Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
MỤC LỤC
Phần
I
II
III
Tên đề mục
Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài.
II.Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
IV.Thời gian nghiên cứu.
V.Phương pháp nghiên cứu.
VI.Bố cục.
Giải quyết vấn đề
A. Cơ sở lí luận
B. Thực trạng của vấn đề
C. Các gải pháp thực hiện: Một số kinh
nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt
cho học sinh THPT trong môn Ngữ văn.
I. Rèn luyện ngôn ngữ nói.
II. Rèn luyện ngôn ngữ viết.
1.Bước 1: Chỉ ra những lỗi sai cơ bản cần
tránh trong diễn đạt.
2.Bước 2: Hướng dẫn học sinh một số cách
13
13
14
1
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I.Lí do chọn đề tài:
1.1.Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Người đọc cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác
phẩm văn học trước hết là qua cách diễn đạt của nhà văn. Những người yêu văn
chương ai mà chẳng một lần rung động trước những ngôn từ đẹp, giàu hình ảnh,
giàu sức biểu cảm, ai mà chẳng muốn thuộc lòng những câu văn hay, những bài thơ
đặc sắc. Thậm chí có người còn cất giữ chúng như thứ tài sản quý báu của mình.
Tâm lý đọc văn và học văn của học sinh THPT không nằm ngoài quy luật đó.
1.2. Tuy nhiên, trong quá trình học môn Ngữ văn, học sinh (HS) thường gặp trở
ngại trong khâu diễn đạt. Các em cho rằng: Ngữ văn là môn học rất hay nhưng rất
khó chinh phục. Nguyên nhân một phần là do nhiều em lĩnh hội được kiến thức,
phát hiện ra vấn đề nhưng lại không biết cách diễn đạt hoặc trình bày vấn đề rất
vụng về, lộn xộn. Quá trình để khắc phục hạn chế này lại rất lâu dài. Điều này dễ
dẫn đến tâm lý chán nản, bỏ cuộc đối với người học.
1.3. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, HS có nhiều cơ hội thuận lợi để
phát triển ngôn ngữ. Bên cạnh đó, các em cũng tiếp xúc và bị ảnh hưởng không ít
bởi thứ ngôn ngữ “lệch chuẩn” đang phổ biến trong học đường hiện nay. Một bộ
phận không nhỏ học sinh tỏ ra rất hào hứng với thứ ngôn ngữ này. Các em không
hề băn khoăn khi viết sai chính tả, cố tình phát âm méo mó hoặc sử dụng những từ
ngữ kém văn minh, lịch sự và mặc nhiên coi đó là ngôn ngữ “hiện đại”, “hợp mốt”.
IV. Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2012.
V. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thực nghiệm (thông qua thực tế dạy học, giao bài tập cho học sinh,
hướng dẫn học sinh luyện tập và kiểm tra, đánh giá).
VI. Bố cục:
Phần I: Mở đầu.
Phần II: Nội dung
A. Cơ sở lí luận.
B. Thực trạng của vấn đề.
C. Các giải pháp thực hiện: Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng
diễn đạt cho học sinh THPT trong môn Ngữ văn.
Phần III. Kết luận.
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
3
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A. Cơ sở lí luận:
Phát triển ngôn ngữ trước hết là phát triển tư duy. Ngôn ngữ phong phú tạo điều
kiện thuận lợi để biểu lộ tư duy một cách rành mạch, thấu đáo. Dạy học Ngữ văn
không thể coi nhẹ việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh (HS). Điều này vừa
giúp cho các em có thể giải mã được ý nghĩa sâu xa của ngôn từ nghệ thuật vừa học
hỏi cách diễn đạt trong văn chương để biểu đạt chính xác, thấu đáo và hấp dẫn ý
tưởng của mình. Khi bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của ngôn từ nghệ thuật, HS dễ
4
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
C.Các giải pháp thực hiện:
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh THPT
trong môn Ngữ văn.
Rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh là một quá trình khổ luyện của cả thầy và
trò. Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ xin trình bày ngắn gọn một số cách rèn luyện
ngôn ngữ nói và viết cho học sinh từ kinh nghiệm cá nhân.
I.Rèn luyện ngôn ngữ nói:
Để rèn luyện ngôn ngữ nói cho học sinh, tôi thường phân loại đối tượng để có cách
hướng dẫn phù hợp.
1. Đối với những học sinh có thiên bẩm về ngôn ngữ, có khả năng trình bày tốt
hoặc có giọng đọc hay, tôi thường áp dụng các biện pháp sau:
- Gọi HS đọc bài và nhận xét, điều chỉnh.
- Gọi HS trả lời những câu hỏi hóc búa, cần đến khả năng tư duy tốt và diễn đạt phù
hợp.
- Giao cho các em nhiệm vụ phát biểu trong những sinh hoạt tập thể của lớp hoặc
nhà trường.
- Đôi khi, tôi yêu cầu các HS này đưa ra những cách diễn đạt khác nhau trước một
vấn đề để các HS khác tham khảo.
2. Đối với những học sinh nói tiếng địa phương hoặc còn nhút nhát, lúng túng khi
nói, tôi thường áp dụng các biện pháp sau:
- Gọi HS đọc bài và uốn nắn những cách phát âm chưa chuẩn.
- Gọi những HS nhút nhát phát biểu thường xuyên. Số lần phát biểu tăng dần theo
mức độ, câu hỏi cũng tăng dần về độ khó. Nếu HS lúng túng, chưa tìm được từ để
diễn đạt, tôi có thể gợi dẫn bằng một vài từ ngữ để các em trình bày.
a. Lỗi dùng từ:
- Dùng từ thiếu chính xác do không hiểu nghĩa từ hoặc đặt từ sai văn cảnh, dùng
sai thuật ngữ chuyên ngành.
Ví dụ 1: Bài thơ “Trao duyên” của Nguyễn Du
- Lỗi sai: dùng sai từ bài thơ do không hiểu thuật ngữ chuyên ngành.
- Sửa lại: đoạn trích.
Ví dụ 2: Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi thật là nồng hậu.
- Lỗi sai: dùng từ nồng hậu sai văn cảnh, từ này thường chỉ dùng để chỉ tình cảm
giữa con người với con người.
- Sửa lại: nồng nàn hoặc tha thiết.
- Lỗi lặp từ, thừa từ:
Ví dụ: Trong các tác phẩm hay của nhà thơ Huy Cận, có rất nhiều tác phẩm nổi bật
và được bạn đọc yêu thích hơn cả là tác phẩm “Tràng giang”.
- Lỗi sai: lặp từ tác phẩm, các từ thừa, rườm rà: hay, nổi bật
- Sửa lại: Trong những bài thơ hay của Huy Cận,“Tràng giang” được bạn đọc yêu
thích hơn cả.
b. Lỗi ngữ pháp:
- Viết câu thiếu thành phần chính.
Ví dụ: Chiếc áo mà mẹ tôi mới may.
- Lỗi sai: thiếu vị ngữ.
- Sửa lại: Chiếc áo mà mẹ tôi mới may rất đẹp.
- Lỗi về liên kết câu.
Ví dụ: Nguyễn Trãi là một nhà chính trị tài ba. Thơ của ông rất đặc sắc.
- Lỗi sai: thiếu liên kết về ý, câu đầu đang giới thiệu về tài chính trị của Nguyễn
Trãi. Câu sau lại bàn về giá trị thơ Nguyễn Trãi.
- Sửa lại: Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị tài ba mà còn là một nhà thơ
xuất sắc với nhiều tác phẩm để đời.
c. Lỗi chính tả:
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
- Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết
cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con
người.
Đối với trường hợp này tôi thường hướng dẫn học sinh cách huy động các từ
đồng nghĩa, gần nghĩa khi diễn đạt để có thể lựa chọn từ ngữ thích hợp, ưng ý.
Ví dụ:
- Thay vì quên, có thể dùng quên lãng, chôn vùi, tro tàn nguội lạnh, thay vì cuộc
tranh luận quyết liệt hãy dùng: cuộc tranh luận toé lửa.
- Dùng một từ có ý nghĩa chờ đợi, có thể huy động một loạt các từ ngữ cùng trường
nghĩa như: mong, chờ, hy vọng gặp, đợi mỏi mòn, trông ngóng...
- kỷ niệm có lúc dùng: hoài niệm, ký ức, khung trời xưa cũ...
b. Sử dụng lối liên tưởng, so sánh để tăng hiệu quả diễn đạt:
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
7
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
Ví dụ:
+ Tsêkhôp là con chim linh điểu của buổi tịch dương trên đồng cỏ vĩ đại nước Nga.
Ông là cái sáo diều vĩ đại trên đôi cánh âm vang tiếng nói của hiện thực và nhịp
thơ của lãng mạn.
+ V.Huygô là cây sồi già với tán lá xanh ngắt và cảm hứng nghệ thuật không bao
giờ vơi cạn.
+ Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng có một cái gì rất gần gũi với thần thoại,
cổ tích, truyện Tàu, lại giông giống như thế giới bão giông của những trường ca,
những thiên truyện ngắn lãng mạn, của M.Gorki hay tiểu thuyết của Huygô, trong
đó có sự đối lập dữ dội giữa ánh sáng và bóng tối, giữa bão táp và nắng vàng, giữa
"Trên đời chỉ có một điều ấy thôi. Đó là thương yêu nhau", trong sự ăn năn chân
thành của một lão nông vì "đã trót lừa một con chó" (Lão Hạc - Nam Cao), trong
bát cháo hành xoàng xĩnh của cô gái xấu như ma chê quỷ hờn mà lòng đầy trắc ẩn
(Thị Nở trong "Chí Phèo" - Nam Cao)... Nẻo về yêu thương có muôn ngàn lối rẽ
nhưng đó là con đường rộng mở nhất, đã đi là sẽ đến. Nó không phải không có
chông gai, nhọc nhằn nhưng ở đó, con người có thể vượt lên lên sự bon chen phù
phiếm, đến với nhau bởi hai tiếng chân tình.
Đây là kiểu câu tương đối khó, để viết thành công học sinh cần phải có kiến thức
và vốn từ phong phú, khả năng tư duy mạch lạc, nếu không dễ rơi vào chỗ luẩn
quẩn. Để hướng dẫn học sinh, tôi thường sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở:
Câu hỏi 1. Theo em, phần bổ ngữ của câu văn trên được tạo thành bởi mấy vế ?
Câu hỏi 2. Cách sắp xếp các vế có gì đặc biệt(theo thứ tự tăng dần)? Nếu đảo vế
cuối lên vế đầu có được không?(không tương ứng về cách sắp xếp kiến thức, hai
nhân vật người mẹ và Giăng Vangiăng là kiến thức văn học thế giới)
Từ đó, học sinh có thể hiểu cách tạo câu này và học hỏi.
e. Sử dụng các câu văn biểu cảm để thể hiện cảm xúc:
Ví dụ: Cảnh cũ, người xưa quen thuộc quá! Trái tim đứa con xa xứ nay trở về bỗng
thắt lại! Có cái gì vừa quen thuộc, thân thương, nồng ấm, xúc động vì được bao bọc
và chở che, được chào đón trong vòng tay giang rộng lại như có cái gì hối lỗi, ân
hận, xót xa, ngậm ngùi vì đã lâu lắm không về thăm quê mẹ.
h. Sử dụng các thành ngữ, quán ngữ, đề ngữ:
Ví dụ 1: Một không khí buồn đến nhức xương được gợi lên từ thân phận một con
người sống thì như trâu, như chó, chết thì như con giun, con dế ở một xó vườn
hoang (Văn - Bồi dưỡng HS giỏi – Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống - tập1).
Ví dụ 2: Như một bản tình ca bất tận, bài thơ gieo vào lòng người đọc những cảm
xúc nồng nàn, say đắm về tình yêu đôi lứa.
i. Tạo giọng điệu riêng và biến đổi linh hoạt theo từng đối tượng cụ thể:
Người học văn bao giờ cũng mong muốn thể hiện được cá tính qua cách diễn
đạt. Tôi thường định hướng cho học sinh tạo cho mình một giọng văn riêng, tuỳ
theo cá tính và khả năng diễn đạt của mỗi em, có thể đó là giọng nghiêm trang, có
dường như, hay chăng…
3. Bước 3. Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn:
Ở khâu này, tôi chủ yếu hướng học sinh viết một số kiểu đoạn văn phổ biến như
sau: đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn tổng phân hợp. Tôi thường đưa ra ví dụ cụ
thể, yêu cầu học sinh phân tích bằng một hệ thống câu hỏi để các em nắm được bố
cục và cách triển khai đoạn văn theo từng dạng, sau đó giao bài tập tương tự cho
các em và chấm điểm.
a. Đoạn diễn dịch:
Ví dụ: Đọc văn Nguyễn Du, tôi thường dừng lại bồi hồi về những bóng trăng trong
thơ ông. Trăng soi người biệt li “nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”; trăng gợi
một kỷ niệm tình cũ đau buốt “Mày ai trăng mới in ngần”. Lãng đãng trên các
trang Kiều, người ta vẫn gặp những vầng trăng xao xuyến lòng người. Ở nơi khác,
trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du vẫn nói về trăng có câu như sau đây:
Lá cùng đường trăng lại đến thăm ta
Ba mươi năm trăng theo ta suốt chân trời góc biển.
Đọc hai câu thơ trên, tôi bàng hoàng nghiệm ra rằng nếu không có ba mươi năm
“chân trời góc biển” kia thì làm sao có được vầng trăng ấy trong Truyện Kiều.
(Hoàng Phủ Ngọc Tường).
- Phân tích ví dụ bằng một hệ thống câu hỏi:
+ Câu văn nào là câu chủ đề?
+ Các câu văn còn lại có nhiệm vụ gì, có liên quan gì đến câu đầu?
+ Hãy nêu bố cục của một đoạn văn diễn dịch?
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
10
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
+ Hãy nêu bố cục của một đoạn tổng – phân – hợp?
- Bài tập: Viết một đoạn tổng phân hợp (chủ đề tự chọn).
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
11
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
PHẦN III: KẾT LUẬN
I. Kết quả thực hiện:
Sau thời gian năm năm áp dụng các biện pháp nói trên, bước đầu tôi đã thu được
những kết quả khả quan. Cụ thể:
1. Những HS phát âm sai khi nói, đọc hoặc sai chính tả, ngữ pháp trong bài viết đã
dần có ý thức tự sửa chữa. Cá biệt có một vài em đã vượt lên chính mình, gần như
rất ít khi mắc lỗi.
2. Những học sinh hay nhút nhát khi nói trước tập thể cũng đã bớt lúng túng hơn và
dễ dàng biểu đạt ý tưởng khi trả lời câu hỏi của giáo viên.
3. Những học sinh có thiên bẩm về diễn đạt ngày càng hứng thú hơn với những
cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Các em coi đó cũng là một cách để thể hiện cá tính
của mình.
4. Dưới đây là khảo sát của một số lớp trước và sau khi tôi rèn luyện kỹ năng diễn
đạt cho học sinh năm học 2010 – 2011:
- Trước khi thực hiện:
Lớp
10A1
10A2
10A3
42
Dưới TB
8(18%)
10(23%)
11(26%)
9(22%)
TB
25(55%)
20(47%)
22(51%)
22(52%)
Khá, giỏi
12(27%)
13(30%)
10(23%)
11(26%)
- Sau khi thực hiện:
Lớp
10A1
10A2
10A3
11B2
II.Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình thực nghiệm, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm quý báu cho việc rèn
luyện rèn luyện kỹ năng diễn đạt của học sinh như sau:
Một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho
học sinh THPT trong môn Ngữ văn
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:
1. Ba bộ sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11,12 hiện hành – NXB Giáo dục.
2. Hai bộ SGK Ngữ văn 8 và 9 hiện hành – NXBGD.
3. Văn - Bồi dưỡng học sinh giỏi– Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống (tập
1) – NXB ĐHQG Hà Nội.
4. Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân.
5. Muốn viết được bài văn hay – Nguyễn Đăng Mạnh.
6. Các chuyên đề “Cách làm bài thi môn văn đạt điểm cao” của thạc sĩ Phạm
Hữu Cường trên báo điện tử “Tiền phong online”.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày10 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Pham Ngọc Hà
Phạm Ngọc Hà – THPT Nông Cống 1
14