Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) điều này tạo rất nhiều cơ
hội để nền kinh tế Việt Nam có những bước chuyển mình lớn. Tuy nhiên nó cũng tạo
ra rất nhiều thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng
thị trường, tìm kiếm thêm nhiều đối tác mới nhưng cũng vì thế mà các doanh nghiệp
phải chịu áp lực cạnh tranh lớn.
Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự phát triển và thành công của
doanh nghiệp, là nguồn tài nguyên quý giá mà doanh nghiệp phải đầu tư, vun trồng và
chăm sóc kỹ lưỡng. Một số doanh nghiệp có thể có công nghệ hiện đại, chất lượng dịch
vụ tốt, cơ sở hạ tầng vững chãi nhưng nếu thiếu lực lượng lao đông thì doanh nghiệp
đó khó có thể tồn tại lâu dài chứ chưa nói đến việc duy trì và tạo dựng lợi thế cạnh
tranh. Ngược lại đối với đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn, tốt về đạo đức, luôn trung
thành và nỗ lực vì công việc chung sẽ thúc đẩy sự thành đạt của doanh nghiệp. Có một
vấn đề đặt ra với mọi doanh nghiệp ngày nay đó là: “Làm thế nào để thu hút ngày càng
nhiều người tài đến làm việc cho doanh nghiệp? “hay” Bằng cách nào có thể phát huy
năng lực làm việc của nhân viên một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những vấn đề trên điều này khiến cho công ty vận tải Biển Đông
không ngừng quan tâm đến công tác quản trị nguồn nhân lực.
Lực lượng cán bộ công nhân viên trong công ty vận tải Biển Đông không chỉ
đông về số lượng mà còn có sự khác biệt tương đối nhiều về giới tính, độ tuổi, trình độ,
kinh nghiệm….Mỗi đối tượng lao động với các đặc điểm khác nhau lại đòi hỏi cần có
những chính sách quản trị khác nhau, có vậy mới có thể phát huy hiệu quả năng lực
của người lao động.
Một trong những mục tiêu mà công ty luôn quán triệt đó là: Nỗ lực nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người lao động, khiến cho mỗi nhân viên phải gắn bó với
công ty như gắn bó với chính gia đình của họ. Chính vì vậy, công ty đã có sự quan tâm
nhất định tới công tác đãi ngộ nhân sự, trong đó bao gồm cả đãi ngộ nhân sự tài chính
và đãi ngộ nhân sự phi tài chính. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào
được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng tình hình công tác đãi ngộ phi tài chính tại công
tổng thể cán bộ công nhân viên trong công ty vận tải Biển Đông
Thời gian: Luận văn nghiên cứu và phân tích dữ liệu về công tác đãi ngộ
phi tài chính trong khoảng 3 năm từ 2007-2009.
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Căn cứ vào nội dung của đề tài và mục tiêu mà đề tài hướng đến, kết cấu của luận
văn bao gồm bốn chương :
Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về đãi ngộ phi tài chính
trong doanh nghiệp
Chương III : Phương pháp nghiên cứu và Thực trạng công tác đãi ngộ phi tài
chính tại Công ty vận tải Biển Đông
Chương IV: Kết luận và đề xuất nhằm nâng cao công tác đãi ngộ phi tài chính
tại công ty vận tải Biển Đông
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÃI
NGỘ NHÂN SỰ VÀ ĐÃI NGỘ PHI TÀI CHÍNH
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Quản trị nhân sự
Là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra , duy trì, phát
triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu
chung của doanh nghiệp
Từ khái niệm này có thể thấy :
+ Một là, quản trị nhân sụ là một lĩnh vực cụ thể của quản trị, vì vậy nó cần phải
thực hiện thông qua các chức năng quản trị như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm
soát một cách đồng bộ và phối hợp chặt chẽ.
+ Hai là, quản trị nhân sự phải được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với
với các lĩnh vực quản trị khác như :quản trị chiến lược, quản trị bán hàng, mua hàng,
quan trọng để thúc đẩy các khâu còn lại của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp.
Đãi ngộ nhân sự gồm hai hình thức: đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính
2.1.3 Đãi ngộ phi tài chính
Người lao động trong doanh nghiệp không phải chỉ có động lực duy nhất làm
việc để kiếm tiền mà còn có những nhu cầu không thể thỏa mãn bằng vật chất nói
chung và tiền bạc nói riêng, nói cách khác là họ còn có những giá trị khác để theo đuổi.
Chính vì vậy để tạo ra và khai thác đầy đủ động cơ thúc đẩy cá nhân làm việc thì cấn
phải có những đãi ngộ phi tài chính kết hợp với đãi ngộ tài chính để tạo ra sự đồng bộ
trong công tác đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp.
Đãi ngộ phi tài chính thực chất là quá trình chăm lo cuộc sống tinh thần của
người lao động thông qua các công cụ không phải tiền bạc. Những nhu cầu đời sống
tinh thần của người lao động rất đa dạng và ngày càng đòi hỏi được nâng cao như:
Niềm vui trong công việc, sự hứng thú, say mê làm việc, được đối xử công bằng, được
kính trọng, được giao tiếp với mọi người, với đồng nghiệp …
Trong doanh nghiệp thương mại, đãi ngộ phi tài chính được thực hiện thông qua
hai hình thức:
+ Đãi ngộ thông qua công việc
+ Đái ngộ thông qua môi trường làm việc
2.2. Các lý thuyêt tạo động lực trong lao động
2.2.1 Khái niệm động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng tới động lực lao động
Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc
tích cực và sáng tạo. Điếu đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những
người quản lý sử dụng để tạo động lực lao động cho nhân viên.
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng
cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là
kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và môi trường
sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực ( hay hành vi được
thúc đẩy, khuyến khích ) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kếp hợp tác động của
đạt được các nhu cầu của mình, mà trước nhất là các nhu cầu cơ bản. Một khi các nhu
cầu cơ bản được thỏa mãn thì người ta sẽ bị thôi thúc tìm kiếm để thỏa mãn các nhu
cầu cao hơn. Các nhu cầu cao hơn có thể có được từ các công cụ tài chính mà người sử
dụng lao động dành cho người lao động: ví dụ có tiền để mua bảo hiểm, để sinh và
nuôi dạy con cái, để hoàn thiện bản thân… Nhưng người lao động thường dành rất
nhiều thời gian tại nơi làm việc, và họ có xu hướng muốn được thỏa mãn những nhu
cầu cao hơn ở chính nơi làm việc mà họ gắn bó. Đãi ngộ phi tài chính chính là phương
thức để thỏa mãn những nhu cầu đó của con người.
2.2.2.2. Học thuyết tăng cường tích cực:
Học thuyết này dựa vào những công trình nghiên cứu của B.F. Skinner, hướng
vào việc làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng cường. Học
thuyết cho rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng lặp lại, còn những hành vi
không được thưởng (hoặc bi phạt) sẽ có xu hướng không được lặp lại. Đồng thời,
khoảng thời gian giữa thời điểm xẩy ra hành vi và thời điểm thưởng/phạt càng ngắn
bao nhiêu thì càng có tác dụng thay đổi hành vi bấy nhiêu. Học thuyết cũng quan niệm
rằng phạt có tác dụng loại trừ những hậu quả tiêu cực, do đó đem lại ít hiệu quả hơn so
với thưởng. Để tạo động lực lao động, người quản lý cần quan tâm đến các thành tích
tốt và thưởng cho các thành tích đó. Sự nhấn mạnh các hình thức thưởng sẽ đem lại
hiệu quả cao hơn trong sự nhấn mạnh các hình thức phạt
2.2.2.3. Lý thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg
Frederick Herzberg chia các yếu tố tạo động lực người lao động thành hai loại:
yếu tố duy trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố thúc đẩy - thỏa mãn bản chất
bên trong.
Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường. Mọi
nhân viên đều mong muốn nhận được tiền lương tương xứng với sức lực của họ, công
ty được quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ được thoải mái. Khi các
yếu tố này được thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhưng nếu không có
chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút.
Tập hợp các yếu tố thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, liên
quan đến bản chất công việc. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người công nhân sẽ
Luận văn: Nâng cao chất lượng công tác đãi ngộ phi tài chính tại công ty
TNHH nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình- sinh viên thực hiện Nguyễn Tiến
Trung- lớp K41A6- Hướng dẫn- Ths. Nguyễn Quang Trung- Đại Học Thương Mại
Đồ án tốt nghiệp: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhân
lực tại các đội tàu container ở công ty vận tải Biển Đông " sinh viên thực hiện:
Nguyễn Đức Duy- lớp quản trị K48- Khoa Kinh tế và quản lý – Trường Đại học Bách
Khoa- Hà Nội
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Các luận văn đã đưa ra được các cách tạo động lực cho người lao động, cũng
như đưa ra các chính sách đãi ngộ phi tài chính hiệu quả cũng như các tác động của các
chính sách đãi ngộ đối với nhân viên. Tuy nhiên nhân viên làm việc tại công ty TNHH
nhà nước một thành viên giày Thượng Đình có những đặc trưng khác với các nhân
viên của công ty vận tải Biển Đông. Điều này do tính chất công việc, môi trường làm
việc, văn hóa doanh nghiệp, do bản thân các nhân viên là khác nhau. Còn đối với đồ án
tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Đức Duy- lớp quản trị K48- Khoa Kinh tế và quản lý
– Trường Đại học Bách Khoa- Hà Nội thì chỉ đi vào một bộ phận nhỏ nhân viên của
công ty vận tải Biển Đông không mang tính chất khát quát cao. Do đó cần phải nghiên
cứu một cách cụ thể , tổng quát chính sách đãi ngộ phi tài chính đối với toàn thể cán bộ
công nhân viên của công ty vận tải Biển Đông.
2.4. Phân định nội dung đãi ngộ phi tài chính
2.4.1. Các hình thức đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp.
2.4.1.1. Đãi ngộ phi tài chính thông qua công việc
Công việc được hiểu là những hoạt động cần thiết mà người lao dộng được tổ
chức giao cho và họ có nghĩa vụ phải hoàn thành.
Công việc mà người lao động phải thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng bởi các lí
do sau:
Công việc là phương tiện để người lao động đạt được mục tiêu của mình. Vì
việc hoàn thành công việc sẽ đem đến cho người lao động chế độ đãi ngộ: Lương,
thưởng, phụ cấp, được sự thừa nhận của đồng nghiệp và cấp trên…
♦Không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động: Một trong những
mục tiêu của con người là được bảo vệ và được an toàn. Họ đương nhiên không muốn
làm việc ở những môi trường độc hại hay điều kiện làm việc có thể đem đến bệnh tật
cho họ. Và cho dù họ có chấp nhận làm việc với bất kì giá nào thì với điều kiện làm
việc không đảm bảo cũng sẽ là rào cản ngăn cản họ hoàn thành tốt công việc.
♦Kết quả làm việc phải được đánh giá bằng một hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng.
Phân công cho người lao động một công việc thỏa mãn tất cả những mong
muốn của họ là điều mà nhà quản trị nào cũng mong muốn. Tuy nhiên, điều này khó có
thể vẹn toàn được, hay doanh nghiệp không thể cùng lúc thỏa mãn nhu cầu của tất cả
người lao động. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà quản trị tạm bằng lòng với
cơ cấu tổ chức hiện hữu của doanh nghiệp mà phải cố gắng ở mức độ cao nhất để vừa
đảm bảo nguyên tắc tổ chức khoa học, hợp lý, hiệu quả lại vừa thỏa mãn được nhu cầu
của người lao động.
Một khi đã có được một cơ cấu tổ chức linh hoạt và phù hợp rồi, cũng sẽ không
tránh khỏi sự bất mãn của người lao động về công việc mà họ được giao, cho dù trước
đó họ hoàn toàn hài lòng, bởi lẽ, họ sẽ cảm thấy nhàm chán và mất đi động lực làm
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
việc khi công việc có tình đơn điệu hay lặp đi lặp lại. Khi này, chính người quản trị
nhân sự phải là người đem lại cảm hứng làm việc cho người lao động. Tham khảo
phương pháp của Frederick Herzberg, tác giả cuốn sách “Động lực làm việc”, ông này
cho rằng, có ba cách để cải thiện trạng thái hăng say của người lao động, Đó là: (1)
luân chuyển vị trí công tác, (2) mở rộng nhiệm vụ giao phó và (3) tạo tính đa dạng,
phong phú trong công việc.
Luân chuyển công việc, có thể chỉ là tạm thời chứ không nhất thiết là cả
một giai đoạn: bằng việc chuyển nhân viên ở một số bộ phận sang bộ phận khác và
giao việc cụ thể cho họ. Ban đầu, người lao động có thể bất mãn nếu công việc mới bị
coi là ở vị trí thấp hơn so với công việc cũ, song nếu họ thật sự cảm thấy nhàm chán,
thì một công việc mới chính là cách họ refresh và tìm lại cảm hứng. Đồng thời, khi tiếp
xúc với công việc mới, họ sẽ cố găng hoàn thành công việc để thể hiện bản thân.
Đảm bào an toàn lao động cho người lao động: đây chính là khía cạnh liên
quan tới tiêu chí đánh giá một công việc tốt đối với người lao động. Đó là không gây
nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của người lao động. Tất nhiên, trong thực tế, có
rất nhiều công việc với những đặc thù riêng, có thể gây nguy hại hay ảnh hưởng không
tốt tới sức khỏe của người lao động: tai nạn lao động, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi…
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải có những biện pháp nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người lao động, giảm thiểu tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp. Ví dụ như có các trang thiết bị bảo hộ lao động, đầu tư vào
hệ thống máy móc xử lý chất thải, đầu tư vào dây chuyền công nghệ không gây ô
nhiễm môi trường làm việc của người lao động.
Đảm bảo những phương tiện vật chất hỗ trợ cho người lao động: Máy tính,
máy điện thoại, bàn ghế, tài liệu…đây là những phương tiện giúp người lao động hoàn
thành tốt công việc được giao với độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian và đảm bảo
hiệu quả. Tuy nhiên việc trang bị các phương tiện cho người lao động còn phụ thuộc
vào điều kiện của doanh nghiệp, tính chất đặc điểm của công việc mà người lao động
được giao…
Tạo không khí làm việc: Chan hòa, đoàn kết. Không khí làm việc thoải mái
là điều kiện để người lao động có thể cống hiến hết sức cho công ty. Nếu trong công ty
tồn tại thái độ nghi kị, nói xấu hay ích kỉ, thì tâm trạng của người lao động sẽ không
thoải mái, hoặc họ sẽ không muốn thể hiện hết mình mà co mình lại nhằm tránh bị tổn
thương. Đây cũng là phản ứng hết sức bình thường của con người. Hơn nữa, khi
không khí làm việc căng thẳng, người lao động có thể sẽ đem theo những bực bội nơi
công sở về nhà, kết quả là gây xích mích trong gia đình, hạnh phúc gia đình bị ảnh
hưởng. Điều này rõ ràng đã ảnh hưởng không nhỏ tới người lao động và cuộc sống của
họ chứ không chỉ đơn thuần là trong công việc nữa.
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Thiết lập mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong các bộ phận: Quan
hệ đồng nghiệp- đồng nghiệp, quan hệ cấp trên- cấp dưới
Thiết lập các phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao: Chính là cơ hội
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Chính sách phúc lợi: ví dụ như tổ chức tiệc sinh nhật, thăm hỏi động viên khi
người lao động đau ốm; quan tâm động viên khi gia đình người lao động có việc hiếu
hỉ….
2.4.2.2. Triển khai thực hiện chính sách đãi ngộ phi tài chính trong doanh
nghiệp
Sau khi đã xây dựng các chính sách đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp, để
các chính sách này đi vào thực tế cần triển khai thực hiện. Một số nội dung về triển
khai thực hiện chính sách đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp.
* Xây dựng các tiêu chí đánh giá người lao động, các dòng thông tin, cách thức tổ
chức đánh giá làm cơ sở cho việc đánh giá, khen thưởng và kì luật nhân viên.
* Ban hành các quy định và thủ tục liên quan tới đãi ngộ phi tài chính trong doanh
nghiệp
Ngoài ra, công ty còn quan tâm tới việc xây dựng các quy định và thủ tục liên
quan tới chế độ đãi ngộ phi tài chính như:
Nghỉ phép năm
Quy định nghỉ lễ, tết, ngày thành lập doanh nghiệp
Nghỉ hiếu, hỉ
Tham quan nghỉ mát
Thưởng kinh doanh
Khám sức khỏe định kì hàng năm
Chế độ làm việc
Chế độ đối với các vị trí làm việc đặc biệt
Chế độ đối với công nhân làm việc trong môi trường độc hại
Thủ tục thăng chức
Quy định về điều chuyển công việc
Thủ tục thôi việc
Các quy định này được xây dựng và hoàn thiện dần, có sự bổ sung và sửa đổi
sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn và quy định của pháp luật, đảm bảm vừa hợp
Chính sách của doanh nghiệp
Không giống như văn hóa doanh nghiệp thường mang tính lịch sử và ổn định,
tồn tại cùng với sự tồn tại của doanh nghiệp. chính sách của doanh nghiệp thường
mang tính ngắn hạn, và ghi đậm dấu ấn của một vị lãnh đạo cao cấp của doanh nghiệp,
Nếu chính sách của doanh nghiệp được mọi người ủng hộ thì các nhân viên trong
doanh nghiệp sẽ tự giác thực hiện nó. Chính sách của doanh nghiệp bao gồm nhiều
loại, nhưng trong đó có thể có chính sách liên quan tới các chế độ đãi ngộ phi tài
chính. Ví dụ, một công ty có chính sách “Coi trọng người hiền tài” thì sẽ tập trung tạo
những điều kiện tốt nhất để thu nạp được những người giỏi về doanh nghiệp và tạo
điều kiện cho họ làm việc tốt nhất.
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Điều kiện của doanh nghiệp.
Điều kiện của doanh nghiệp ở đây chính là khả năng tài chính của doanh
nghiệp. Tuy khái niệm về chế độ đãi ngộ phi tài chính là việc sử dụng các công cụ đãi
ngộ phi tài chính, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là việc thực hiện các chế độ
đãi ngộ này không tốn kinh phí. Có những nội dung đãi ngộ ít tốn kém chi phí, nhưng
cũng có những nội dung đãi ngộ đòi hỏi chi phí rất lớn: ví dụ như tạo môi trường làm
việc an toàn cho người lao động, cung cấp cho người lao động những phương tiện kĩ
thuật hiện đại để thực hiện công việc…Vì thế, công tác đãi ngộ phi tài chính có thực
hiện được hay không, thực hiện dưới hình thức nào, chú trọng những nội dung nào còn
bị chi phối bởi khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp cũng có tác động tới chế độ đãi ngộ phi tài
chính của doanh nghiệp
Hệ thống luật pháp
Hệ thống luật pháp liên quan tới quyền lợi và bảo vệ quyền lợi của người lao
động có những quy định rõ ràng về việc thực hiện các chế độ đãi ngộ phi tài chính đối
với người lao động: Đảm bảo an toàn lao động, …Chính vì thế, hệ thống pháp luật
càng hoàn thiện, càng có tính cưỡng chế cao thì càng có tác dụng thúc đẩy doanh
nghiệp thực hiện các chế độ đãi ngộ phi tài chính.
- Phương pháp điều tra trắc nghiệm (bản hỏi)
Phương pháp này được thực hiện gồm 4 bước:
Bước 1: Lập phiếu điều tra
Bước 2: Phát phiếu điều tra
Bước 3: Thu lại phiếu điều tra
Bước 4: Xử lý phiếu điều tra
Phương pháp điều tra trắc nghiệm được sử dụng nhằm thu thập thông tin về
công tác đãi ngộ phi tài chính, cũng như đánh giá về mức độ quan trọng của đâĩ ngộ
phi tài chính trong công ty. Phiếu điều tra được chia làm hai loại: Phiếu điều tra trắc
nghiệm được thiết kế dành cho các nhà quản trị trong công ty bao gồm: giám đốc, phó
giám đốc, trưởng phòng nhân sự, phó trưởng phòng nhân sự trong công ty. Phiếu điều
tra được thiết kế dành cho nhân viên trong công ty những người được hưởng các chính
sách đài ngộ của công ty.
Phiếu điều tra được thiết kế gồm nhiều câu hỏi liên quan trực tiếp đến vấn đề
nghiên cứu, cụ thể ở đây là vấn đề công tác đãi ngộ phi tài chính của công ty. Các câu
hỏi trong phiếu điều tra cần rõ ràng, cụ thể và ngắn gọn dạng câu hỏi trắc nghiệm để
người được điều tra có thể tận dụng thời gian trả lời nhanh nhất. Tránh tình trạng câu
hỏi quá dài và bắt người được điều tra phải suy nghĩ lâu.
Để đánh giá về công tác đãi ngộ phi tài chính của công ty vận tải Biển Đông,
Phiếu điều tra đã được phát cho 15 cán bộ công nhân viên trong công ty Kết quả phiếu
điều tra thu được như sau:
o Hình thức phát phiếu: phát phiếu ngẫu nhiên
o Số phiếu phát ra: 15 phiếu
o Số phiếu thu về: 15 phiếu
o Số phiếu hợp lệ: 15 phiếu
-Phương pháp điều tra phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện gồm 3 bước:
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Bước 1: Xác định đối tượng phỏng vấn và xây dựng câu hỏi phỏng vấn
Fax : (84) 437280296
♣ Email : biendong@biendong .com.vn
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
♣ Công ty vận tải Biển Đông được thành lập theo Quyết định số 645 QĐ/TCCB
– LĐ ngày 1/3/1995 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
♣ Loại hình doanh nghiệp : DNNN trực thuộc Tập đoàn công nghiệp tàu thủy
Việt Nam
♣ Vốn đăng ký kinh doanh : 27.618.000.000 đồng
♣ Ngành nghề kinh doanh : Vận tải đường biển, xếp dỡ vật tư, thiết bị phục vụ
khảo sát thi công các công trình biển, hải đảo; Đại lý tàu biển và môi giới hàng hải; Đại
lý giao nhận vận tải hàng hóa bằng các phương tiện vận tải đường bộ và đường thủy;
Dịch vụ sửa chữa các phương tiện thủy; Kinh doanh khai thác cảng biển, cảng
container cảng (IDC) và kho; khai thác hàng container; Kinh doanh đóng mới , sủa
chữa và cho thuê thiết bị mang hàng container; Đầu tư kinh doanh văn phòng cho thuê;
Dịch vụ du lịch, khách sạn.
* Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty vận tải Biển Đông thuộc sở hữu nhà nước, thành viên của tập đoàn kinh
tế Vinasin, được thành lập và đi vào hoạt động từ 1995 với vẻn vẹn 20 nhân viên tách
ra từ Viện Khoa học công nghệ tàu thủy. Số vốn điều lệ chính là các tài sản được nhà
nước giao: 01 cần cẩu nổi 900 tấn, 01 xà lan và 01 tàu kéo biển. Hoạt động chính của
công ty trong giai đoạn từ 1995 đến 2000 là phục vụ các công trình đèn biển tại Đảo
Đá Tây – Trườn Sa, sà lan và tàu kéo khai thác cầm chừng.
Năm 2001 Ban lãnh đạo công ty mạnh dạn mở rộng định hướng kinh doanh
mới: đầu tư 01 tàu biển cỡ lớn. Con tàu đầu tiên chở hàng rời của công ty được đầu tư
đã mang lại lợi nhuận, tình hình kinh doanh có cải thiện hơn trước. Nhưng phải đến
đầu năm 2002, khi công ty quyết tâm tham gia thị trường vận tải container, lúc đó còn
là một hình thức vận tải mới mẻ ở Việt Nam; thực sự là một bước tiến: chuyển mình và
phát triển.
Trong giai đoạn này, các hãng tàu truyền thống vận tải lâu đời, chuyên nghiệp
container.
Tháng 10 năm 2006, Biển Đông tạo một bước đột phá mới: Khai thác thành
công tàu dầu thành phẩm M/V Vinashin Energy và M/V Vinashin Victory, nâng tổng
năng lực chuyển chở lên đến 85.000 tấn. Mục tiêu trong những năm tới, đội tàu chở
dầu thành phẩm của Biển Đông cũng sẽ trở thành đội tàu mạnh nhất của Việt Nam.
Tháng 3 năm 2007, Biển Đông mở tuyến khai thác Hải Phòng – Hong Kong –
Fangcheng. Qua sự phối hợp giữa các hãng tàu container nổi tiếng, Biển Đông nhắm
tới việc chào hàng vận tải container chất lượng cao trong thị trường châu Á.
Công ty vận tải Biển Đông tiếp tục đầu tư đội tàu hiện đại có quy mô rộng lớn
cả về số lượng lẫn dung tích. Công ty đưa thêm 3 tàu 1700 Teus và 2 tàu 1016 đóng
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
mới vào khai thác. Bên cạnh đó công ty có kế hoạch đóng mới một tàu 100.000 tấn
chuyên chở dầu tho. Năm 2007, Công ty phấn đấu đạt 680 tỷ đồng doanh thu.
Tháng 7 năm 2008, Biển Đông chính thức tham gia các tuyến vận tải mới:
VietNam – Korea, VietNam – Malaysia, VietNam – Russia.
3.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty vận tải Biển Đông
Chức năng và nhiệm vụ của công ty được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty.
♦ Chức năng của Công ty vận tải Biển Đông
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn nảy sinh những mối quan hệ sản xuất
kinh doanh với nhau. Đó có thể là mối quan hệ buôn bán, trao đổi và cũng có khi là
mối quan hệ liên doanh liên kết. Công ty đóng vai trò cầu nối giữa sản xuất kinh
doanh, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
Theo điều lệ của Công ty có chức năng hoạt động sau:
- Tổ chức phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để tổ chức chuyên trở,
giao nhận hàng hoá XNK, hàng ngoại giao, hàng quá cảnh, hàng hội trợ triển lãm, hàng
công trình, hàng tư nhân, tài liệu chứng từ liên quan, tài liệu chuyển phát nhanh…
- Nhận uỷ thác các dịch vụ về giao nhận, kho vận, thuê và cho thuê kho bãi, lưu
cước, thuê các phương tiện vận tải ( tầu biển, ôtô, máy bay, xà lan, container ) bằng
các hợp đồng trọn gói và thực hiện các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá như:
biểu cước, giá cước của các tổ chức vận tải có liên quan theo quy định hiện hành, đề ra
các biện pháp thích hợp đảm bảo quyền lợi giữa đôi bên khi ký kết hợp đồng nhằm thu
hút khách hàng, đem công việc đến củng cố và nâng cao uy tín trách nhiệm của
Vietrans trên thương trường quốc tế.
3.2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Quản trị doanh nghiệp
Nguồn: />Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của công ty vận tải Biển Đông
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4
Giám đốc
Phó giám đốc Phó giám đốcPhó giám đốc
P.kế
hoạch
Hệ thống
containe
r
P.luật
P.QL
đội tàu
P.nhân
sự
P.hành
chính
P.đào
tạo
nhân
viên
P.tàu
chở hàng
Nguồn: Phòng kế toán tài chính của công ty
Qua bảng số liệu trên ta thấy hoạt động kinh doanh của công ty là rất tốt, doanh
thu của công ty không ngừng tăng lên cụ thể năm 2007 đạt 560 tỷ đồng đến năm 2008
là 590 tỷ đồng tăng 5.36% cho đến năm 2009 doanh thu đã là 820 tỷ đồng tăng
38.89% có thể nói đây là một bước phát triển vược bậc của công ty. Điều này hoàn
toàn hợp lý bởi vì doanh nghiệp không ngừng đầu tư thêm các tàu để đưa vào sử dụng
phục vụ nhu cầu chuyên chở của khách hàng. Không chỉ vậy lợi nhuận sau thuế của
doanh nghiệp cũng rất cao năm 2007 là hơn 60 tỷ đồng tuy nhiên đến năm 2008 thi
giảm xuống còn 36 tỷ đồng điều này cũng hoàn toàn hợp lý bởi do năm 2008 Việt Nam
cũng bị cuốn vào vòng xoáy của khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho nền kinh tế bị
biến dạng, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng hết sức khó khăn trong đó có Biển
Đông. Tuy nhiên đến 2009 lợi nhuận trước thuế lại tăng trở lại đạt 129.6 tỷ đồng điều
này do kinh tế Việt Nam phục hồi nhanh sau khủng hoảng thêm vào đó doanh nghiệp
mạnh dạn đầu tư vào kinh doanh do đó lợi nhuận không ngừng tăng cao.
SV: Nguyễn Văn Sơn Lớp: 42A4