúng giờ, cứ lồm cồm bò, chạy, mếu máo,…Tôi rất
băn khoăn lo lắng, vì trẻ quá nhỏ, chưa biết tự phục vụ bản thân, giáo dục
bằng lời nói như giáo huấn thì trẻ khó tiếp thu. Cứ tình trạng này kéo dài, chắc
chắn sức khoẻ của trẻ sẽ giảm sút. Vậy biết làm sao đâây ?
Trẻ mầm non rất nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điều học được và
hình thành dấu ấn lâu dài. Vì vậy tiến hành giáo dục dinh dưỡng-sức khoẻ cho
trẻ mầm non sẽ góp phần quan trọng trong chiến lược con người, tạo ra một
lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề dinh dưỡng và sức khoẻ, biết
lựa chọn ăn uống đúng cách để đảm bảo sức khoẻ của mình. Việc đưa các nội
dung giáo dục dinh dưỡng vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi
mầm non là một việc làm rất cần thiết, tạo ra sự liên thông về giáo dục dinh
dưỡng - sức khoẻ cho trẻ từ lứa tuổi mầm non đến tuổi học đường.
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sự phát
triển của trẻ em, tôi quyết tâm tìm ra biện pháp để khắc phục những khó khăn
ban đầu của lớp và từng bước đưa nội dung dinh dưỡng vào giáo dục trẻ. Và
kết quả thật bất ngờ ! Chỉ hơn 1 tháng sau, trẻ lớp tôi đã có những chuyển
3
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
biến rõ nét. Và đến thời điểm này của năm học, nề nếp sinh hoạt ăn, ngủ, nghỉ,
… của trẻ đã quy củ, đâu vào đấy. Tôi thật sự phấn khởi và xin được mạnh
dạn cùng trao đổi với các đồng nghiệp về “Một số kinh nghiệm giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ ở nhóm 24-36 tháng” như sau:
II. NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Chăm sóc bữa ăn hàng ngày ở lớp cho trẻ:
Trướùc tiên, để giáo dục trẻ vệ sinh trước bữa ăn. Khi cho trẻ tập trung
lại để cô rửa tay, tôi liền hát:

ăn chậm, suy dinh dưỡng riêng mà sắp xếp những trẻ đó ngồi chung với trẻ
ăn khoẻ để trẻ nhìn nhau, kích thích sự thi đua cùng nhau, đồng thờøi tôi luôn
bao quát, lưu tâm đều hết tất cả các cháu. Đối với trẻ biếng ăn, tôi động viên
khuyến khích:
- “Con hãy ăn thi vớùi bạn … xem ai ăn nhanh hết chén nhé !”, đồng
thời nhắc nhở trẻ ăn nhanh: “Con hãy nhai kỹõ rồi mớùi nuốt không bị đau
bụng đấy !”, hoặc: “Con chờø bạn cùng ăn vớùi nhé !”.
Khi lấy cơm và thức ăn cho trẻ, tôi luôn thực hiện “chiến thuật”: “Thà
làm cá nhỏ trong ao lớùn, còn hơn làm cá lớùn trong ao nhỏ” - một kinh
nghiệm nho nhỏ mà tôi đã đọc đượïc trong báo. Đó là: tôi múc ít cơm, thức ăn
để trong bát nhằm đánh lừa thị giác của trẻ. Nhờø cảm giác “ít ỏi” của khẩu
phần ăn này làm cho trẻ thấy dễ “xử” hơn là một bát cơm đầy ngất ngưởûng,
cứ như thế, chịu khó lấy nhiều lần cho trẻ ăn và trẻ luôn ăn hết một cách
hứng thú, thoải mái.
Ở lớp, có một số bé khó ăn, hay “kén cá chọn canh”, thích ăn thịt mà
không thích ăn cá là chuyện thường tình. Tôi nghĩ ra cách “nguỵ trang” một
loại thức ăn nào đó dưới vỏ bọc khác. Đôi khi, một tên gọi mới để “thổi hồn”
vào món ăn cũ cũng thật cần thiết.
Ví dụ: Đối với món “Cá thu chiên”, tôi chế biến thành món “Cá thu xối
mỡõ” hoặc “Chả cá nhúng dầu”. Dựa vào màu sắc đặc trưng của món canh
súp tôi “chế tác” thành món “Canh mây hồng”,… khiến trẻ rất thích thú và ăn
thật ngon miệng.
Đôi khi tôi còn cho trẻ “Đoán mùi thức ăn” (đồ nấu): Trước khi chia
thức ăn cho trẻ, tôi mở hé vung nồi thức ăn cho trẻ ngửi mùi và đoán. Cô giới
thiệu nhanh những thực phẩm dùng để nấu món ăn đó qua tranh ảnh, cách
chế biến:
-“Ai đoán được hôm nay chúng ta ăn món gì ?
5
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
-Ồ, cô ngửi thấy mùi Súp ! Đúng rồi ! Mùi rất thơm ngon. Thế món súp

6
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
Giáo dục dinh dưỡng không được tổ chức thành một tiết học riêng biệt,
mà đối với trẻ độ tuổi này nếu giáo dục đơn thuần là lời nói mang tính giáo
huấn thì sẽ không đem lại kết quả. Nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ,
tôi đã đưa các nội dung giáo dục vào tiết học cũng như các hoạt động khác
cho trẻ bằng cách sưu tầm các bài hát, bài thơ, ca dao, cââu đố để lồng ghép
vào các tiết học và các hoạt động khác của trẻ cho phù hợp. Tôi tiến hành
dưới hình thức: “Học mà chơi, chơi mà học”.
+ Vớùi môn “Nhận biết tập nói”:
Ví dụ: Đề tài “Một số loại rau”. Ngoài kiến thức cần cung cấp cho trẻ
như tên gọi, đặc điểm, tôi nhấn mạnh: “Các chất dinh dưỡõng có trong từng
loại rau củ như: rau muống, rau cải, rau ngót,…có vitamin C, khi ăn vào làm
cho da các con mịn màng, hồng hào, trông thật đáng yêu”; “Khi các con ăn cà
chua, cà rốt, bí đỏ,…có vitamin A thì mắt các con sáng long lanh và học giỏi
lắm đấy!”,…
Tôi đọc cho trẻ nghe và hướng dẫn trẻ làm điệu bộ hưởng ứng theo
nhịp điệu của bài thơ: “Họ rau”:
“Rềnh rềnh ràng ràng
Đi chợïï mua hàng
Có các loại rau
Nấu có vị ngọt
Là anh rau ngót
Có thêm tí bọt
Là bác rau đay
Đi chợï cho hay
Là anh rau má
Nấu với tôm cá
Là bác cải xanh
Nấu canh rất lành

Xin đừng cho nước
Cá quả luộc trước
Gỡ nạc nấu canh”.
+Môn Giáo dục ââm nhạc: Đề tài “Con gà trống”
“Con gà trống
8
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
Có mào đỏ
Chân có cựa
Gà trống gáy
Ò ó o !
Gà trống gáy
Ò ó o !”
Ngoài yêu cầu cháu thuộc bài hát, hát đúng nhạc, biết nhún nhảy theo
giai điệu bài hát, tôi còn khéo léo khai thác khía cạnh khác để giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ theo “đường vòng”. Vì nếu giớùi thiệu cho trẻ gà trống còn là
món ăn bổ dưỡõng thì e rằng trẻ sẽ khó chấp nhận (mặc dù đúng là như thế),
vì trẻ đang coi gà trống như “Bạn”. Tôi nói: “Gà trống có nhiệm vụ đánh thức
bé ngoan dậy đi học, gà trống đố các bé nếu giải đượïc câu đố này thì sẽ tặng
cho bé món quà trong câu đố:
“Quả gì lòng đỏ
Không kết từ hoa
Mẹ nó là gà
Cho nhiều chất đạm?”
(Trứng gà ăn rất ngon và bổ, các con nhớ ăn đều để mắt sáng, tóc mượt
nhé!).
+ Hoạt động vui chơi:
Khi trẻ đã nhận biết được cơ bản một số loại rau, củ, quả, con vật,…tôi
cho trẻ chơi trò chơi đơn giản như “Đố bạn biết”, “Ai có tranh giống tranh của
cô”, “Chọn thực phẩm”,

Từ những hình thức như thế, mỗi ngày, tôi cung cấp cho trẻ từng tí một
các kiến thức đơn giản về dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi, trẻ tiếp thu một
cách rất tự nhiên và hứng thú. Khi dạy trẻ, bao giờ tôi cũng chú ý chuẩn bị
giáo cụ trực quan: Bộ tranh lôtô hoặc rau, củ, quả, con vật thật,… để trẻ quan
sát và dễ nhớ. Đặc biệt khi dạy về “Quả”, tôi còn cho trẻ sờ, ngửi, nếm,… để
trẻ biết mùi vị của chúng,…giúp trẻ rất thích thú và nhớù lâu hơn.
Để trẻ lĩnh hội kiến thức về dinh dưỡng ở các hoạt động một cách hứng
thú, tôi luôn tìm tòi các băng đĩa, hình ảnh chiếu lên màn hình, ti vi tạo hình
ảnh sống động. Từ đó thu hút được sự chú ý của trẻ đối với những kiến thức
cần truyền tải và trẻ rất hào hứng tiếp nhận, đạt kết quả cao hơn.
3/ Phối kết hợp với cha mẹ trẻ:
10
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
Ngay cuộc họp phụ huynh đầu năm học, tôi đã tuyên truyền cho phụ
huynh nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc trẻ: Chế độ ăn uống
của trẻ phải đảm bảo các nhóm thực phẩm là: Đạm, bột đường, chất béo (chủ
yếu chất béo thực vật), sinh tố - muối khoáng và nước. Nếu được chăm sóc
tốt thì trẻ sẽ khoẻ mạnh. Ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý, cha mẹ cần lưu tâm
đến vệ sinh cá nhân và giờ giấc sinh hoạt của trẻ điều độ. Tôi xây dựng góc
tuyên truyền dinh dưỡng ở lớp với nội dung phong phú, hình thức đẹp, hấp
dẫn. Và kết quả thật bất ngờ: Nhiều phụ huynh đã viết bài, vẽ tranh, sưu tầm
thơ ca, câu đôù, mẩu chuyện có nội dung giáo dục dinh dưỡng và chăm sóc
trẻ như: cách nuôi con, cách chọn mua thực phẩm, cách chế biến món ăn cho
trẻ,…
Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh những vấn đề hàng ngày của
trẻ. Ví dụ:
“Chị ơi ! Hôm nay bé rất biếng ăn, cháu kêu đau răng, chị đưa cháu đi
khám răng nhé !”, hoặc “Tháng này cháu ăn uống bình thường nhưng không
tăng cân, ở nhà chị cho cháu uống thêm sữa nhé !”.
Ở lớp tôi có trường hợp cháu Thanh Thảo, nhìn hình thức bên ngoài:

thường (+2) là 32 cháu trên +3 là 02 cháu, dưới -2 là 01 cháu . Đến nay, số trẻ
trên +3 là 01 cháu, dưới -2 là 01 cháu.
Nhìn chung, trong lớp các cháu khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, đi học chuyên
cần, kể cả thời gian này đang là mùa đông. Các cháu đã thích nghi với chế độ
sinh hoạt tại nhà trẻ, thích nghi với chế độ ăn ở trường với các loại thức ăn
khác nhau. Các cháu ăn hết khẩu phần của mình, ăn được các loại thực phẩm
do nhà bếp nấu, không bỏ rau, bỏ thịt, chỉ thích ăn cá như một số trẻ đầu năm
học; trẻ có thói quen xếp hàng để cô giáo rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ
sinh; trong khi ăn không nói chuyện riêng, không làm rơi vãi thức ăn. Đa số
trẻ đã biết tự xúc ăn, sau khi ăn biết tự lau miệng bằng khăn sạch cô chuẩn bị
sẵn, có nhu cầu uống nước khi khát,…
Trẻ biết chơi một số trò chơi có nội dung giáo dục dinh dưỡng đơn
giản, qua đó trẻ nhận biết tên một số loại rau, củ, quả, con vật,…cung cấp
dinh dưỡng cho cơ thể.
Trẻ thuộc một số bài hát, bài thơ, giải được câu đố,…có nội dung giáo
dục dinh dưỡng mà tôi hay hát, đọc cho trẻ nghe hoặc đố trẻ.
IV. BÀØI HỌC KINH NGHIỆM:
12
Hồ Thị Thái – MN 19/8 - Pleiku
Sau khi tìm tòi, vận dụng một số biện pháp, lồng ghép nội dung giáo dục
dinh dưỡng vào các hoạt động nuôi và dạy trẻ đạt được những kết quả đáng
kể, tôi rút ra cho bản thân mình một số bài học kinh nghiệm như sau:
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu
cho trẻ là trách nhiệm của cả gia đình và nhà trường. Giáo dục dinh dưỡng và
sức khoẻ là một trong những biện pháp tích cực đem lại hiệu quả lâu dài
trong “chiến lượïc” phòng chống suy dinh dưỡng của toàn xã hội.
Chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ có vai trò rất quan trọng, nó là
nền tảng giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. Có sức khoẻ, trẻ mới tích
cực tham gia vào các hoạt động. Nếu trẻ suy dinh dưỡng thì sức khoẻ trẻ sẽ
yếu ớt, trí tuệ sẽ chậm phát triển. Muốn đảm bảo các yêu cầu trên thì giáo viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status