Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh niên việt nam hiện nay - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
==***==

NGUYỄN THỊ NGỌC YẾN

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CHO THANH NIÊN VIỆT
NAM HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
CHU THỊ DIỆP

HÀ NỘI - 2012
Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

1


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới giảng viên Chu Thị Diệp –
người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc Yến

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

3


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 2
CHƢƠNG 1: GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG ....................................... 7
1.1. Một số khái niệm liên quan ................................................................................. 7
1.2. Những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam. .................. 11
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN
THỐNG CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY .................................... 23
2.1. Thanh niên - tầng lớp xã hội đặc thù ................................................................. 23
2.2. Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh niên Việt Nam trong
những năm qua ......................................................................................................... 25
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................... 43
3.1. Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
thanh niên Việt Nam hiện nay .................................................................................. 43
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống cho thanh niên Việt Nam hiện nay ................................................................. 50
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 60

tế thị trường hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất đi
bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của
dân tộc khác.
Trước bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu hội nhập quốc tế như hiện nay, vấn đề
giữ gìn và phát huy bản lĩnh, bản sắc văn hóa dân tộc lại càng đặt ra hết sức cấp thiết.
Ở Việt Nam trong những năm qua, sự phát triển của kinh tế thị trường đã đem lại cho
đất nước nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Tuy nhiên bên cạnh
những thành công đó, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó
là sự xuống cấp về mặt đạo đức hiện nay trong đời sống xã hội. Kinh tế thị trường với
sức mạnh tự phát ghê gớm của nó là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh lối sống ích kỷ,
vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày từng giờ làm

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

5


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phá vỡ nhiều nét đẹp của
văn hóa truyền thống mà ông cha ta đã phải đổ biết bao mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả
xương máu để tạo dựng nên. Mặt trái của cơ chế thị trường đã tạo ra một bộ phận
không nhỏ lớp người trong xã hội nói chung, một bộ phận thanh niên nói riêng có lối
sống chạy theo đồng tiền, buông thả, quay lưng với văn hóa, với truyền thống của dân
tộc.
Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn
vào thế hệ trẻ nói chung, thanh niên nói riêng. Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa
VII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước


nghiên cứu phát triển giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. Trong đó, tác giả đã
nghiên cứu, phân tích những đặc điểm cơ bản trong lối sống của sinh viên hiện nay,
nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản để giáo
dục và xây dựng lối sống lành mạnh trong sinh viên.
Nguyễn Văn Lý (2000), “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến
sĩ Triết học. Trong đó, tác giả đã phân tích các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam, những biến đổi của nó trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước. Từ đó
tác giả đã đề ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản trong việc kế thừa và đổi
mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay.
Lê Thị Hoài Thanh (2002), “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại
trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học.
Trong đó, tác giả đã phân tích rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp
truyền thống và hiện đại trong công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên, từ đó đề xuất
một số phương hướng và giải pháp chủ yếu kết hợp truyền thống và hiện đại trong
giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
Các công trình nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo:
Trần Văn Giàu (1980), “Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam”, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách này, từ góc độ sử học, triết học và đạo đức học
tác giả đã nghiên cứu khá sâu sắc và toàn diện về các trị truyền thống đặc thù của dân
tộc Việt Nam.
Ngô Đức Thịnh (2010), “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
Trong đó, tác giả đã nghiên cứu và trình bày thành hệ thống các giá trị truyền thống
của dân tộc Việt Nam, đồng thời nghiên cứu nó trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập hiện nay.
Các công trình nghiên cứu dưới dạng các bài báo, tạp chí:
Về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, những biến đổi của nó và việc

phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên những công
trình này chưa đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền
thống cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi
trước, tôi muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh
niên ở nước ta hiện nay, từ đó mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ
bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho
thanh niên Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh
niên Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của nó, khóa luận đưa ra một số phương
hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

8


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

Hệ thống hóa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc,.
Phân tích thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh niên Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh niên Việt Nam trong giai

1.1.1. Giá trị và giá trị đạo đức
“Giá trị là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã
hội học dùng để chỉ ý nghĩa văn hóa và xã hội của các hiện tượng [24, tr. 42]. Trong
triết học, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu
tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang đánh
giá. Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử của giá trị, đồng
thời khẳng định giá trị có thể nhận thức và giá trị có tính thực tiễn. Theo quan niệm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị là những thành tựu của con người trong sự phát
triển của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích của con người. Tất cả mọi cái gọi là giá trị
đều có nguồn gốc xuất phát từ chính cuộc sống lao động thực tiễn của con người. Do
vậy, có thể nói, chỉ trong xã hội loài người mới có cái gọi là giá trị. Trong hoạt động
thực tiễn, giá trị của một sự vật hiện tượng đều được xác định bởi sự đánh giá của con
người. Sự đánh giá đó nằm trong quy luật của sự vận động và phát triển tiến lên trong
thế giới, nó phục vụ ngày càng tốt hơn cho cuộc sống của con người, cho lợi ích và
tiến bộ xã hội. Có thể nói, mọi giá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người với vật, chỉ
khi nào sự vật khách quan có ích với con người thì mới là giá trị.
Trong cuốn Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển có
viết như sau: “nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện,
nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái
đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và vươn tới” [1, tr. 16].
Trong cuốn Từ điểm bách khoa toàn thư Xô viết định nghĩa:
“ Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thế giới
xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm của toàn bộ xã hội nói chung.
Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là
bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động
sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội,

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

10

con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống. Giá trị giúp con người định
hướng và xác định cho hành động của mình, là động cơ thúc đẩy hoạt động của con
người.
Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại giá trị. Dựa vào mỗi tiêu chí sẽ có cách
phân loại khác nhau. Cơ bản, người ta dựa vào tiêu chí mục đích phục vụ nhu cầu của
con người mà chia làm hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Giá trị vật chất được thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sự tồn
tại và phát triển của xã hội loài người. Giá trị tinh thần là những phẩm chất đặc biệt về
trí tuệ, tình cảm, ý chí, nó được thể hiện trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn hóa,
nghệ thuật, phong tục tập quán.... Những phẩm chất đó ăn sâu bám rễ vào trong đời
sống tinh thần và chúng trở thành các chuẩn mực để con người đánh giá phân biệt cái
đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp trong đời sống hàng ngày, trong quan hệ giữa con người
với con người, con người với xã hội.
Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống xã hội và
được con người lựa chọn, nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng xử giữa con người

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

11


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

với con người, con người với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Giá trị đạo đức biến đổi theo sự biến đổi
của đời sống xã hội.
1.1.2. Truyền thống và giá trị đạo đức truyền thống
Về khái niệm truyền thống, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác



Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

Tính lưu truyền của truyền thống là đặc điểm nổi bật. Truyền thống bắt nguồn
từ lịch sử, nhưng không phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều là truyền thống, mà chỉ
những gì được sao phỏng, được lưu truyền từ đời này sang đời khác mới được gọi là
truyền thống.
Nói đến giá trị truyền thống là nói đến mặt tích cực của truyền thống, bao gồm
những yếu tố ưu việt, tiến bộ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần
giữ gìn bản sắc dân tộc. Giá trị truyền thống là sự phản ánh điều kiện tồn tại của dân
tộc trong ý thức của con người trải qua lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó không chỉ
là kết quả của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người
trong quá trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cải tạo bản thân mà nó còn là động lực
của quá trình đó. Giá trị truyền thống là những đặc trưng cho bản sắc dân tộc mà
chúng ta cần duy trì và phát triển. Giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc lên trong
suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc. Cho nên có thể nói, giá trị
truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc.
Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành của hệ giá trị tinh thần
của dân tộc Việt Nam, nó là “nhân lõi”, là sức sống bên trong của dân tộc. Giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa của dân tộc được xác định là
những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữa con người
với con người, giữa con người vơi tự nhiên. Đặc điểm cơ bản của truyền thống nói
riêng là sự kế thừa. Trải qua hàng trăm năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam
đã rèn luyện và tạo nên những thế hệ người Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu thương
con người, cần cù, thông minh, sáng tạo...những đức tính đó trở thành những giá trị
đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, mà hàng ngàn đời chúng ta vẫn nâng niu quý
trọng.

thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Trong khi đó, điều kiện tự nhiên của Việt Nam lại mưa
nắng thất thường do nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa
đông Bắc và đông Nam gây ra nhiều thiên tai hạn hán, mất mùa. Chính những đặc
điểm này đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự
gắn bó cộng đồng bền chặt, sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đặt nền móng cho tinh
thần lao động cần cù, tiết kiệm. Bên cạnh đó, do có nhiều tài nguyên thiên nhiên và là
đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều
quốc gia. Bởi vậy, muốn bảo vệ đất nước người Việt Nam phải hy sinh nhiều lợi ích
của riêng mình, cùng nhau đoàn kết để bảo vệ lợi ích chung.
Với những đặc điểm tự nhiên, sự khó khăn của dân cư vùng lúa nước, sự đe dọa
của nạn ngoại xâm như vậy, muốn tồn tại và phát triển, con người Việt Nam phải cùng
nhau chung sức trong lao động sản xuất và trong các mối quan hệ khác.
Trên nền tảng của nền văn hóa bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi Việt Nam
còn tiếp thu được những tinh hoa văn hóa của nhân loại đặc biệt là văn hóa Trung
Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội luôn lấy Đức làm trọng là công cụ để
quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc với rất nhiều giáo lý phù hợp với điều

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

14


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

kiện xã hội Việt Nam, hơn nữa Nho giáo luôn đề cao chữ nhân, lòng thương người,
trọng người cao tuổi. Phật giáo với tư tưởng từ bi, bác ái đã dễ dàng thâm nhập vào
Việt Nam từ rất sớm bởi lẽ người Việt Nam từng chịu nhiều đau thương, mất mát qua


15


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

tộc thôn tính - Việt tộc vừa phải chiến đấu để giữ lại vùng đất cuối cùng, vừa phải mở
mang cho vùng đất rộng thêm để đáp ứng với sự gia tăng dân số. Do đó lịch sử Việt
Nam là lịch sử chiến tranh.
Từ ý niệm giữ lấy vùng đất để bảo tồn nòi giống, người Việt rất yêu đất nước
của mình. Tinh thần yêu nước đó của dân tộc Việt Nam được thể hiện ngay từ thuở
vua Hùng dựng nên nước Văn Lang cho đến thời đại Hồ Chí Minh. Với hơn 1000 năm
đấu tranh giành độc lập từ 197 (TCN) đến 938 (SCN), đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng, cho đến cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán với chiến
thắng giòn giã, đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc. Từ 938 - 1789 dân tộc ta
liên tiếp đánh tan quân xâm lược Tống, Nguyên Minh, Thanh... Đến thời kỳ chiến
tranh giải phóng dân tộc: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975, chúng ta đã đánh thắng cả
hai tên đế quốc to: Pháp và Mỹ. Với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải
phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, nước nhà
hoàn toàn độc lập. Tất cả các cuộc khởi nghĩa đó đều phát sinh từ lòng yêu nước. Tinh
thần yêu nước đối với người Việt Nam là một truyền thống ngàn đời, một tình cảm xã
hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và
hiện tại của tổ quốc, ý chỉ bảo vệ những lợi ích của tổ quốc.
Thực ra trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tinh thần yêu nước, nhưng
bản sắc, sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau. Ở Việt Nam,
tinh thần yêu nước là nước đã trở thành “động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân
tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta [19,
tr. 74]. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, là

nghĩa yêu nước đã trở thành: Dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam, trở thành một dạng
triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn người Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ II của
Đảng Lao động Việt Nam (11/2/1951), chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: dân tộc
ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nước và cướp nước.
Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành, được thử thách và
được khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, nó đã được bổ sung và phát triển qua
từng thời kỳ, nó là một trong những giá trị trị truyền thống cao quý và bền vững nhất
của dân tộc ta. Nếu như trước đây, yêu nước là phải cứu nước, phải chiến thắng giặc
ngoại xâm, thì ngày nay, yêu nước phải kiên quyết chống tham nhũng, buôn lậu, ma
túy và các tệ nạn xã hội khác - những vấn nạn đã và đang từng ngày từng giờ làm băng
hoại những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, yêu nước còn được thể hiện ở sự
nhất trí, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, vào khả năng, sức mạnh tự lực tự
cường của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng vẻ vang của
dân tộc. Có thể nói rằng, dưới thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước được phát

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

17


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

huy lên tầm cao mới thành lý tưởng: sống, chiến đấu, lao động, học tập vì độc lập dân
tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

18


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời mình Bác đã hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc
của nhân dân. Đúng như nhà thơ Tố Hữu viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế, ôm cả
non sông trọn kiếp người”. Lòng nhân ái của Người đã thấm sâu vào chủ trương
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, có tác dụng cảm hóa hàng vạn con
người lầm đường lạc lối, theo kẻ thù chống lại nhân dân. Bác xem họ như những đứa
con “lạc bầy” cần được cưu mang. Bác nói: Giống như bàn tay cũng có ngón dài ngón
ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, có người
thế này, có người thế khác, nhưng tất cả đều là dòng dõi tổ tiên ta, đều là người Việt
Nam, nên cần phải khoan dung đại lượng. Hàng năm, Đảng và Nhà nước thường có
những đợt giảm án cho các phạm nhân cải tạo tốt, điều đó thể hiện lòng nhân ái của
Đảng và Nhà nước ta. Lòng nhân ái của người Việt Nam cũng là lòng yêu chuộng hòa
bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong quan hệ với các nước láng giềng, nhân
dân ta bao giờ cũng trọng tình hòa hiếu, cố gắng tránh xảy ra những xung đột. Trong
đường lối đối nội, Đảng ta đã khơi dậy các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền
ơn đáp nghĩa”, chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ,
giúp đỡ những người già cả neo đơn không nơi nương tựa. Phát động các phong trào
xóa đói giảm nghèo, trợ giúp các dân tộc vùng xâu vùng xa, rút ngắn khoảng cách
thành thị - nông thôn, miền xuôi - miền ngược... Truyền thống nhân ái của dân tộc ta
còn bao hàm cả tinh thần lạc quan, tin tưởng vào sức mạnh của con người, sức mạnh
của chính nghĩa và ở tương lai của dân tộc. Nhân ái ngày nay vẫn tiếp tục mở rộng
phạm vi trên toàn thế giới để cùng các dân tộc khác giải quyết các vấn đề mang tính
toàn cầu như: bảo vệ thiên nhiên, môi trường, chống chiến tranh, chống bệnh tật hiểm
nghèo...

về một đức tính cần cù lao động đã được thể hiện nhiều trong dân gian Việt Nam.
Người Việt Nam luôn nhắc nhở với nhau rằng “năng nhặt chặt bị”; “kiến tha lâu cũng
đầy tổ”, người ta luôn phê phán thói “ăn không ngồi rồi” bởi với họ “nhàn cư vi bất
thiện”.
Truyền thống cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, vì cần mà
không kiệm thì chẳng khác nào: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nên ông
cha ta thường nhắc nhở con cháu rằng: “Được mùa chớ phụ ngô khoai. Đến khi thất
bát lấy ai bạn cùng”. Hồ Chủ tịch đã nêu rõ: Con người phải có bốn đức tính: Cần,
kiệm, liêm, chính, so sánh với bồn mùa của trời, bốn phương của đất, nếu thiếu một
đức thì không thành người:
Trời có bốn mùa: Xuân - hạ - thu - đông;
Đất có bồn phương: Đông - Tây - Nam - Bắc;
Người có bốn đức: Cần - kiệm - liêm - chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời;
Thiếu một hướng thì không thành đất;
Thiếu một đức thì không thành người [19, tr. 631].

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

20


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

Người cho rằng cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh của một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc tiến bộ, cần, kiệm, liêm, chính là
nền tảng, là cốt lõi của đạo đức xã hội mới.
Ngày nay, cần cù sáng tạo được biểu hiện rõ nét trong lao động, sản xuất, trong


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên được thể hiện trong gia đình,
trong cộng đồng làng xã, và hơn hết là trong toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết được thể hiện qua câu châm ngôn: “thuận vợ thuận
chồng tát bể đông cũng cạn”. Chính những quy tắc, những thể lệ về một mảnh ruộng
chung, về việc phải cùng nhau hợp tác trong lao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm,
chống thiên tai mà tinh thần đoàn kết ngày càng được củng cố trong làng xã. Như học
giả Đào Duy Anh đã nhận xét: ở trong một làng người ta thấy những cuộc đoàn kết
nhỏ, như hội tụ văn gồm những người có chức tước khoa danh, Hội văn phả gồm
những người nho học mà không có phẩm hàm khoa mục gì, Hội võ phả gồm những
người quan võ, Hội đồng môn gồm tất cả các học trò của một thầy. Ngoài ra còn có vô
số các đoàn thể khác như: Hội mua bán, cách gắp thăm bày tỏ tiền úp bát mà lần lượt
góp tiền cho nhau trong việc khánh hỉ, cũng là những hội bách nghệ họp các thợ thủ
công đồng nghiệp, hội chủ bà họp các bà vái lễ phật, hội đồng quan họp những bà thổi
đồng thánh, hội chọi gà, chọi chim, xem như thế thì người nhà quê ta rất ham lập hội.
Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đoàn
kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng nước và giữ nước. Vì
vậy, dân tộc Việt Nam đã duy trì được sự hài hòa trong các quan hệ xã hội, làm hạn
chế phần nào tính vị kỷ, tạo được sức mạnh cho sự sinh tồn và chiến thắng ngoại xâm.
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, nếu không tạo được sự đoàn kết nhất trí cao thì
nguy cơ mất nước, nhà tan sẽ xảy ra. Thất bại của nhà Hồ thế kỷ thứ XIV là một ví dụ
do không thống nhất được lòng dân, nên dù có thời cơ chuẩn bị lâu dài, vũ khí tân tiến
vẫn không bảo vệ được tổ quốc. Hoặc trong các thế kỷ XVI - XVII chiến tranh phân
chia Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắc Triều là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của
đất nước, làm cho thực dân Pháp có cơ hội xâm lược nước nhà.
Chính nhờ có truyền thống đoàn kết mà chúng ta mới có được một dân tộc độc

Nam luôn ghi nhớ: “Cơm cha, áo mẹ, nghĩa thầy”, “Mồng một tết cha, mồng hai tết
mẹ, mồng ba tết thầy”.
“Không thầy đố mày làm nên”, đó là một triết lý sống của người Việt Nam. Là
cây phải có gốc, là sông phải có nguồn, để trở thành một con người đúng nghĩa phải có
thầy. Nhớ công ơn thầy vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyền thống uống nước nhớ
nguồn, tôn sư trọng đạo của người Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục, với truyền thống hiếu học,
tôn trọng hiền tài, nên ngay từ xưa, ông cha ta đã biết chăm sóc, bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước. Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường đại học quốc lập đầu tiên ở Việt
Nam được thành lập để đào tạo nhân tài. Trong bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, hiệu Đại
Bảo thứ 3 năm 1442 ở Văn Miếu còn ghi: Hiền tài là nguyên khí của Nhà nước,
nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy,
cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo cho việc gây dựng
nhân tài, bồi đắp nguyên khí.

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

23


Khóa luận tốt nghiệp

Gv: Chu Thị Diệp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về truyền thống hiếu học, người
luôn quam tâm và coi trọng giáo dục. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người cũng chỉ
phấn đấu cho một mục đích tối cao là làm sao để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành”. Bác đã đặt hy vọng vào thế hệ trẻ mai sau, Bác nói: “Non sông ta có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc ta có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc, năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn vào công học hành

thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16. Còn thanh niên kết thúc
ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi
và cũng có nước cho đó là tuổi 40 . Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết
thúc của tuổi thanh niên.
Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu
dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các
nhóm lứa tuổi khác.
Trong các văn bản pháp lý Việt Nam hiện hành, thuật ngữ “thanh niên” cũng có
phạm vi điều chỉnh không thống nhất. Theo chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam
đến năm 2010 do thủ tướng chính phủ ký phê duyệt kèm theo quyết định số 70/2003/QĐ
- TTCP ngày 29/4/2003: “thanh niên Việt Nam là công dân trong độ tuổi từ 15 đến 34”.

Sv: Nguyễn Thị Ngọc Yến

25


Trích đoạn Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status