skkn giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT DTNT qua công tác chủ nhiệm - Pdf 44

Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm

PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1. Ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, nhiệm vụ trọng tâm của
toàn dân ta là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chúng ta biết rằng, công nghiệp hóa và hiện đại hóa không phải là mục đích tự
thân, mà là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi
quốc gia. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta tiến triển trước bối
cảnh xu thế toàn cầu hóa về nhiều mặt đang gia tăng. Xu thế đó là khách quan,
chúng ta không thể tách mình ra khỏi dòng chảy toàn cầu hóa, mà phải chuẩn bị
cho mình đầy đủ những năng lực nội sinh cần thiết để chủ động hội nhập kinh tế
thế giới. Muốn vậy, trước hết vừa phải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa
phải tiếp thu được những tinh hoa của văn hóa nhân loại. Vì thế, Báo cáo chính
trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII trình
trước Đại hội IX đã nhấn mạnh việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có vai trò rất lớn trong việc giữ gìn
và phát huy bản sắc dân tộc. Đó là chiếc cầu nối giữa quá khứ - hiện tại - tương
lai, góp phần tạo nên những giá trị bền vững vừa mang tính truyền thống vừa
mang tính hiện đại.
1.2. Trường THPT DTNT N’Trang Lơng là một ngôi trường chuyên biệt
được thành lập ngay từ khi tách tỉnh năm 2004, có trọng trách đào tạo nguồn cán
bộ người dân tộc thiểu số cho tỉnh Đắk Nông. Ngôi trường là nơi hội tụ của con
em 15 dân tộc khác nhau trong toàn tỉnh, mỗi dân tộc mang một bản sắc văn hóa
khác nhau. Các em hội tụ về đây không chỉ để thực hiện khát vọng con chữ, tìm
cánh cửa lập thân lập nghiệp, góp phần xây dựng quê hương mà quan trọng hơn,
trong suốt ba năm chung sống, cùng ăn ở, học tập chính là cơ hội để các em rèn
luyện kỹ năng sống, bồi đắp những hiểu biết không chỉ về dân tộc mình mà còn
hiểu thêm về văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau. Đây chính là nguồn tri thức
vô giá không có trường lớp nào có thể đào tạo được mà chỉ có quá trình chung
sống, san sẻ mới có cơ hội tiếp cận. Cho nên, đối với một giáo viên giảng dạy ở

xuyên với các hoạt động văn hóa mà học sinh trường PTDTNT vẫn là người con
của dân tộc, đồng thời là người hiểu biết và tôn trọng bản sắc văn hóa của các
dân tộc anh em.
Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài Giáo dục bản sắc văn hóa dân
tộc cho học sinh THPT DTNT qua công tác chủ nhiệm làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 2


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
2.1. Mục tiêu: Xuất phát từ thực trạng ngoài xã hội và tình hình thực tế
của nhà trường, mục tiêu mà tôi đặt ra là sau quá trình thực hiện, học sinh có sự
chuyển biến tích cực trong nhận thức, ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Đồng thời những hiểu biết và hoạt động sau khi thực nghiệm sẽ là
kiến thức bổ ích hỗ trợ cho các em trong quá trình học tập.
2.2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, tìm hiểu sâu rộng về bản sắc văn hóa dân tộc của nhiều dân tộc
khác nhau, tập trung vào các dân tộc hiện có học sinh đang theo học trong nhà trường.
- Tích cực thâm nhập thực tế, tìm hiểu qua các lễ hội tại địa phương, qua
tiếp xúc với phụ huynh học sinh…
- Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, chú ý khâu theo dõi, đánh giá
khả năng, mức độ thực hiện của học sinh.
- Đề ra được những giải pháp, cách thức cụ thể, có tính khả thi cao
3. Đối tượng nghiên cứu
Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung vào đề tài Giáo dục bản
sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT DTNT qua công tác chủ nhiệm được
rút ra từ quá trình làm công tác chủ nhiệm của bản thân.

sự. Khái niệm "văn hoá" được hiểu như trên để phân biệt với khái niệm văn
hiến.
- Chỉ văn vật, “văn minh”
- Chỉ giai đoạn phát triển của xã hội loài người... có trình độ tổ chức và
sinh hoạt cao.
Như vậy, khái quát lại, văn hóa là sự hợp nhất giá trị sáng tạo của con
người trải qua nhiều thế hệ, bao gồm nhiều lĩnh vực, đa dạng về sản phẩm. Sản
phẩm văn hóa tồn tại theo hình thức vật chất hay phi vật chất. Sản phẩm văn hóa
không ngừng được con người sáng tạo, lưu giữ, vận dụng và phát triển. Văn hóa
dân tộc bao gồm giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sáng tạo trong suốt quá
trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Tùy tình hình vận động và
phát triển của mỗi dân tộc mà quy mô và bề dày sáng tạo văn hóa của từng dân
tộc có khác nhau. Văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển có nghĩa là một
dân tộc được tồn vong.
1.1.2. Thuật ngữ “bản sắc” nhấn mạnh cái riêng tạo thành phẩm cách, tài
năng. Cũng cần phân biệt, từ “đặc biệt” chỉ sự khác xa mức thường, “đặc điểm”
chỉ những nét riêng biệt, “đặc trưng” chỉ dấu hiệu đặc biệt nổi trội. “Bản sắc
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 4


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
văn hoá” là những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những giá trị vật chất
và tinh thần được tích luỹ và phát triển trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó
quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc. Những giá trị đó có thể
có ở mọi dân tộc, song ở dân tộc có bản sắc văn hoá được biểu hiện đậm nét, sâu
sắc và đặc biệt hơn. Hệ thống cấu trúc bản sắc văn hoá dân tộc: Theo Giáo sư
Phạm Hoàng Gia, một nhà nghiên cứu về văn hóa cho rằng: hạt nhân của bản
sắc dân tộc gồm: lối sống; tâm thức – lối ứng xử; ngôn ngữ.

Chủ trương xây dựng con người văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước coi
trọng, tiếp tục kế thừa những nội dung của Nghị quyết TW 5 khóa VIII, Nghị quyết
Trung ương 9 đã chỉ rõ: “So với những thành tựu trong lĩnh vực chính trị, kinh tế,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng,
chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và xây dựng môi trường văn
hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong
Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng… Môi trường văn hóa còn tồn tại
tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội
phạm có chiều hướng gia tăng”. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân của
“kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh thấp”. Nguy
cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới chưa
được đẩy lùi mà còn có chiều hướng gia tăng. Từ thực tiễn nêu trên đòi hỏi các cấp
ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị khi triển khai thực hiện phải quán triệt
và xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng kinh tế với phát triển văn hóa,
phải xây dựng và thực hiện đồng bộ chính sách văn hóa trong kinh tế và chính sách
kinh tế trong văn hóa, đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế,
thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn
hóa. Việc xây dựng các mục tiêu giải pháp kinh tế phải gắn với các mục tiêu giải
pháp văn hóa, chăm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Xây
dựng văn minh thương nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa sinh thái…
Chương trình xây dựng và phát triển văn hóa phải vì mục tiêu phát triển
toàn diện con người, hoàn thiện nhân cách con người, với nhiệm vụ trọng tâm là
chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ
bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Các hoạt động của hệ thống giáo dục - đào tạo, của hệ thống thiết chế văn
hoá, khoa học phải hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới
quan khoa học, gắn giáo dục, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người,
quyền và nghĩa vụ công dân, bồi dưỡng tri thức, nâng cao trí lực và kỹ năng
sống, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
2.2. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục
Từ chủ trương, đường lối của Đảng, ngành giáo dục cũng vận dụng các
giá trị văn hóa là mục tiêu quan trọng, trong Luật giáo dục đã khẳng định: “Kế
thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 7


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
văn hóa nhân loại” (Điều 5, Chương 1, Luật GD sửa đổi bổ sung năm 2009).
Bên cạnh đó chính sách trọng tâm đã và đang thực hiện là phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong Chỉ thị số
40/2008/CT-BGĐT ngày 22/7/2008 đã nêu rõ: “Mỗi trường đều nhận chăm sóc
một di tích lịch sử, văn hóa hoặc di tích cách mạng ở dịa phương, góp phần làm
cho di tích ngày càng sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn; tuyên truyền, giới thiệu các
công trình, di tích của địa phương với bạn bè. Mỗi trường có kế hoạch và tổ
chức giáo dục truyền thống VHDT và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả
cho tất cả học sinh; phối hợp với chính quyền, đoàn thanh niên và nhân dân địa
phương và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng cho
cuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách…”.
2.3. Xuất phát từ tình hình thực tiễn của nhà trường
2.3.1. Là một tỉnh phía Nam Tây Nguyên, Đắk Nông như một bản trường
ca huyền bí giữa núi rừng đại ngàn, nơi thượng nguồn của dòng sông Đồng Nai
thơ mộng được bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh, những thác nước còn
mang vẻ hoang sơ, hùng vĩ, và những đồi càfe, cao su ngút ngàn trải dài từ Bắc
chí Nam. Đất lành thì chim đậu, mặc dù là một tỉnh mới được thành lập 12 năm
nay nhưng Đắk Nông là nơi hội tụ của hơn 20 dân tộc khác nhau trên cả nước,
trong đó hai dân tộc bản địa là Mạ, MNông chiếm đa số. Trên cơ sở đó, ngay khi

thậm chí là không biết ngôn ngữ của chính dân tộc mình, nhất là học sinh dân
tộc phía Bắc (Thái, Tày, Nùng…); không biết hoặc biết rất mơ hồ về phong tục
tập quán của dân tộc mình như: lễ hội, các làn điệu dân ca, nghi thức trong ma
chay, cưới hỏi…; ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, các em cũng rất ít, gần
như không mặc, trang phục truyền thống của dân tộc mình.
Từ quá trình dạy dỗ, gắn bó với các em qua công tác giảng dạy, đặc biệt là
chủ nhiệm, tôi nắm được sơ bộ về nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên:
Thứ nhất, xuất phát từ nếp nghĩ của bản thân, các em luôn tự ti, mặc cảm
bản thân là người dân tộc thiểu số, không văn minh, không đẹp nên không muốn
mặc trang phục dân tộc và sử dụng tiếng mẹ đẻ vì không muốn mọi người xung
quanh gọi là “người dân tộc”. Bên cạnh đó, trang phục dân tộc thường vướng
víu, bất tiện, không hợp mốt lại phải rất tốn công sức, tiền bạc mới có được một
bộ (nhất là trang phục thổ cẩm, váy áo của người Mông…).
Thứ hai, trong quá trình chung sống với nhiều dân tộc khác nhau nên ảnh
hưởng cách sống, cách nghĩ của nhau, đặc biệt là gia đình của chính các em cũng
không coi trọng việc giáo dục con em mình giữ gìn và phát huy những bản sắc dân
tộc.
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 9


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
Thứ ba, là những ảnh hưởng, tác động quá lớn của lối sống hiện đại đặc
biệt là công nghệ thông tin, sự cám dỗ, hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi điện
tử, phim ảnh không lành mạnh.
Thứ tư, là môi trường giáo dục nhà trường chưa đồng bộ trong việc giáo
dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, giáo viên chủ yếu tập trung vào
chuyên môn và cũng không chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu các phong tục tập
quán, bản sắc văn hóa của các dân tộc để giáo dục học sinh; trong công tác chủ

quy định thứ 2 với thứ 7 trong tuần các em phải mặc trang phục dân tộc, muốn
vậy bản thân giáo viên chủ nhiệm cũng phải làm mẫu, cũng phải mặc áo dài đến
trường. Đồng thời, giúp học sinh thấy được trang phục truyền thống của mỗi dân
tộc không phải ngẫu nhiên xuất hiện và tồn tại mà được tạo ra dần trong suốt
quá trình hình thành, tồn tại và phát triển qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ
nước. Nó là thứ văn hóa " tinh túy" được chắt lọc trong quá trình ứng xử của con
người, trong quan hệ tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội,
giữa con người với con người trong cùng môi trường sống. Việc giáo dục giúp
học sinh biết được nguyên nhân, ý nghĩa, sự tồn tại trang phục truyền thống của
dân tộc mình và các dân tộc khác. Từ đó, học sinh mới hiểu rõ nhờ có trang
phục truyền thống và các yếu tố văn hóa khác mà các dân tộc mới đủ sức tồn tại
trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam, đủ sức vượt qua các cuộc đồng
hóa của nền văn hóa ngoại lai, đủ bản lĩnh chiến thắng giặc ngoại xâm để giữ
vững nền độc lập tự chủ của dân tộc. Đồng thời, giáo dục còn giúp cho học sinh
hiểu một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa nói chung, trang phục truyền thống
của dân tộc mình nói riêng thì sớm muộn và tất yếu cũng sẽ bị dân tộc khác
đồng hóa.Việc giữ gìn và bảo tồn trang phục truyền thống có tầm quan trọng đối
với việc nhận thức về sự tồn tại của chính cộng đồng đó trong lịch sử.
Bên cạnh đó, giáo viên phải thường xuyên nhắc nhở các em phải biết trân
quý những bản sắc của dân tộc mình như thường xuyên sử dụng tiếng mẹ đẻ, tìm
hiểu các phong tục tập quán lâu đời, lễ hội của dân tộc mình…không chỉ trên
lớp học mà qua các buổi gặp gỡ, trò chuyện với các em ở kí túc xá.
3.2. Xây dựng kế hoạch cụ thể, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động
nhằm giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh
Muốn thực hiện được điều này bản thân giáo viên chủ nhiệm phải có sự
hiểu biết sâu rộng về bản sắc văn hóa và các phong tục tập quán của nhiều dân
tộc khác nhau, nhất là các dân tộc bản địa như Mạ, M Nông và một số dân tộc
phổ biến như Tày, Thái, Mường, H Mông…Do vậy, để có thể giáo dục được học

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Đây là hoạt động nội bộ của lớp nhưng được tổ chức bài bản, có đánh giá, trao
giải, ban giám khảo gồm có 5 người: Giáo viên chủ nhiệm, đại diện một phụ huynh
học sinh ở gần nhất, một giáo viên trong BCH Đoàn trường và 2 học sinh khá, giỏi
thuộc 2 dân tộc khác nhau của khối 12. Đầu tiên tôi chia lớp thành 4 nhóm, mỗi
nhóm thực hiện một nhiệm vụ với thời gian tìm hiểu và hoàn thành là 2 tuần.
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 12


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
- Nhóm 1. Sưu tầm 5 truyện dân gian, thể hiện 3 làn điệu dân ca của các
dân tộc thiểu số và nêu ý nghĩa của mỗi câu chuyện, nội dung, ý nghĩa của mỗi
làn điệu dân ca.
- Nhóm 2. Thuyết minh về một phong tục tập quán , một đặc sản của dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên mà em ấn tượng nhất.
- Nhóm 3. Thuyết minh về một số phong tục truyền thống hoặc lễ hội dân
gian trong dịp Tết của các dân tộc miền núi phía Bắc.
- Nhóm 4. Trong vai trò là một hướng dẫn viên du lịch em hãy giới thiệu cho
khách tham quan về một nghề thủ công truyền thống và sản phẩm của nghề thủ công ấy.
Điểm thuận lợi là trước khi nghỉ Tết âm lịch các em đã hoàn thành
chương trình học kỳ I, chương trình thời điểm này cũng tương đối nhẹ nhàng,
hơn nữa đối với học sinh nội trú thời gian nhiều hơn, không phải học thêm hay
làm công việc gia đình nên các em có thể thực hiện được các hoạt động ngoại
khóa tốt hơn. Thời điểm tổ chức tôi thực hiện vào buổi chiều kết hợp với liên
hoan cuối năm trước khi các em về nghỉ Tết.
Sau hai tuần, cả 4 nhóm đều hoàn thành rất tốt nhiệm vụ, các nhóm đều
thể hiện sự đầu tư công phu về cả phần nghe và phần nhìn bằng những minh
họa, sản phẩm cụ thể, ấn tượng.
- Nhóm 1 sưu tầm được 5 truyện dân cụ thể là: Tạo Nhá Sáy, Chàng Bả

của người M Nông.

Trang phục của người M Nông và người Mạ ở Đắk Nông

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 15


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
Dựa trên mức độ đầu tư, sự chuẩn bị công phu về bài viết, hình ảnh, sản
phẩm; khả năng thuyết trình của mỗi nhóm, Ban giám khảo đã đánh giá và xếp
hạng: Nhất – Nhì – Ba – khuyến khích và trao thưởng cho mỗi đội (nguồn này
trích từ quỹ lớp).
Nhìn chung, trong quá trình thực hiện các em rất hào hứng và có ý thức
hợp tác cùng nhau làm việc, biết phân việc phù hợp với khả năng của từng bạn,
biết nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ, đặc biệt còn tự tay nấu cơm lam để minh họa.
Tuy nhiên, khi bước vào hội thi, đặc biệt là khả năng thuyết trình, sự tự tin trước
đám đông còn rất hạn chế, mặc dù các em chuẩn bị rất kỹ nhưng vẫn lúng túng,
chưa trôi chảy. Nhưng điều thành công và đáng mừng là các em vừa rèn luyện
được một số kỹ năng sống vừa lĩnh hội được rất nhiều kiến thức bổ ích đề phục
vụ cho học tập và cuộc sống sau này.
* Chủ đề ngày 26/3: Tuổi trẻ sáng tạo, tự hào tiếp bước
Tháng 3 không chỉ là tháng trọng điểm của học kỳ II mà còn là tháng diễn
ra nhiều hoạt động sôi nổi thi đua chào mừng các ngày lễ lớn như 8/3, 26/3 và
còn là tháng thanh niên. Cho nên, ngay đầu tháng tôi không chỉ đôn đốc, hướng
dẫn lớp tham gia các hoạt động thi đua do Đoàn trường phát động mà còn xây
dựng những chương trình cụ thể để phát huy sức năng động sáng tạo và nhằm
giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc cho
các em:


Học sinh tập kịch để tham gia hội thi văn nghệ trong ngày 26/3
3.3. Phát huy thế mạnh của bộ môn giảng dạy vào công tác chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm bao giờ cũng là một giáo viên trực tiếp giảng dạy
một bộ môn nào đó mà bất kỳ môn học nào – nhất là các môn xã xội như Văn,
Sử, Địa, GDCD, đều có thể khai thác để giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên bộ môn chỉ tập trung
truyền đạt kiến thức, không có thời gian hoặc ít chú trọng vào việc giáo dục
những giá trị khác thông qua bộ môn. Đối với giáo viên chủ nhiệm, đặc biệt là
giáo viên chủ nhiệm ở trường nội trú, thời gian tiếp cận, gặp gỡ học sinh khá
nhiều như ngoài các tiết dạy, sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tiết sinh hoạt, giáo viên
chủ nhiệm còn phải quản lý học sinh vào các buổi tự học, quản lý việc ăn ở, sinh
hoạt của các em ở kí túc xá…Cho nên, ngoài những tiết học trên lớp, giáo viên
chủ nhiệm nên khéo léo, linh động liên hệ lồng ghép kiến thức bộ môn có liên
quan đến những giá trị văn hóa dân tộc vào thực tiễn đời sống để giáo dục các
em.

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 18


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm
Chẳng hạn, đối với môn Ngữ Văn, hầu hết các tác phẩm từ văn học dân
gian đến văn học viết đều có thế khai thác nội dung giáo dục bản sắc văn hoá
dân tộc, và giáo viên sẽ giúp học sinh phát hiện, xử lý và hệ thống hoá tri thức
về văn hoá dân tộc, bản sắc văn hoá của từng dân tộc thông qua các hình tượng
nghệ thuật.
- Các tác phẩm văn học dân gian như:
+ Truyện cổ tích khai thác các nội dung về quan hệ ứng xử, giá trị nhân

kê hàng loạt các hình ảnh tiêu biểu cho lối sống phong tục tập quán của người
Mèo (phong tục ăn Tết, chơi xuân; tục bắt vợ, tục cúng ma trình làng, phạt vạ...)
Hình ảnh ông Già Mết (trong Rừng Xà nu) là biểu tượng cho núi rừng Tây
Nguyên hùng vĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Đồng thời, tác
phẩm cũng hiện lên hình ảnh những con người Tây Nguyên với các nét phẩm
chất đẹp đẽ như: lòng quả cảm đáng kính trọng cùng với những phong tục tập
quán, những giá trị văn hoá lâu đời đã được gìn giữ, đã được phát triển và đã
góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại cho dân tộc.
3.4. Kết hợp và yêu cầu sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh
Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Cuộc
sống của con người chịu sự chi phối bởi môi trường tự nhiên và xã hội mà con
người sống trong đó. Gia đình, nhà trường, xã hội là ba môi trường liên kết, gắn
bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi cá nhân.
Gia đình là một trong ba môi trường xã hội hoá trẻ em, quyết định trực tiếp tới
mặt tự nhiên và xã hội trong mỗi con người, thông qua gia đình mỗi cá nhân
người ngày càng hoàn thiện cả về mặt tự nhiên và mặt xã hội. Gia đình không
chỉ sinh ra con người, thực hiện các chức năng chăm sóc hoàn thiện thể lực cho
trẻ em mà còn là một trường học đầu đời cho mỗi đứa trẻ phát triển, hoàn thiện
yếu tố xã hội trong con người: dạy cho trẻ em cách ăn, mặc, giao tiếp, tiếp thu
văn hoá công cộng, giúp trẻ hình thành nhân cách gốc cho con người. Thông qua
gia đình, cá nhân có cơ sở để tiếp nhận những giá trị, những chuẩn mực xã hội,
vững tin bước sang một môi trường xã hội hoá cao hơn. Như vậy, để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực về thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, điều quan trọng
nhất là cần phải chú ý nâng cao vị trí, vai trò, chức năng, phương pháp giáo dục
gia đình trong việc xã hội hoá trẻ em; đồng thời phải biết kết hợp hài hoà các
môi trường giáo dục: giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Trong các môi
trường giáo dục, gia đình có một ý nghĩa quyết định đầu tiên đối với việc hình
thành con người xã hội, giáo dục con người trở thành công dân có ích cho xã
hội.
Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

xem nhẹ, lãng quên các giá trị truyền thống, đánh mất dần các tập tục, bản sắc
của dân tộc,…ngày càng báo động.
Chính vì vậy, trong quá trình giáo dục học sinh, giáo viên phải hết sức coi
trọng việc tác động gia đình cùng phối hợp để giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
các em. Đối với học sinh trường DTNT việc gặp mặt, tiếp xúc với phụ huynh học
sinh gặp nhiều hạn chế, bởi hầu hết các em đến từ buôn làng xa xôi, gia cảnh khó
khăn. Cho nên, ngay từ đầu năm học trong buổi họp phụ huynh tôi luôn chú trọng
đến việc yêu cầu gia đình cùng phối hợp với nhà trường trong giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc cho học sinh. Trước tiên, giáo viên cần nêu rõ những hiện trạng thực tế
và những nguy hại của sự mai một các giá trị văn hóa dân tộc để phụ huynh hiểu rõ,
tiếp đó giải thích để phụ huynh thấy được vai trò, ý nghĩa của bản sắc văn hóa mỗi
dân tộc đối với việc giữ gìn và phát triển đất nước. Đồng thời, cũng cần phân biệt
cho cha mẹ học sinh hiểu được những bản sắc văn hóa cần được khôi phục, bảo tồn
(ngôn ngữ, các giá trị văn hóa dân gian, các nghi thức, lễ hội…) và đâu là những hủ
tục lạc hậu cần phải xóa bỏ (nạn tảo hôn, chữa bệnh bằng cúng bái, tục thách cưới
tốn kém ở một số dân tộc…).
Từ đó, giáo viên đề nghị phụ huynh cần chú ý giáo dục bản sắc dân tộc
cho con em mình bằng hành động thiết thực chẳng hạn: Sử dụng tiếng mẹ đẻ khi
giao tiếp với cha mẹ, dạy cho các em chữ viết của dân tộc mình (theo khảo sát
hai năm liên tục trong hai lớp tôi chủ nhiệm: lớp 11A2 năm học 2014 – 2015 và
lớp 12A3 của năm học 2015 – 2016 có tất cả 57 học sinh thì có tới 43 em không
biết chữ viết của dân tộc mình); khuyến khích con em mặc trang phục dân tộc
trong các dịp lễ tết hoặc khi gia đình, họ hàng có việc trọng đại; dạy các em biết
ít nhất một nghề truyền thống – bởi đa phần ông bà, cha mẹ các em đều biết dệt
thổ cẩm, đan mây, tre, thậm chí có phụ huynh còn là nghệ nhân nổi tiếng của
tỉnh; đối với những phụ huynh là người dân tộc bản địa như Mạ, MNông, Ê đê…
nên dạy cho các em biết cách đánh cồng chiêng và hiểu được cơ bản về không
gian văn hóa cồng chiêng…

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

hướng dẫn học sinh thực hành tại chỗ. Chẳng hạn, đợt I, phụ huynh dạy con em cách
đánh cồng chiêng (hiện tại nhà trường luôn có 5 bộ chiêng); đợt II là dạy cách dệt thổ
cẩm (phụ huynh chuẩn bị sẵn nguyên liệu); đợt 3 dạy cách đan gùi; đợt 4 Ban sẽ tổ
chức kiểm tra, đánh giá về mức độ, kỹ năng mà các em học được. Trong quá trình
thực hiện, giáo viên chủ nhiệm phải luôn sắp xếp thời gian để các em tự thực hành,
luyện tập. Và kết quả là đến cuối năm học, trong đợt kiểm tra đánh giá của Ban, có
25/ 27 em biết cách đánh chiêng (chỉ có 2 em nữ tay quá yếu không đánh được), 27
em biết cách đan gùi và dệt thổ cẩm, trong đó có 5 em nữ đan gùi và dệt rất giỏi, có
em đã tự dệt váy và túi xách cho mình).

Ban văn hóa của lớp hướng dẫn các em học sinh đánh chiêng

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 24


Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm

Các em chăm chỉ tập đánh chiêng sau giờ học

Chị H Yon, phụ huynh em H Lệ, một nghệ nhân dệt thổ cẩm nổi tiếng
của huyện Đắk R Lấp, người hướng dẫn lớp cách dệt thổ cẩm

Phạm Thị Ngát – Giáo viên trường THPT DTNT N’Trang Lơng

Page 25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status