SKKN giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh khi dạy học phần LSVN từ thế kỉ x đến thế kỉ XIX lớp 10 THPT - Pdf 32

Sở giáo dục - đào tạo Lào Cai
Trờng THPT dân tộc nội trú tỉnh
--------------------------------------

TấN SNG KIN KINH NGHIấM
GIO DC TRUYN THNG ON KT DN TC CHO
HC SINH KHI DY HC PHN LCH S VIT NAM T
TH K X N TH K XIX LP 10 THPT

Mụn: Lch s
Tờn tỏc gi: Phm Thu Hin
GV mụn: Lch s
Chc v: Giỏo viờn

Nm hc 2013 2014

1


MỤC LỤC
DANH MỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
2. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
PHẦN II: NỘI DUNG
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRUYỀN
THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận.

30

PHẦN I: MỞ ĐẦU
2


1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Dân tộc Việt Nam ta có lịch sử lâu đời. Từ xưa, nhân dân ta đã coi trọng việc
lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ. Trong các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, thần
thoại, ca dao...có nhiều yếu tố của tri thức lịch sử, phản ánh nhiều sự kiện lớn của công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lịch sử của dòng họ, của địa phương cũng
đã ra đời từ khá lâu, có tác dụng không nhỏ vào việc giáo dục truyền thống, lòng tự
hào và trách nhiệm đối với quê hương, Tổ quốc, trong đó có việc giáo dục truyền
thống đoàn kết.
“Dựng nước đi đôi với giữ nước” là một trong những đặc trưng quan trọng
trong lịch sử nước ta, vì vậy đoàn kết dân tộc là một yêu cầu tất yếu khách quan của
cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, đó cũng là nguồn sức mạnh vô biên đưa dân
tộc Việt vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những chiến công vang dội
năm châu, bốn biển. Tầm quan trọng của sức mạnh đoàn kết dân tộc đã được văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) từng khẳng định: Kế thừa truyền thống quý
báu của dân tộc, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc đó là đường lối
chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây
dựng khối đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã
hội.
Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày nay, khi yêu cầu đổi mới của
toàn xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng đang đặt ra cấp thiết thì vị trí, vai
trò của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông cũng không thay đổi, nhất là vai trò của lịch
sử với việc giáo dục thế hệ trẻ. Đây là ưu thế sở trường của bộ môn. Với nhận thức
trên, nhiệm vụ giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho các thế hệ trẻ có một vai trò
to lớn, góp phần định hướng, bồi dưỡng ý thức, trách nhiệm công dân cho các em khi

hùng mạnh.
Tuy nhiên, bên cạnh thành công cũng có thời điểm do khối đoàn kết dân tộc bị
rạn nứt mà nhân dân ta không bảo vệ được nền độc lập, đất nước rơi vào ách thống trị
phong kiến phương Bắc. Đây chính là bài học đắt giá mà lịch sử để lại cho các thế hệ đi
sau khắc phục. Cho nên, khi dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ
XIX cho học sinh lớp 10 THPT giáo viên không chỉ cung cấp cho các em kiến thức
khoa học về lịch sử, mà cần phải chú trọng tới việc giáo dục học sinh các truyền thống
quý báu của dân tộc ta, trong đó có truyền thống đoàn kết dân tộc.
Xuất phát từ nhận thức trên, việc đề xuất tăng cường “Giáo dục truyền thống
đoàn kết dân tộc cho học sinh khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến
nửa đầu thế kỉ XIX - lớp 10 THPT” là rất cần thiết cho quá trình dạy học lịch sử.
4


2. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tôi chủ yếu đi khai thác
những nội dung lịch sử có tính giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc trong chương
trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10 THPT, giai đoạn từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX.
Trên cơ sở đó, tôi đề xuất các phương pháp và biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh khi dạy học lịch sử Việt Nam
giai đoạn này.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Mục đích: Đề tài đi sâu xây dựng nội dung và biện pháp sư phạm cụ thể trong
quá trình dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX để giáo
dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh. Qua đó nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn.
Nhiệm vụ: Xuất phát từ mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục truyền thống dân tộc, những
nội dung cơ bản của truyền thống đoàn kết dân tộc trong dạy học lịch sử.
- Nghiên cứu nội dung chương trình lịch sử Việt Nam ở lớp 10 THPT (chương

PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRUYỀN
THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận.
Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1998) được sửa
đổi và bổ sung (năm 2005) đã nêu: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và kĩ năng cơ bản nhằm hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm của công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sông lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đối với học sinh cấp THPT, học sinh sẽ được củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,
học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Đối với môn lịch sử cấp THPT, mục tiêu dạy và học được xây dựng trên cơ sở
chỉ đạo của quan điểm, đường lối của Đảng đối với sử học và giáo dục lịch sử. Ngoài ra
mục tiêu môn học còn căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thức
của con người về lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Cụ thể mục tiêu
của môn lịch sử ở trường THPT phải thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản sau:
Về giáo dưỡng: Cung cấp cho học sinh những sự kiện lịch sử quan trọng, những
nội dung chính xác của lịch sử loài người từ nguồn gốc đến nay, đặc biệt là những nội
dung lịch sử có liên quan đến lịch sử nước ta; những nét chính về quá trình phát triển của
lịch sử dân tộc trên cơ sở biết những sự kiện nổi bật nhất của từng thời kì, hiểu được nội
dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta, bên cạnh đó còn cung cấp cho học sinh
những quan điểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập,
phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh.
Về giáo dục: Từ tri thức lịch sử giáo viên tập trung giáo dục tư tưởng, tình cảm,
góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện. Trên cơ sở những phẩm chất đạo
đức, tư tưởng được giáo dục thông qua việc học tập lịch sử ở trường THCS, học sinh

sai lệch. Cụ thể: do quan niệm cho rằng lịch sử là môn phụ, khó học, khó nhớ, không
có những hữu ích trực tiếp trong thời buổi kinh tế thị trường, không thường xuyên thi
tốt nghiệp, nên các nhà trường thường hay ưu tiên cho các môn Toán, Lí, Hóa, Ngoại
Ngữ, Văn..., vì vậy dẫn tới cả giáo viên và học sinh đều dạy và học lịch sử còn mang
tính hình thức. Mặt khác, xuất phát từ quan niệm thi gì học nấy, môn nào cần cho thi cử thì
dành nhiều thời gian công sức để học và ngược lại. Cho nên công tác dạy và học lịch sử hiện
nay còn tồn tại nhiều bất cập là điều không tránh khỏi.
8


Bên cạnh đó, việc lựa chọn và hướng nghiệp của cha mẹ học sinh cũng tác động
không nhỏ đến việc học lịch sử của học sinh, nhất là ở các thị xã và thành phố lớn, chính điều
này đã tạo ra một cái nhìn lệch lạc, khiến cho việc dạy học lịch sử gặp nhiều trở ngại, làm cho
công tác giáo dục truyền thống dân tộc càng gặp nhiều khó khăn hơn.
Một thực tế khác nữa là do trong quá trình dạy học, công tác giáo dục truyền
thống của giáo viên trong giờ học lịch sử chưa thực sự sâu sắc, chưa tác động đến tư
tưởng, tình cảm của các em, dẫn đến nhận thức của các em về vấn đề này chưa rõ ràng.
Phương pháp giảng dạy lịch sử của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều hạn chế, chưa
thực sự đổi mới, vẫn tồn tại tình trạng đọc chép hay nhìn chép, do đó thiếu sự lôi cuốn
đối với học sinh, tạo ra cảm giác nhàm chán cho các em, hiệu quả giờ học không cao.
Như vây, quan niệm không đúng về việc dạy và học lịch sử cùng những hạn chế của giáo
viên khi lên lớp đã có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình
cảm cho học sinh trong đó có công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc .
Từ lí luận và thực tiễn trên, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng trong việc giáo
dục truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống đoàn kết dân tộc nói riêng trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông. Giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc không chỉ có ý
nghĩa trong việc nâng cao tri thức mà còn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện nhân cách
đạo đức cho thế hệ trẻ.
2. GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO HỌC SINH KHI
DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ

với nghệ thuật quân sự độc đáo, quyền biến, lập nên những chiến công thể hiện võ
công cao cả, vĩ đại như: Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê (981), cuộc kháng
chiến chống Tống thời Lí (1075 - 1077), cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Mông – Nguyên ở thế kỉ XIII, phong trào đấu tranh trống quân xâm lược Minh (cuối
thế kỉ XIV), kháng chiến chống Xiêm (1784 - 1785), cuộc kháng chiến chống quân
Thanh (1789), và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc.
Vì vậy, lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX giữ một vị trí hết
sức quan trọng trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Đây là thời kì mà truyền thống
đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ nhất. Ở đó, yếu tố con người tạo ra sức mạnh
tổng hợp trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự chủ cho nước nhà. Do đó, việc
nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam thời kì này có ý nghĩa sâu sắc.
Khai thác tốt nội dung lịch sử thời kì này có tác dụng lớn trong việc giáo dục
truyền thống dân tộc nói chung, giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc nói riêng. Qua
đó, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục đạo đức học sinh ở trường phổ
thông hiện nay.

10


2.2. Nội dung kiến thức cơ bản của chương trình lịch sử Việt Nam từ thế kỉ
X đến nửa đầu thế kỉ XIX cần khai thác để giáo dục truyền thống đoàn kết dân
tộc cho học sinh ở lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)
Nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX đã
phản ánh trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đấu tranh chống giặc
ngoại xâm. Chúng ta có thể dựa vào kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa để khai
thác nội dung giáo dục truyền thống dân tộc theo những chủ đề sau:
* Truyền thống đoàn kết dân tộc trong lao động sản xuất.
Đây là một truyền thống có từ rất sớm, gắn liền với quá trình hình thành và phát
triển của những cư dân Việt cổ làm nghề nông nghiệp trồng lúa nước. Do lấy nghề
nông làm gốc nên từ xa xưa người Việt đã biết cùng nhau đoàn kết bắt tay trị thủy,

thương. Nguyên nhân dẫn đến kinh tế thời kỳ này trì trệ chính là do chính sách của nhà
nước, đó cũng là một trong những bài học để rút kinh nghiệm cho quá trình xây dựng
truyền thống đoàn kết dân tộc.
* Truyền thống đoàn kết dân tộc trong chống giặc ngoại xâm.
Đây là một nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh, nhất là hiện
nay lớp trẻ không phải chịu đựng, chứng kiến các cuộc đấu tranh, các em được
sống trong hoà bình và ấm no. Do đó, giáo dục truyền thống nói chung và truyền
thống đoàn kết dân tộc nói riêng sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về những trang sử vẻ
vang của dân tộc, đánh giá được tầm quan trọng của truyền thống đoàn kết dân tộc
trong lịch sử, từ đó, hình thành trong các em ý thức phải giữ gìn và phát huy truyền
thống của dân tộc mình. Giáo viên có thể khai thác kiến thức trong sách giáo khoa
để giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc về chủ đề này qua các nội dung:
- Trong bài 19: “Những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm ở các thế kỉ X XV” là thời kì đầu của nước Đại Việt phong kiến độc lập, với các cuộc đấu tranh anh
dũng, kiên cường của dân tộc ta chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc,
ghi vào lịch sử những thắng lợi oanh liệt.
+ Mục (I): “Các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Tống”. Giáo viên có thể
khai thác kiến thức về hai lần kháng chiến chống giặc Tống của nhà Tiền Lê và nhà Lý.
Thời Tiền Lê, nhân lúc triều đình nhà Đinh gặp khó khăn, vua Tống cử quân sang xâm
lược nước ta, quân và dân đại Việt đã chiến đấu anh dũng. Giáo viên đi sâu vào chi tiết
nhà Tiền Lê tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Tống: Trước nguy cơ xâm lược, thái
hậu Dương Vân Nga đã đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của dòng họ, tôn
thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Lê Hoàn cùng
các tướng huy động quân sĩ cùng nhân dân khẩn trương chuẩn bị kháng chiến chống giặc.
Đến cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý, giáo viên khai thác nội dung ra
quân trước của Lý Thường Kiệt. Với sự kiện này, giáo viên phân tích cho học sinh về
12


lực lượng tham gia cuộc kháng chiến. Đặc biệt, giáo viên nhấn mạnh cho học sinh sự
tham gia của các tù trưởng dân tộc ít người ở phía Bắc. Sự tham gia đó chính là kết

13


Qua những nội dung trên, giáo viên tiến hành giáo dục cho học sinh truyền
thống dân tộc nói chung, truyền thống đoàn kết dân tộc nói riêng. Giáo viên giúp các
em hiểu được những giá trị tốt đẹp về truyền thống dân tộc. Từ đó, giáo dục lòng tự
hào, biết ơn những thế hệ đi trước, sự kính trọng đối với quần chúng nhân dân, ý thức
được bản thân mình cần gìn giữ và phát huy truyền thống ấy.
2.3. Phương pháp giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh
trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX ở lớp 10
THPT.
Giáo dục truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống đoàn kết dân tộc nói
riêng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông là thực hiện các chức năng giáo dục
của bộ môn. Ở phần trên, tác giả đã trình bày những nội dung kiến thức cơ bản của
chương trình lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX cần khai thác để
giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh. Tuy nhiên, để học sinh nắm vững
được các nội dung cơ bản trong sách giáo khoa và mở rộng thêm sự hiểu biết từ bên
ngoài, đòi hỏi trong quá trình dạy học giáo viên phải có những phương pháp tổ chức
phù hợp. Trong thực tế, không có phương pháp nào là vạn năng, duy nhất, mà các
phương pháp sư phạm thường kết hợp đan xen, hỗ trợ nhau tạo thành một hệ thống
phương pháp liên hoàn. Đồng thời, giáo viên phải căn cứ vào nội dung kiến thức, yêu
cầu cụ thể của từng bài mà đưa ra phương pháp giáo dục phù hợp. Điều quan trọng là
trong từng phương pháp cần chú ý việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
trong quá trình nhận thức.
Xuất phát từ cơ sở lí luận, thực tiễn và căn cứ vào nội dung chương trình lịch sử
Việt Nam lớp 10 giai đoạn từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX, tác giả đề xuất một số
hình thức và biện pháp sư phạm giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh
như sau:
* Sử dụng các phương pháp trình bày miệng sinh động, gây xúc cảm lịch sử,
qua đó giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho học sinh.

sự kiện, tính cụ thể, chính xác của tài liệu sử dụng. Tường thuật có tác dụng khơi dậy
óc tưởng tượng, tái tạo của học sinh trong học tập lịch sử.
Ví dụ, khi dạy học bài 23: “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất
nước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”, giáo viên có thể xây dựng và sử dụng đoạn
tường thuật về cuộc kháng chiến chống quân Xiêm (1785) của nghĩa quân Tây Sơn
dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ với trận Rạch Gầm – Xoài Mút đánh tan quân xâm
lược như sau:
“Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn Ánh đã sang cầu cứu vua Xiêm, giữa năm
1784, năm vạn quân Xiêm kéo vào Gia Định theo hai đường: Hai vạn quân đổ bộ lên
Kiên Giang, ba vạn quân đổ bộ vào Cần Thơ. Cuối năm đó, quân Xiêm đã chiếm miền
15


Tây Gia Định (các tỉnh miền Tây Nam Bộ), chúng mặc sức đốt phá, giết người, cướp
của. Tội ác của chúng làm tăng thêm lòng căm thù của nhân dân. Trước tình hình đó,
tháng 1 năm 1985, Nguyễn Huệ tiến công vào Gia Định, đặt đại bản doanh tại Mĩ Tho.
Sau khi nghiên cứu kĩ địa hình, ông đã chọn khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài
Mút làm trận địa quyết chiến với giặc…
Mờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ dùng mưu nhử địch vào trận
địa mai phục, Quân Xiêm có ưu thế về quân số nên tướng địch rất chủ quan, chúng
huy động tất cả quân thuỷ, bộ từ phía Trà Lọt tiến xuống Mĩ Tho đuổi theo quân Tây
Sơn. Khi quân địch lọt hoàn toàn vào trận địa mai phục, thuỷ quân của ta ở hai bên bờ
sông Thới Sơn bất ngờ xông ra. Địch bị tấn công bất ngờ và mãnh liệt, tất cả các chiến
thuyền của quân Xiêm bị đánh tan tác, gần 4 vạn quân bị giết tại trận, chỉ có vài nghìn
quân sống sót vượt qua Chân Lạp về nước. Từ đó, quân Xiêm “sợ quân Tây Sơn như
sợ cọp”, Nguyễn Ánh thoát chết phải trốn sang Xiêm lưu vong”.
Sau khi tường thuật xong, giáo viên kết hợp đưa ra câu hỏi để học sinh hiểu rõ
nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Xiêm (1785) không chỉ đơn thuần
do sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ mà đó còn là thắng lợi của cả một tập thể biết
đồng lòng, hợp sức, biết đoàn kết quyết tâm đánh đuổi quân thù. Giáo viên giúp học

giáo viên sử dụng tư liệu trong cuốn Kiến thức lịch sử lớp 10 để miêu tả hình ảnh Quang
Trung khi tiến vào Thăng Long: Quang Trung trên mình voi chiến, với chiếc áo chiến
bào đen sạm khói súng qua những ngày đêm chiến đấu ác liệt, dẫn đầu đoàn quân chiến
thắng.
Hình ảnh này giúp học sinh nhận thức được tính chất ác liệt của cuộc kháng
chiến chống quân Thanh, sự gan dạ, anh hùng của Quang Trung trong cuộc kháng
chiến. Đồng thời, giáo viên giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản. Trên cơ sở đó,
giáo viên giáo dục cho học sinh lòng biết ơn, kính trọng nhân dân lao động, giúp các
em nhận thức được tầm quan trọng của truyền thống đoàn kết dân tộc, anh dũng của
nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc.
+ Thứ hai, dùng để khái quát tính chất hiện tượng lịch sử dưới dạng một hình
ảnh tượng trưng, nhằm giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung, bản chất hiện tượng.
Ví dụ, khi dạy bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ
X - XV”, khi dạy mục (III): Phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh và khởi
nghĩa Lam Sơn. Để giảng giải cho học sinh về nguyên nhân dẫn tới các phong trào đấu
tranh trong giai đoạn này, giáo viên có thể sử dụng tư liệu văn học trong dạy học lịch
sử, sử dụng hai câu thơ trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

17


Với mục đích, giúp học sinh nhận thức được tội ác tàn bạo, dã man của quân
Minh đối với nhân dân ta, chính lòng căm thù đối với quân xâm lược đã làm bùng lên
khởi nghĩa Lam Sơn. Việc sử dụng tư liệu văn học để miêu tả tội ác của giặc giúp học
sinh nắm được kiến thức cơ bản về nguyên nhân dẫn đến khởi nghĩa Lam Sơn. Từ
kiến thức cơ bản đó, giáo viên bồi dưỡng lòng yêu nước, căm thù giặc, ý thức độc lập
và truyền thống đoàn kết dân tộc của nhân dân cho học sinh. Trên cơ sở đó, các em
phát huy khả năng tư duy, tưởng tượng, rút ra nhận xét của bản thân và rèn luyện cho

nhận chức cũng chưa muộn gì.
Đến khi Thánh Tông về thì việc ấy lại bỏ đấy, vì Quang Khải và Trần Quốc
Tuấn hai nguời vốn không ưa nhau.
Một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp đến Thăng Long. Quang Khải xuống thuyền
đánh cờ chơi vui suốt ngày rồi mới về nhà. Tính Quang Khải lười tắm gội. Quốc Tuấn
thì thích xông và tắm. Quốc Tuấn nói đùa với Quang Khải rằng: Thân thể ngài cáu
bẩn, xin được tắm giùm. Rồi Quốc Tuấn cởi áo Quang Khải ra, lấy nước thơm để tắm
gội và nói: Hôm nay tôi được tắm gội cho Thượng tướng. Quang Khải cũng nói: Hôm
nay tôi được Quốc công tắm gội cho.
Từ đấy hai người vui vẻ giao du với nhau, tình thân càng mặn mà, làm
tướng văn và tướng võ để phò giúp nhà vua
- Thứ tư, sử dụng phương pháp Giải thích.
Giải thích được sử dụng để tìm hiểu sâu hơn bản chất, ý nghĩa của những hiện
tượng phức tạp, nắm vững những khái niệm, các quy luật, nhằm làm cho học sinh có
quan điểm khoa học về sự phát triển của xã hội loài người, về những mối liên hệ nhân
quả giữa các hiện tượng. Giải thích phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập lịch sử ở
trường PTTH, góp phần vào phát triển tư duy lí luận của các em. Vì vậy, trong mỗi bài
giảng, giáo viên cần xác định rõ những vấn đề nào cần giải thích, như sự thay đổi của
một chế độ xã hội này bằng một chế độ xã hội khác, vai trò của quần chúng nhân dân
trong một sự kiện lịch sử cụ thể.
Chẳng hạn như: Giáo viên muốn giáo dục cho học sinh hiểu được quy luật: Khi
nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì chúng ta sẽ giành được thắng lợi, còn khi
nào không tập hợp được sức mạnh của toàn dân thì không thể tránh khỏi thất bại. Giáo
viên có thể giải thích nội dung này cho học sinh như sau:
Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm nhân dân luôn phải đương
đầu với kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo. Vì luôn phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống
mạnh, lấy tinh thần để chiến thắng vật chất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, dân
tộc ta phải phát huy đến cao độ trí tuệ biết đánh và biết thắng để chống lại mọi kẻ thù.
Điển hình như trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Tống, Lí Thường Kiệt đã
vừa đấu lực, vừa đấu trí với quân thù. Biết địch đang có âm mưu xâm lược nước ta, Lí

rộng rãi trong khôn khổ phong kiến.
Trái lại, nhà Hồ là một ví dụ điển hình về bài học không đoàn kết được sức
mạnh toàn dân, nên đã bại trận trước sự xâm lược của quân Minh. Ngay từ đầu, nhà
Hồ đã không lấy được lòng dân vì bị coi là triều đại cướp ngôi của nhà Trần. Hành
động này trái với những chuẩn mực khắt khe của lễ giáo phong kiến bấy giờ. Do vậy,
20


khi quân Minh tràn tới, mặc dù cha con Hồ Quý Ly rất có tài thao lược quân sự nhưng
vẫn không thể huy động được sức mạnh toàn dân đánh đuổi bè lũ phong kiến phương
Bắc, giữ vững nền độc lập dân tôc. Hệ quả là nhân dân ta phải chịu 20 năm dưới ách
đô hộ của nhà Minh. Và chính bản thân Hồ Nguyên Trừng đã nhận thức rõ được tầm
quan trọng của đoàn kết sức dân, ông đã nói: Tôi không sợ đánh giặc, mà chỉ sợ lòng
dân không theo.
Bài học về hệ quả của việc không đoàn kết được sức mạnh toàn dân cũng được
thể hiện rõ nét ở thời nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Ánh sáng lập ra triều Nguyễn trên
cơ sở đàn áp triều đại Tây Sơn - một triều đại tiến bộ trong lịch sử dân tộc. Cho nên
ngay từ đầu, triều đại này đã không thuận lòng dân. Điều này lí giải tại sao, đây là triều
đại duy nhất mà khởi nghĩa nông dân nổ ra ngay từ khi nhà Nguyễn mới thành lập.
Người ta đã thống kê được có khoảng 400 cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều
đình trong vòng 50 năm đầu thế kỉ XIX. Có thể nói đây là biểu hiện rõ nhất của việc
mất lòng dân. Và kết cục là nhà Nguyễn đã để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, cũng
là sự bắt đầu của gần một thế kỉ đầy biến động, đau thương mà dân tộc Việt Nam phải
gánh chịu, đến năm 1945 mới chấm dứt.
Qua hai bài học trên, chúng ta càng ý thức rõ được vai trò, ý nghĩa vô cùng
quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp sức dân. Nó hoàn toàn đúng với chân lí: Quần
chúng nhân dân đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của lịch sử.
Trên đây là một ví dụ sử dụng phương pháp giải thích giúp học sinh nắm được quy
luật lịch sử về đoàn kết dân tộc trong chống giặc ngoại xâm. Trong quá trình giảng dạy,
giáo viên cũng có thể kết hợp giải thích một số từ, thuật ngữ, khái niệm mới, khó đối với

phát triển lên.
Ví dụ, khi dạy học bài 23 “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất
nước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”, giáo viên sử dụng lược đồ trận Ngọc Hồi Đống Đa để trình bày diễn biến của trận đánh.
Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ và giới thiệu khái quát,
sau đó giáo viên giới thiệu các kí hiệu trên lược đồ . Học sinh tiếp tục quan sát, giáo
viên tiến hành lược thuật trên bản đồ, hoặc cũng có thể yêu cầu các em đọc sách giáo
khoa nêu lại diễn biến chính trước khi giáo viên trình bày trên bản đồ. Trong khi tường
thuật và miêu tả diễn biến của trận đánh, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh phân
tích tính chất quyết liệt của cuộc chiến, khắc sâu hình ảnh chiến đấu ngoan cường của
binh lính và nhân dân chống lại kẻ thù bằng những vũ khí thô sơ nhất. Cụ thể ta có thể
khắc sâu như sau: khi hạ xong đồn Hạ Hồi, đại quân Tây Sơn tiến gấp về đồn Ngọc
Hồi. Mờ sáng ngày mùng 5 tết Kỉ Dậu, trận chiến bắt đầu. Lúc trời còn chưa sáng đội
tượng binh của Quang Trung bất thần tiến nhanh về phía Ngọc Hồi. Mũi tên của địch
bắn ra như mưa. Đoàn voi chiến liền chia làm hai cánh tả hữu mở đường cho đội xung
22


kích tiến lên. 600 chiến sĩ cảm tử chia làm 20 toán, cứ 10 người, dao dắt bên hông,
cùng nhau khiêng một tấm mộc lớn, bên ngoài quấn rơm ướt xông lên phía trước, sau
có 20 chiến sĩ đi theo, kết thành những bức tường di động. Đại bác, cung nỏ, hỏa mù
của địch bắn ra tới tấp, “khói tỏa mù trời” nhưng không ngăn cản bước tiến của đoàn
quân cảm tử. Áp sát chân lũy, các chiến sĩ xung kích bỏ tấm mộc xuống, rút dao và các
loại vũ khí khác xông vào chiến đấu dữ dội. Cùng lúc đó, theo sự chỉ huy của Quang
Trung, hàng vạn quân ào ạt xông lên tiếp chiến…Trước sức tấn công như vũ bão của
quân ta, địch chống không nổi, quay đầu chạy toán loạn …Bị tấn công bất ngờ, quân
giặc hoảng loạn, chống đỡ yếu ớt. Hàng ngàn quân Thanh tử trận. Nhân dân chín xã
ngoại thành sôi nổi dùng rơm rạ bện thành hình rồng, đốt lên xông vào doanh trại giặc
trợ chiến.
Kết thúc bài tường thuật, kết hợp sử dụng bản đồ và tranh ảnh, giáo viên tái
hiện cho học sinh bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống quân Thanh, để các

về các biến cố lớn của lịch sử dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và xây
dựng đất nước. Cuối cùng, giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về những yếu tố tạo
nên sự thành công cũng như thất bại của các phong trào kháng chiến chống quân xâm
lược của nhân dân ta từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII và chốt lại: Trong giai đoạn này,
chúng ta đã giành được thắng lợi hết sức to lớn bởi có sự chỉ huy mưu lược của các
nhà cầm quân, các nhà lãnh đạo; thắng lợi đó có được cũng là nhờ ý chí quyết chiến
bảo vệ nền độc lập của quân dân Đại Việt; một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là
sự đoàn kết trên dưới một lòng của quân và dân ta. Sự đoàn kết của chính quyền nhà
nước, của quân và dân ta đã góp phần tạo ra sức mạnh to lớn đánh thắng nhiều kẻ thù
hùng mạnh.
Tên triều đại và
các cuộc khởi

Nội dung chính

Kết quả

nghĩa
Thời Tiền Lê: Kháng Năm 981 quân Tống tiến vào nước Kháng chiến của nhân
chiến chống Tống

ta. Trước nguy cơ xân lược, thái hậu dân ta giành thắng lợi.
Dương Thị đặt quyền lợi dân tộc lên Tướng giặc bị bắt, rút
trên quyền lợi dùng họ, tôn Lê Hoàn chạy về nước
lên làm vua lãnh đạo cuộc kháng

Thời

Lý:


sông Bạch Đằng) (1287 - 1288).
Thời Hồ (1400 - - Cuộc cải cách nhà Hồ không đạt kết Nước ta rơi vào ách đô
1407)

quả như mong muốn, quân Minh ồ ạt hộ của quân Minh.
tiến sang xâm lược.
- Năm 1407,cuộc kháng chiến nhà

Khởi

nghĩa

Hồ thất bại.
Lam - Mùa xuân 1418, Lê Lợi lãnh đạo Giặc rơi vào thế cùng

Sơn (1417 - 1427)

khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hoá).

quẫy, tháo chạy về

- Cuối năm 1427, 10 vạn quân cứu nước.
viện của giặc bị đánh tan tành ở trận
Thời Tây Sơn:
*

Kháng

Chi Lăng – Xương Giang.
- Nguyễn Ánh cầu viện vua Xiêm, 5

lợi ở trận Ngọc Hồi - Đống Đa.
Cách dùng bảng thống kê kết hợp với phương pháp tổ chức cho học sinh trao
đổi thảo luận như trên sẽ hệ thống hoá và khắc sâu kiến thức cho học sinh về các cuộc
đấu tranh và thành quả mà cha ông ta đạt được trong công cuộc bảo vệ nền độc lập
nước nhà. Công việc này cũng giáo dục cho các em phải biết giữ gìn và phát huy
truyền thống đoàn kết dân tộc, rèn luyện kỹ năng học tập bộ môn như lập bảng niên
biểu, so sánh…
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status