Vấn đề giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG
ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học

ThS. LÊ THỊ MINH THẢO

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới cô giáo - Thạc sĩ
Lê Thị Minh Thảo, người đã tận tình chỉ bảo, sửa chữa cho khóa luận của em
trong suốt quá trình tiến hành.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị
cùng các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của bản thân.
Vì điều kiện thời gian có hạn, nên khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót kính
mong quý thầy cô và mọi người chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp để khóa
luận được hoàn thiện hơn.

Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
VIỆC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHO
THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................... 29
2.1. Thực trạng việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên
Việt Nam hiện nay ....................................................................................... 29
2.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc
cho thanh niên Việt Nam hiện nay................................................................ 45
Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐOÀN
KẾT DÂN TỘC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY ............. 49
3.1. Những phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục truyền
thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt Nam hiện nay ........................... 49
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống
đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt Nam hiện nay ..................................... 52
KẾT LUẬN ................................................................................................. 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 65


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên là một lực lượng xã hội to lớn, là lực lượng nắm giữ vận
mệnh đất nước trong tương lai. Ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào của cách mạng
họ cũng luôn là đội quân tiên phong, là cánh tay đắc lực, là đội hậu bị trung
thành của Đảng. Vì vậy Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan
tâm đến việc chăm lo giáo dục rèn luyện thanh niên trở thành những người có
đủ đức đủ tài để họ có thể gánh vác giang sơn trong tương lai. Trong Di chúc
của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Thực tiễn lịch sử cách
mạng Việt Nam đã chứng minh hùng hồn cho sức mạnh và tác dụng to lớn
của những truyền thống quý báu của dân tộc, trong đó có truyền thống đoàn

dục nước ta chưa chú trọng giáo dục thanh niên về truyền thống đoàn kết dân
tộc nên chưa giúp họ đứng vững trước những tác động tiêu cực từ nhiều phía.
Sự quan tâm, chăm lo giáo dục của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với
thanh niên chưa tương xứng với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.
Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu bức thiết phải tạo điều kiện khuyến khích,
có kế hoạch nghiên cứu, giáo dục thanh niên phát huy sức mạnh truyền thống
đoàn kết dân tộc, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện tại để đào tạo
được thế hệ kế tục có được đầy đủ những hành trang để xây dựng đất nước
sau này.
Việc nghiên cứu vấn đề nêu trên như một đòi hỏi khách quan đáp ứng
yêu cầu phát triển đất nước và có ý nghĩa to lớn, vì thế tôi quyết định chọn đề
tài: “Vấn đề giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt
Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc, bồi dưỡng giáo dục
thanh niên không phải là vấn đề mới, vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này với nhiều cách tiếp cận khác nhau như:

2


Giáo sư Trần Văn Giàu với “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc
Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1980, bằng việc phân tích dựa
trên cơ sở khoa học Giáo sư Trần Văn Giàu đã đưa ra những nhận định, đánh
giá về mặt tích cực và tiêu cực của truyền thống dân tộc từ đó đề xuất các giải
pháp phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong hội nhập quốc tế.
Tiếp cận truyền thống đoàn kết dân tộc ở góc độ lịch sử, luận án tiến sĩ
của tác giả Khuất Thị Hoa (2001) với đề tài: Quá trình thực hiện chiến lược đại
đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945
- 1954), tác giả đã làm rõ cơ sở hình thành và vai trò của chiến lược đại đoàn

đó mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho
thanh niên Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ
- Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng việc giáo dục truyền thống
đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt Nam hiện nay và chỉ ra các nguyên nhân
của nó, khóa luận đề ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên
Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, khóa luận tập trung giải
quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Nêu lên một số khái niệm lí luận về dân tộc, truyền thống dân tộc,
đoàn kết dân tộc, truyền thống đoàn kết dân tộc, một số quan niệm cơ bản về
thanh niên
+ Tìm hiểu cơ sở hình thành và nội dung chủ yếu của giáo dục truyền
thống đoàn kết dân tộc
+ Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho
thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và những nguyên nhân của nó

4


+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả công tác giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt
Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Khóa luận tập trung nghiên cứu về thực trạng việc giáo dục
truyền thống đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu việc giáo dục truyền thống
đoàn kết dân tộc cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa
bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo cùng với
những đặc trưng và ngôn ngữ, văn hóa vật chất (thể hiện trong phương thức
sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hóa tinh thần (thể hiện thành ý thức
và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hóa:
từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những
tộc người và những dân tộc khác nhau. Có thể quan niệm dân tộc là cộng
đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển
của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có
chung một nền văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra) tiêu biểu cho trình độ
văn minh đã đạt được.
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với
khái niệm quốc gia. Quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội
được quản lí bằng bộ máy Nhà nước, có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm
có, như trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt) song phần lớn là những
quốc gia nhiều dân tộc. Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc

6


nhưng phân tán ở nhiều quốc gia khác nhau. Trong lịch sử các dân tộc hình
thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn
trình độ phát triển, vì vậy mà mỗi một dân tộc cũng có những sắc thái văn hóa
khác nhau.
Trong cuốn giáo trình “Chủ nghĩa xã hội khoa học” đã định nghĩa dân
tộc với 2 nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Thứ nhất, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có
chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những nét đặc thù;
xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc

là của cá nhân riêng lẻ. Ở nước ta tính cộng đồng biểu thị tập trung ở ba kết
cấu xã hội chủ yếu là nhà, làng, nước.
Tính ổn định tương đối của truyền thống biểu hiện ở chỗ khi nói đến
truyền thống là ta nói đến một cái gì đó lâu dài, ít thay đổi. Tuy nhiên chính
bản thân truyền thống cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi
theo thời gian trong điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Khi những điều kiện đó
thay đổi thì truyền thống cũng có những mặt phải thay đổi phù hợp, có mặt bị
đào thải và có thể có truyền thống mới được hình thành.
Tính lưu truyền của truyền thống là đặc điểm nổi bật. Truyền thống bắt
nguồn từ lịch sử nhưng không phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều là truyền
thống, mà chỉ những gì được sao phỏng, được lưu truyền từ đời này sang đời
khác mới được gọi là truyền thống.
Dấu hiệu đặc trưng của truyền thống đó là những yếu tố, những giá trị
của cộng đồng người được hình thành tương đối ổn định trong lịch sử, được
lưu truyền cải biến trong hiện tại và tương lai.
Khi nói đến “giá trị truyền thống” là nói đến mặt tích cực của truyền
thống bao gồm những yếu tố ưu việt, tiến bộ có tác dụng thúc đẩy sự phát
triển của xã hội, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc. Giá trị truyền thống là sự
phản ánh điều kiện tồn tại của dân tộc trong ý thức của con người trải qua lịch

8


sử dựng nước và giữ nước. Nó không chỉ là kết quả của mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, con người với con người trong quá trình cải tạo tự nhiên,
xã hội và bản thân mà nó còn là động lực của quá trình đó. Giá trị truyền
thống là những đặc trưng cho bản sắc dân tộc mà chúng ta cần duy trì và phát
triển. Giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc lên trong suốt quá trình hình
thành tồn tại và phát triển của dân tộc. Cho nên có thể nói giá trị truyền thống
là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc.

cơ bản sau:
Thứ nhất, giáo dục là hiện tượng khách quan diễn ra trong đời sống xã
hội mà mỗi con người, mỗi thế hệ ít hoặc nhiều đều chịu sự tác động mang
tính tự phát của nó.
Chủ thể giáo dục với định hướng mục tiêu đã rõ ràng. Chủ thể giáo dục
đề cập ở đây bao gồm các cá nhân và những thiết chế, tổ chức có chức năng
giáo dục như: cha mẹ, gia đình, nhà trường, các tổ chức chính trị - xã hội,…
Trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” đã định nghĩa giáo dục là “hoạt
động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động
nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống,
bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và
phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu
chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”.
Ở nước ta truyền thống đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần cao quý
và đặc sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm chú trọng trong việc
giáo dục truyền thống này.
Đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn
chống đối nhau. Đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi. Đoàn kết dân tộc là sự
tập hợp rộng rãi tất cả các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc trong một quốc
gia. Từ việc tìm hiểu các khái niệm về “dân tộc”, “truyền thống”, “giáo
dục”, “đoàn kết”, “đoàn kết dân tộc” chúng ta có thể hiểu khái quát “giáo

10


dục truyền thống đoàn kết dân tộc” là hệ thống hoạt động của các chủ thể
giáo dục tác động thường xuyên đến đối tượng giáo dục nhằm truyền thụ tri
thức và tình cảm, kinh nghiệm và kĩ năng sống gắn bó với cộng đồng, kết
thành một khối thống nhất ý chí và hành động vì mục đích chung nhằm
giúp đối tượng giáo dục hình thành, phát triển năng lực phẩm chất nhân

chung thời điểm kết thúc của tuổi thanh niên chưa thống nhất.
Liên hợp Quốc đã định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24
tuổi, chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh xã
hội với nhóm lứa tuổi khác.
Ở Việt Nam, trong các văn bản pháp lý hiện hành thuật ngữ “thanh niên”
cũng có phạm vi điều chỉnh không thống nhất. Theo “Chiến lược phát triển
thanh niên Việt Nam đến năm 2010” do Thủ tướng chính phủ kí phê duyệt
kèm theo quyết định số 70/2003/QĐTTg ngày 29/4/2003 thì thanh niên Việt
Nam được cho là những người Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 34. Tuy
nhiên hai năm sau Luật thanh niên (Luật số 53/2005/QH11) được Quốc hội
khóa XI thông qua đã quy định tại điều 1: “Thanh niên quy định trong luật
này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Đây cũng là điều được
quy định tại điều 1, mục 2 của “Điều lệ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh” (2007).
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì thanh niên được hiểu là những
công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi theo Luật thanh niên quy định.
Thanh niên là giai đoạn mà trong đó con người có sự trưởng thành về cả
mặt sinh học cũng như mặt xã hội. Về mặt sinh học, giai đoạn này bộ não con
người phát triển khá hoàn thiện, các nhà chuyên môn cho rằng trọng lượng của
bộ não người lúc này đã đạt tới mức tối đa trọng lượng não của người bình
thường (khoảng 1400g và chứa 14 – 16 tỉ nơron thần kinh. So với lứa tuổi thiếu

12


niên, lúc này nơron thần kinh của thanh niên có khả năng dẫn truyền luồng
thông tin tốt hơn nhanh hơn, chính xác hơn và sức chịu đựng cao hơn)
Về mặt xã hội, ở giai đoạn này thanh niên đã biết suy nghĩ đến tương lai
của mình, của dân tộc và họ đã có ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của công
dân. Họ đã có những trăn trở trước những khó khăn của đất nước, họ đã có

thanh niên
Thanh niên là rường cột của nước nhà, là chủ nhân tương lai của đất
nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong
những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai
đoạn hiện nay, thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi
dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người, chăm lo bồi dưỡng, giáo
dục và phát triển thanh niên vừa là mục tiêu vừa là động lực bảo đảm cho sự
ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo số liệu của Tổng điều tra dân số đến năm 2012, thanh niên Việt
Nam từ 16 - 30 tuổi là 25.328.073 người chiếm 28,9% dân số cả nước, trong
đó nam chiếm 50,6% và nữ chiếm 49,4%.
Chăm lo giáo dục cho thanh niên những truyền thống quý báu của dân
tộc đặc biệt là truyền thống đoàn kết dân tộc là một việc làm có ý nghĩa to
lớn, góp phần xây dựng nên những con người có đủ đức đủ tài, có sức mạnh
to lớn để gánh vác công việc của đất nước trong tương lai.
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã thấy rõ khả năng đóng góp
to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trên bước đường giải phóng dân tộc và đưa đất
nước đến phồn vinh, điều này được rút ra qua những năm tháng của quãng đời
tuổi trẻ, cùng sống hòa mình, lao động đấu tranh với nhân dân nhiều nước
trên thế giới. Ở thời điểm của Người ra đi tìm đường cứu nước cũng chính là
thời điểm thanh niên nước ta đang lâm vào tình cảnh bế tắc về tư tưởng sau
nhưng thất bại liên tiếp, và kéo dài của nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh

14


giải phóng dân tộc vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, từ lúc trở thành người
chiến sĩ cộng sản đấu tranh trong phong trào giải phóng các dân tộc trên thế
giới, Hồ Chí Minh đã nhận ra âm mưu chia cắt đất nước, gây chia rẽ khối

lạc để dùng các thủ đoạn kinh tế, chính trị và văn hóa tác động làm biến chất
tạo mầm mống chống đối chế độ, ra sức lôi kéo, tha hóa thanh niên kích động
thanh niên tham gia các hoạt động gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị
đất nước.
+ Dưới sự tác động của toàn cầu hóa, những sản phẩm độc hại phi văn
hóa bằng nhiều con đường nhất là qua internet, các phương tiện truyền thông
sẽ tác động trực tiếp liên tục với cường độ cao đến lối sống, nếp sống của
thanh niên, tạo sức ép gây nhiều khó khăn phức tạp cho việc bảo vệ và phát
huy văn hóa dân tộc trong giới trẻ.
+ Sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, tội phạm nguy
hiểm, côn đồ, … chưa được ngăn chặn hiệu quả, môi trường xã hội chưa lành
mạnh, sức khỏe sinh sản, tỉ lệ nhiễm HIV/ AIDS trong thanh niên sẽ còn diễn
biến phức tạp ở mức báo động, … đã, đang và sẽ tác động xấu đến thanh niên.
Trước những tác động tiêu cực đó chúng ta cần phải tăng cường công tác
giáo dục cho thanh niên về truyền thống đoàn kết dân tộc để mỗi thanh niên
có đủ bản lĩnh, ý chí, có đủ sức đề kháng để chống lại mọi âm mưu xuyên tạc
gây mất đoàn kết dân tộc, đồng thời khắc phục những quan điểm tự ti, mặc
cảm dân tộc để cùng hợp sức xây dựng và phát triển đất nước.
Đi cùng với nó là tình hình rất căng thẳng ở biển Đông hiện nay. Biển
Đông đóng vai trò rất quan trọng đối với Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai, bờ biển nước ta vừa
là cửa ngõ bang giao kinh tế vừa là tuyến phòng thủ hướng đông của đất
nước, hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta đều gắn kết với biển
như du lịch, dầu khí, tàu thủy, giao thông vận tải,… lợi nhuận thu được từ
biển là rất lớn. Tuy nhiên từ nhiều năm nay nhất là những năm đầu của thập kỉ

16


70 của thế kỉ XX đến nay trên biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển

phá những tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để mở mang đồng
ruộng, xóm làng, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với
các nghề thủ công, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán,…
Xuất phát từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, người Việt Nam cũng
phải liên kết lại trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên
nhiên chống thiên tai, nhất là chống ngập lụt, hạn hán,… Từ xa xưa nhân dân
ta đã biết đắp đê sông, đê biển để chống lũ lụt, bão tố, biết đào kênh, khơi
mương làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêu cho đồng ruộng. Công cuộc
xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện khắc nghiệt của
thiên nhiên Việt Nam đã sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng, sự gắn bó với quê
hương đất nước.
Mặt khác, Việt Nam là một dân tộc được hình thành sớm. Quá trình hình
thành dân tộc ở Việt Nam là sự cố kết cộng đồng diễn ra trên cơ sở liên kết
cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và kết cấu kinh tế
- xã hội của Việt Nam. Quá trình thống nhất quốc gia và thống nhất dân tộc
sớm tác động sâu sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc
tạo nên tinh thần đoàn kết dân tộc và sự cố kết cộng đồng mang tính dân tộc.
Thứ hai, do lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn về tài
nguyên thiên nhiên, đồng thời còn ở vào một vị trí địa lý có tầm chiến lược
đặc biệt quan trọng nên nước ta đã trở thành đối tượng nhòm ngó của nhiều
nước trên thế giới.
Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, trong mấy nghìn năm dựng nước và
giữ nước, dân tộc ta đã phải đấu tranh chống ngoại xâm gần như thường
xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt. Đó là nét nổi bật của
lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn

18



và tồn tại duy nhất của dân tộc ta là phải biết huy động sức mạnh của toàn dân,
của cả đất nước, sức mạnh vật chất và cả tinh thần của toàn thể dân tộc.
Như vậy, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm đã tác động sâu sắc đến sự
phát triển của tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí quật
cường, bất khuất, niềm tự tôn dân tộc. Và chính truyền thống yêu nước của dân
tộc đã cổ vũ thúc giục dân tộc Việt Nam đoàn kết đứng lên đánh thắng mọi kẻ
thù xâm lược, từ đó đã hình thành nên truyền thống đoàn kết của dân tộc.
Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất
Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời. Mỗi dân tộc lại có vốn
văn hóa riêng, tạo nên sự phong phú đa dạng. Nhưng do sự gắn bó lâu đời
trong một quốc gia thống nhất, do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm
và do sự giao lưu hội nhập văn hóa, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn có
những đặc điểm chung của một nền văn hóa thống nhất trong tính đa dạng.
Việt Nam bao gồm nhiều vùng địa lý với những đặc điểm khác nhau về
địa hình, khí hậu, môi trường, sinh thái. Những điều kiện tự nhiên ấy kết hợp
với hoàn cảnh lịch sử cụ thể tạo nên những vùng địa – văn hóa khác nhau.
Đặc điểm này cũng góp phần tăng thêm tính đa dạng của văn hóa Việt Nam.
Ở vào vị trí đầu mối giao thông tự nhiên của Đông Nam Á, Việt Nam
vừa nối liền với đại lục vừa nhìn ra đại dương và hải đảo, một khu vực giao
tiếp của nhiều nền văn minh trên thế giới. Văn hóa Việt Nam qua giao lưu và
tiếp biến văn hóa đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa bên ngoài làm phong
phú văn hóa dân tộc, nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mình. Đó là tính
thích nghi, hội nhập và bản lĩnh của văn hóa Việt Nam.
Tinh thần yêu nước là một bộ phận tạo thành của văn hóa Việt Nam vừa kết
tinh những giá trị tiêu biểu, vừa chi phối sự phát triển của nền văn hóa dân tộc.
Qua giao lưu văn hóa và cả qua cưỡng bức, áp đặt văn hóa của kẻ xâm
lược, Việt Nam tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nhưng

20


21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status