Rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh trong dạy học phần ứng dụng đạo hàm chương trình Giải tích lớp 12, Ban nâng cao - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ HUYỀN RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC PHẦN ỨNG DỤNG ĐẠO HÀM CHƢƠNG
TRÌNH GIẢI TÍCH LỚP 12, BAN NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN
CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
( BỘ MÔN TOÁN)

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Vũ Lƣơng

HÀ NỘI – 2012

5
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Mục lục
iii
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
6

21
2.1. Một số kiến thức cơ bản
21

6
2.1.1. Khái niệm đạo hàm
21
2.1.2. Định lý tồn tại đạo hàm
21
2.1.3. Ý nghĩa hình học đạo hàm
22
2.1.4. Cực trị hàm số
22
2.1.5. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm số
22
2.2. Kỹ năng ứng dụng đạo hàm trong bài toán giải phương
trình, bất phương trình, hệ phương trình

23
2.2.1. Kỹ năng ứng dụng đạo hàm trong bài toán giải
phương trình, bất phương trình thường gặp

23
2.2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng ứng dụng đạo hàm
giải phương trình, bất phương trình, hệ phương trình

24
2.3. Kỹ năng ứng dụng đạo hàm trong bài toán cực trị
42
2.3.1. Cực trị của hàm số chứa tham số

3.2.1. Tổ chức thực nghiệm
103
3.2.2. Nội dung dạy thực nghiệm
104
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
108
3.3.1. Phương pháp giảng dạy
108
3.3.2. Khả năng lĩnh hội của học sinh
108
3.3.3. Kết quả kiểm tra
109
3.4. Kết luận chương 3
110
KẾT LUẬN
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO
113
8
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nâng cao chất lƣợng dạy học đang là một yêu cầu cấp bách đối với
ngành giáo dục nƣớc ta hiện nay. Một trong những khâu then chốt để thực
hiện yêu cầu này là đổi mới nội dung và PPDH. Luật giáo dục (1998) đã chỉ
rõ "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học;
bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn ".
Trong các môn học ở trƣờng phổ thông, môn Toán giữ một vị trí đặc
biệt quan trọng vì toán học là công cụ cho nhiều môn học khác. Môn Toán có
khả năng to lớn giúp cho học sinh phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, nó
góp phần to lớn vào việc đào tạo những ngƣời lao động thông minh, sáng tạo.
Việc truyền thụ những tri thức cũng nhƣ cung cấp cho học sinh phƣơng
pháp nghiên cứu toán học ở trƣờng phổ thông đƣợc thực hiện chủ yếu thông
qua quá trình rèn luyện phƣơng pháp để giải các bài toán.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: "Dạy toán là dạy kiến thức, kỹ năng, tư duy
và tính cách", trong đó kỹ năng có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi vì nếu
không có kỹ năng thì sẽ không phát triển tƣ duy và không đáp ứng nhu cầu
giải quyết bài toán. Dạy học trong các trƣờng phổ thông hiện nay đang đứng
trƣớc thực trạng: nội dung dạy học nặng nề về cung cấp kiến thức, phƣơng
pháp dạy học chủ yếu hƣớng đến sử dụng khai thác trí nhớ và khả năng tƣ duy
tái tạo của học sinh dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức một cách máy móc, ít
yếu tố tìm tòi sáng tạo trong học tập. Để khắc phục điều đó mỗi giáo viên phải

là đối tƣợng, nhƣng hơn thế nó vừa là công cụ mạnh đƣợc sử dụng để giải
quyết nhiều vấn đề phức tạp của toán THPT.
Vận dụng đạo hàm để giải toán THPT là một nội dung trọng tâm của
chƣơng trình luyện thi đại học và bồi dƣỡng HSG. Việc sử dụng đạo hàm thế

10
nào cho hợp lý trong các vấn đề liên quan vẫn luôn gây ra nhiều khó khăn cho
các em HS. Với mong muốn: làm sao để các em học sinh THPT đƣợc trang bị
đầy đủ các kiến thức trong việc học tập nghiên cứu ứng dụng của đạo hàm.
Đặc biệt với mục đích đƣa ra hệ thống bài tập đƣợc phân thành từng dạng bài,
nhằm đem lại thuận lợi cho HS trong quá trình học tập và nghiên cứu về đạo
hàm của hàm số. Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài: "Rèn luyện
kỹ năng giải toán cho học sinh trong dạy học phần ứng dụng đạo hàm
chƣơng trình Giải tích lớp 12, Ban nâng cao"
2. Lịch sử nghiên cứu
Đến nay có một số công trình nghiên cứu toán học theo một số góc góc
độ khác nhau: Vận dụng phƣơng pháp phát hiện và giải quyết vấn đề trong
dạy học khảo sát hàm số lớp 12 THPT - Luận văn thạc sĩ của Thân Văn
Khoát, Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008. Rèn luyện kỹ
năng giải toán cho học sinh thông qua dạy học chƣơng trình Tổ hợp và Xác
xuất lớp 11 THPT - Luận văn thạc sĩ của Vƣơng Thuỳ Dung, Đại học Giáo
dục - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011, đã mang lại hiệu quả thiết thực
trong giảng dạy và tiếp thu kiến thức trên lớp, nhƣng chƣa có công trình nào
nghiên cứu rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh trong dạy học phần ứng
dụng đạo hàm chƣơng trình Giải tích lớp 12, Ban nâng cao.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng giải toán
Tạo ra hệ thống các bài toán ứng dụng đạo hàm theo chủ đề nhằm rèn
luyện kỹ năng giải toán cho học sinh, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học
môn Toán ở trƣờng phổ thông

Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các đồng nghiệp trong
trƣờng và các đồng nghiệp ở các trƣờng khác.
Tham khảo ý kiến của các giáo viên có nhiều kinh nghệm trong giảng
dạy toán ở bậc THPT.
Tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của các giảng viên hƣớng dẫn, các
chuyên gia về bộ môn.

12
Xây dựng và sử dụng những mẫu phiếu điều tra về tình dạy và học
"Ứng dụng đạo hàm" (Điều tra qua giáo viên và học sinh).
Điều tra thực trạng kỹ năng giải toán của học sinh trƣớc và sau khi
giảng thực nghiệm.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Triển khai dạy thực nghiệm một số giáo án (vận dụng một số phƣơng
pháp trong các phƣơng pháp đã thực hiện) để đánh giá tính khả thi, kiểm định
giả thuyết khoa học để chứng tỏ giả thuyết đƣa ra là đúng
8.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phƣơng pháp thống kê trong sử lí kết quả thực nghiệm sƣ
phạm đối với HS trong dạy học phần “Ứng dụng đạo hàm”.
9. Dự kiến các luận cứ
9.1. Luận cứ lý thuyết
Các mục tiêu chung trong dạy học môn Toán ở trƣờng THPT.
Các lý luận của các nhà tâm lý đã nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng giải
toán cho học sinh THPT.
9.2. Luận cứ thực tiễn
Thực tế nho thấy học sinh hiện tại đại bộ phận ít tìm tòi, tự học, thụ
động, gần nhƣ không có sự sáng tạo. Đa số học sinh chỉ làm đƣợc những bài
tập mà giáo viên đã đƣa ra và nếu học sinh gặp các bài toán dạng khác thì khó
có thể làm đƣợc. Với việc rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh thì học
sinh sẽ chủ động, tự giác, sáng tạo trong học tập.

Theo [25] "Trong toán học kỹ năng là khả năng giải các bài toán, thực
hiện các chứng minh cũng nhƣ phân tích có phê phán các lời giải và chứng
minh nhận đƣợc".
Nhƣ vậy dù phát biểu dƣới góc độ nào, kỹ năng là khả năng vận dụng
kiến thức (khái niệm, cách thức, phƣơng pháp ) để giải quyết nhiệm vụ đặt ra.
Nói đến kỹ năng là nói đến cách thức thủ thuật và trình tự thực hiện các thao
tác hành động để đạt đƣợc mục đích đã định. Kỹ năng chính là kiến thức trong
hành động.

14
1.1.1.2. Đặc điểm của kỹ năng
Trong vận dụng, ta thƣờng chú ý đến những đặc điểm của kỹ năng:
- Bất kỳ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết, đó là kiến
thức, bởi vì cấu trúc của kỹ năng bao gồm: hiểu mục đích - biết cách thức đi
đến kết quả - hiểu những điều kiện để triển khai các cách thức đó.
- Kiến thức là cơ sở của các kỹ năng khi các kiến thức đó phản ánh đầy
đủ các thuộc tính bản chất của đối tƣợng, đƣợc thử nghiệm trong thực tiễn và
tồn tại trong ý thức với tƣ cách của hành động.
- Muốn có kỹ năng về hành động nào thì cần phải :
+ Có kiến thức để hiểu đƣợc mục đích của hành động, biết đƣợc điều
kiện, cách thức để đi đến kết quả, để thực hiện hành động
+ Tiến hành hành động đó với yêu cầu của nó
+ Đạt đƣợc kết quả phù hợp với mục đích đề ra
+ Có thể hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau
+ Có thể qua bắt chƣớc, rèn luyện để hình thành kỹ năng nhƣng phải
trải qua thời gian đủ dài. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy học sinh gặp rất nhiều
khó khăn trong việc vận dụng khái niệm và những kiến thức đã lĩnh hội đƣợc
vào giải quyết những vấn đề cụ thể. Cái khó khăn nằm ở chỗ, học sinh không
biết phát hiện những dấu hiệu bản chất của đối tƣợng, từ đó phát hiện những
mối liên hệ bản chất giữa tri thức đã có với đối tƣợng đó. Trong trƣờng hợp

con đƣờng dạy học này là dạy học nêu vấn đề.
Con đƣờng thứ hai là: Dạy cho học sinh nhận biết những dấu hiệu mà
từ đó có thể xác định đƣợc đƣờng lối giải cho một dạng bài toán và vận dụng
đƣờng lối đó vào bài toán cụ thể.
Con đƣờng thứ ba: Dạy học cho học sinh chủ yếu là những hoạt động
tâm lý cần thiết đối với việc vận dụng tri thức. Trong trƣờng hợp này giáo
viên không những chỉ cho học sinh tìm hiểu các mốc định hƣớng để chọn lọc
các dấu hiệu và thao tác mà còn tổ chức hoạt động cho học sinh trong việc cải
biến sử dụng thông tin thu đƣợc để giải bài toán đặt ra.

16
Trong giai đoạn đầu những mốc định hƣớng của đối tƣợng đƣợc đƣa ra
trƣớc học sinh dƣới dạng có sẵn, đƣợc vật chất hoá dƣới dạng sơ đồ, ký hiệu
về các đối tƣợng, còn thao tác và các mốc định hƣớng thì đƣợc thực hiện
những hình thức, những hành động đối tƣợng.
Ở giai đoạn thứ hai, các mốc định hƣớng và các thao tác cho đối tƣợng
đƣợc thay thế bằng các ký hiệu và các hành động ngôn ngữ.
Nhƣ vậy ngƣời giáo viên đã định hƣớng cho học sinh: Để chứng minh
bài toán trƣớc hết phải phân loại dạng bài tập và tìm nội dung đã đƣợc học để
tìm cách giải bài toán qua các giai đoạn cụ thể. Từ đó xây dựng đƣợc cho học
sinh các phƣơng pháp giải toán. Tuy nhiên để phát triển bài toán và khắc sâu
cho học sinh, giáo viên cần cho học sinh mở rộng bài toán: Tìm cách giải
khác nhau ,tổng quát hoá bài toán, khái quát hoá, tƣơng tự hoá…
Nhƣ vậy, học sinh đƣợc hình thành kỹ năng tƣ duy suy luận logíc.
Ngƣời ta còn gọi phƣơng pháp dạy học nói trên là phƣơng pháp hình thành
các hành động trí tuệ qua từng giai đoạn. Trên thực tế khi hình thành những
tri thức mới ai cũng phải trải qua các giai đoạn này. Tuy nhiên trong dạy học
thông thƣờng những giai đoạn không đƣợc tổ chức một cách có ý thức. Vì thế
học sinh phải tự phát hiện những dấu hiệu cảm tính hay những dấu hiệu lô gíc
mà điều chủ yếu là các em phải tự lựa chọn những hành động thích hợp để

động theo các yêu cầu cụ thể của tri thức đó, biết hành động có kết quả trong
những điều kiện khác nhau. Trong giải toán, theo tôi quan niệm về kỹ năng
giải toán của học sinh nhƣ sau: "Đó là khả năng vận dụng có mục đích những
tri thức và kinh nghiệm đã có vào giải những bài toán cụ thể, thực hiện có kết
quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài toán một cách
khoa học"
Để thực hiện nhiệm vụ môn Toán trong trƣờng THPT, một trong những
yêu cầu đặc biệt về tri thức và kỹ năng cần chú ý là những tri thức phƣơng
pháp, đặc biệt là những phƣơng pháp có tính chất thuật toán và những kỹ

18
năng tƣơng ứng. Tuỳ theo nội dung toán học mà có những yêu cầu rèn luyện
kỹ năng khác nhau.
1.1.2.2. Các yêu cầu rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh ở trường THPT
Truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của môn Toán. Rèn luyện kỹ năng toán học và kỹ năng vận dụng toán học vào
thực tiễn mà trƣớc tiên là kỹ năng giải toán nhằm đạt đƣợc những yêu cầu cần
thiết sau:
- Giúp học sinh hình thành và nắm vững những mạch kiến thức cơ bản
xuyên suốt chƣơng trình.
- Giúp học sinh phát triển năng lực trí tuệ. Cụ thể là rèn luyện và phát
triển
+ Tƣ duy lô gíc là ngôn ngữ chính xác, trong đó có tƣ duy thuật toán
+ Khả năng suy đoán, tƣ duy trìu tƣợng
+ Những thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tƣơng
tự hoá
+ Các phẩm chất trí tuệ nhƣ tƣ duy độc lập, tƣ duy linh hoạt và sáng
tạo.
- Coi trọng việc rèn luyện khả năng tính toán trong giờ học, đó là sự
phát triển trí tuệ cho học sinh qua môn Toán gắn bó với việc rèn luyện các kỹ

Huy động tri thức, kinh nghiệm hữu ích có liên quan đến giải bài toán
bao gồm hai dạng. Dạng 1 là những nội dung học sinh sản sinh ra một cách
tích cực bằng các thao tác tƣ duy, bằng lao động trí tuệ và thực hành. Dạng 2
là những ý tƣởng chợt loé sáng tự phát, đƣợc hiểu theo nghĩa bừng sáng của
quá trình tƣ duy sáng tạo.
- Kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoặch cụ thể giải bài toán.
- Kỹ năng thu nhận, hợp thức hoá bài toán thành kiến thức mới của
ngƣời giải toán.
- Kỹ năng kiểm tra đánh giá quá trình giải bài toán

20
* Nhóm kỹ năng thực hành
- Kỹ năng vận dụng tri thức vào hoạt động giải toán. Kỹ năng này đƣợc
rèn luyện trong quá trình tìm tòi lời giải của bài toán.
- Kỹ năng tính toán: đòi hỏi tính đúng, tính nhanh, tính hợp lý. Kỹ năng
này đƣợc rèn luyện thông qua bài luyện tập, thông qua tính nhẩm, bảng số,
máy tính
- Kỹ năng trình bày lời giải khoa học, sử dụng biểu đồ, sơ đồ, đồ thị
hàm số
-Kỹ năng ƣớc lƣợc, đo đạc
- Kỹ năng toán học hoá tình huống thực tiễn.
* Nhóm kỹ năng về tƣ duy
- Kỹ năng tổ chức các hoạt động nhận thức trong giải toán:
+ Sắp xếp kiến thức theo trình tự giải, nhớ lại và huy động kiến thức,
kinh nghiệm hữu ích để giải toán.
+ Phân loại bài toán để lựa chọn kế hoặch và phƣơng pháp giải.
+ Tập hợp các dữ kiện, xác định ẩn, biểu thị qua các mối liên hệ.
+ Xác định rõ giả thiết, kết luận phản ánh rõ các ký hiệu trong bài toán.
- Kỹ năng tổng hợp: Liên hệ các dữ kiện trong bài toán, tóm tắt nội
dung bài toán, kết cấu lại đề toán đã định hƣớng giải.

mở nhằm uốn nắn những lệch lạc (nếu có), củng cố kiến thức bằng bài tập,
hƣớng dẫn công việc học tập ở nhà. Phần bài tập, học sinh chuẩn bị ở nhà
hoặc chuẩn bị ít phút tại lớp, giáo viên gọi một hoặc một vài học sinh lên
bảng chữa, những học sinh khác nhận xét lời giải, GV sửa hoặc đƣa ra lời giải
mẫu và qua đó củng cố hiểu biết cho học sinh. Một số bài toán sẽ đƣợc phát
triển theo hƣớng khái quát hoá, đặc biệt hoá, tƣơng tự hoá cho đối tƣợng học
sinh khá giỏi.
Việc rèn luyện tƣ duy lô gíc cho học sinh không đầy đủ, thƣờng chú ý
đến việc rèn luyện khả năng suy diễn, coi nhẹ khả năng quy nạp. GV ít khi
chú ý đến việc dạy toán bằng cách tổ chức các tình huống có vấn đề đòi hỏi

22
dự đoán, nêu giả thuyết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngƣợc hoặc các tình
huống có chứa một số điều kiện xuất phát rồi yêu cầu học sinh đề xuất các
giải pháp. Còn nhiều GV sử dụng chủ yếu phƣơng pháp thuyết trình, đàm
thoại chƣa chú ý đến nhu cầu hứng thú học sinh trong quá trình học.
Thực tế ở các trƣờng phổ thông hình thức dạy học chƣa phong phú, đa
dạng, cách thức truyền đạt chƣa sinh động, chƣa gây hứng thú cho học sinh,
học sinh nhiều khi tiếp nhận kiến thức còn bị động. Những kỹ năng cần thiết
của việc tự học chƣa đƣợc chú ý đúng mức. Do vậy việc dạy học Toán ở
trƣờng phổ thông hiện nay còn bộc lộ nhiều điều cần đổi mới. Đó là học sinh
chƣa thực sự hoạt động một cách tích cực, chƣa chủ động sáng tạo, chƣa đƣợc
thảo luận để đƣa ra khám phá của mình, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn còn
yếu. Vai trò GV chủ yếu vẫn là thông báo kiến thức dạy học sinh cách chứng
minh, phán đoán và một số thói quen làm việc nhất định chứ chƣa kích thích
học sinh tìm đoán, sáng tạo bài toán. Hơn nữa do thời gian hạn chế, khối lƣợng
kiến thức cần truyền đạt theo SGK thì nhiều và phải dạy đúng phân phối
chƣơng trình nên chƣa phát huy đƣợc tính độc lập, sáng tạo học sinh. Chƣa tạo
đƣợc môi trƣờng để học sinh độc lập khám phá, tìm tòi và nghiên cứu.
1.2.2. Thực trạng việc học đạo hàm ở trường THPT

và công sức nghiên cứu. GV cần có thời gian giảng dạy vài năm để đúc rút
đƣợc kinh nghiệm giảng dạy phần môn học này. HS cũng mất một khoảng
thời gian để làm chủ kiến thức lâu hơn khi học các nội dung khác.
Để tìm hiểu đƣợc thực trạng dạy học đạo hàm ở trƣờng THPT tôi đã
tiến hành dự giờ quan sát, đàm thoại kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
Khi dạy lý thuyết:
- GV dễ dàng tạo đƣợc không khí học tập sôi nổi, hào hứng cho các em
HS thông qua các ví dụ cụ thể.
- GV gặp khó khăn trong việc phân hoá HS chính vì vậy mất nhiều thời
gian phân bậc kiến thức.

24
Khi dạy bài tập
- Do dạng bài tập của phần đạo hàm và ứng dụng đạo hàm rất đa dạng
và phong phú, GV phải mất công chọn lọc, tổng hợp, khái quát thành một hệ
thống bài tập phù hợp với trình độ nhận thức của từng HS. Đối với những bài
toán quen thuộc thì cách hƣớng dẫn có phần đơn giản, nhƣng gặp dạng toán
không quen thuộc, GV phải mất nhiều thời gian và công sức để hƣớng dẫn.
- Thời gian chữa bài tập trên lớp không nhiều nhƣng GV phải chữa một
số lƣợng lớn bài tập với đầy đủ các dạng và các bƣớc sau:
+ Củng cố lại lý thuyết.
+ Hƣớng dẫn HS dạng bài tập, mô hình hoá các tình huống để vận dụng
công thức cho đúng.
+ Chữa mẫu một số bài tập cơ bản.
+ Hƣớng dẫn HS cách trình bày lời giải cô đọng, dễ hiểu, xúc tích.
+ Dành nhiều thời gian để tìm hiểu, giải thích những sai lầm của HS.
+ Dành thời gian dạy phân hóa: Rèn kỹ năng cho HS trung bình và
hƣớng dẫn HS khá, giỏi làm bài tập khó để phát triển trí tuệ.
Dạy và học phần đạo hàm và ứng dụng đạo hàm rất vất vả nhƣng GV
tạo đƣợc hứng thú cho HS bằng cách hƣớng dẫn khuyến khích các em tự sáng

Thực tế cho thấy, nếu giáo viên lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp,
sẽ giúp học sinh có khả năng khắc sâu kiến thức cũ, củng cố kiến thức và kỹ
năng cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức một cách
vững chắc.
+ Về kỹ năng
Thông qua dạy học phần ứng dụng đạo hàm GV chú trọng rèn luyện
cho HS các kỹ năng sau:
- Kỹ năng thành thạo trong việc xét tính đơn điệu hàm số, tìm cực trị
hàm số, tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số trên tập số thực cho
trƣớc, viết phƣơng trình tiếp tuyến của hàm số. Kỹ năng giải phƣng trình, bất
phƣơng trình, hệ phƣơng trình, bất đẳng thức.

26
- Kỹ năng nhận dạng bài tập để lựa chọn đƣờng lối giải.
- Kỹ năng huy động các kiến thức lý thuyết đã đƣợc trang bị vào giải
một bài toán cụ thể.
- Kỹ năng kiểm tra đánh giá, trình bày lời giải của bài toán.
+ Về phương pháp
Trong thực tiễn dạy học từ rất xƣa phƣơng pháp dạy học tích cực đã
đƣợc xuất hiện, đến nay chúng ta đang cố gắng đổi mới PPDH là làm cho HS
học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Phải làm sao
trong mỗi tiết học HS đƣợc suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận và hoạt động nhiều
hơn. GV cần phải tổ chức cho HS đƣợc học tập trong hoạt động và bằng hoạt
động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo. Chú trọng cho học sinh biết cách
khai thác các phƣơng pháp khác nhau, lựa chọn các ƣu điểm của phƣơng pháp
dạy học đàm thoại phát hiện, phƣơng pháp dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề, phƣơng pháp dạy học khám phá, phƣơng pháp dạy học tự học… để
giải các dạng bài toán ứng dụng đạo hàm bằng con đƣờng tổng hợp. Giáo
viên cần quan tâm bồi dƣỡng cho học sinh năng lực thiết lập mối liên hệ giữa
kiến thức mới và kiến thức cũ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status