BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
SỰ LÃNH ĐẠO - NHÂN TỐ CHỦ YẾU
QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
2
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ vai trò, sức mạnh của quần
chúng nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử - động lực của các cuộc
4
4
cách mạng, tuy nhiên sức mạnh của quần chúng chỉ có thể phất huy đầy
đủ, đúng đắn khi có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính.
Chính trên ý nghĩa đó áp dụng vào thực tế cách mạng Việt Nam: muốn
làm cách mạng thì "Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và
giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng
như người cầm lái có vững thuyền mới chạy"
Luận điểm nêu trên của Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng đó không phải là
tổng số quần chúng gộp lại một cách cơ học mà là khối đại đoàn kết toàn
dân được giáo dục được giác ngộ, có tổ chức được dẫn dắt bởi đường lối
đúng đắn của một chính Đảng vô sản.
Đảng cộng sản có trách nhiệm như "người cầm lái", người dẫn
đường: Đảng có trách nhiệm hoạch định đường lối đúng đắn và đưa
đường lối đó vào quần chúng để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân
đứng lên đấu tranh thực hiện giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nhất đảm bảo
thắng lợi của cách mạng.
của Đảng, những vấn đề chiến lược của cách mạng: Vai trò lãnh đạo của
giai cấp công nhân liên minh công nông. Đoàn kết quốc tế; Xây dựng
Đảng của giai cấp công nhân, phương pháp đấu tranh giành chính
quyền…… đã được xem xét và giải quyết một cáh chính xác. Cương lĩnh
đầu tiên của Đảng xác định phương hướng, con đường của cách mạng
8
8
Việt Nam trải qua 2 giai đoạn: Trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ
sau đó đi lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ
nghĩa, mục tiêu cuối cùng là Chủ nghĩa xã hội.
Đường lối chiến lược đó đáp ứng nhu cầu của lịch sử dân tộc và
phù hợp với xu thế thời đại. Đây là một nhân tố làm cho Đảng đoàn kết
nhất trí về tư tưởng và hành động trong các lực lượng cách mạng. Đây
cũng là một nhân tố làm cho Đảng ta ngay từ đầu đã xứng đáng là Đảng
của giai cấp công nhân.
Ngay từ khi mới ra đời Đảng đã tổ chức và lãnh đạo đựoc một
phong trào quần chúng lớn mạnh xưa nay chưa từng có - cao trào cách
mạng 1930-1931- cuộc Tổng diễn tập đầu tiên, đưa ra nhiều kinh nghiện
quý báu. Ảnh hưởng của Xô Viết Nghệ Tĩnh vang dội cả trong nước và ở
nước ngoài. Qua cao trào đó, Hội nghị lần thứ 11(4/1931) của ban chấp
hành Quốc tế cộng sản đã đánh giá cao đường lối đúng đắn lãnh đạo
cách mạng của Đảng ta, quyết định công nhận Đảng cộng sản Đông
Dương là phân bố độc lập của Quốc tế cộng sản.
Cao trào Cách mạng 1930 - 1931 khẳng định đường lối Cách mạng
Việt Nam do Đảng ta đề ra là đúng đắn. Nó đem lại cho nhân dân niềm
tin vững chắc vào con đường giải phóng giai cấp, giải phóng đấu tranh
do Đảng ta lãnh đạo; làm cho họ thấy rõ con đường cứu nước duy nhất
đúng ở Việt Nam là con đường Cách mạng theo chủ nghĩa Mac-Lênin là
độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
Cao trào cách mạng 1930-1931 đã thực hiện được quyền lãnh đạo
hàm cả hai nội dung dân tộc, dân chủ định hướng theo nhiệm vụ chiến
lược mà Đảng đã xác định. Đảng tuyệt nhiên không coi đấu tranh đòi cải
cách là mục đích cuối cùng mà chỉ sử dụng nó để phát triển lực lượng
cách mạng, chuẩn bị cho nhiệm vụ giai cấp đấu tranh chống đế quốc với
chống phong kiến không lúc nào rời xa mục tiêu chiến lược của cách
mạng. Vai trò của Đảng trong thời kỳ này là Đảng đã theo sát tình hình
Thế giới và trong nước, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo cách mạng.
12
12
Qua cao trào cách mạng 1936 - 1939 Đảng đã xât dựng đội quân
chính trị to lớn cho cách mạng, bao gồm hàng triệu quần chúng công
nông cùng với đông đảo quần chúng tiểu Tư sản và các tầng lớp trên đã
được động viên, giáo dục, tổ chức lại. Thắng lợi đó đã tạo ra luôn luôn
mới cho cao trào cứu nước, giải phóng dân tộc trong những năm 1939 -
1945, như vậy cao trào 1936 - 1939 là cuộc Tổng diễn tập thứ 2 cho
thắng lợi Cách mạng tháng 8.
Năm 1939 chiến tranh thế giới II bùng nổ chi phối đời sống kinh tế
chính trị, xã hội của tất cả các nước. Đảng cách mạng phải biết lợi dụng
kẻ địch tự làm suy yếu lẫn nhau trong chiến tranh để đưa phong trào
cách mạng tiến lên từng bước vững chắc. Thực tế khi Nhật - Pháp bắn
nhau (9/3/1945) Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp để đánh giá
tình hình và đề ra chủ trương mới cho phù hợp. Phát động và lãnh đạo
đấu tranh du kích cục bộ khởi nghĩa từng phần và giành chính quyền bộ
phận ở nông thôn, lập uỷ ban dân tộc áp bức Việt Nam (tức chính phủ
lâm thời Việt Nam) là một nét điển hình và sáng tạo của Đảng trong lãnh
đạo và tổ chức lực lượng tiến lên Tổng khởi nghĩa vũ trang ở một nước
thuộc địa trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đến giữa tháng 8 - 1945 cách
mạng đã có những ưu thế lực lượng rộng rãi ở cả nông thôn và đô thị,
quần chúng nô nức tự vũ trang và hừng hực khí thế tiến lên Tổng khởi
nghĩa Chính phủ Nhật đã đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh vô
lợi của cách mạng tháng 8 Dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên độc lập tự do và Chủ nghĩa xã hội. Đây là một kỳ tích
lịch sử:"Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể
tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có
thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử của cách mạng của
các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh
đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc trong Hồ Chí
Minh toàn tập - tập 6 trang 18 nhà xuất bản Sự thật Hà Nội 1996.
Nguồn gốc quyết định thắng lợi của cách mạng tháng 8 là sự lãnh
đạo của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng Đảng có đường lối
chính trị đúng, thống nhất về tư tưởng trong sạch vững mạnh về tổ chức
16
16
gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng đã lên hàng đầu xây dựng khối
thống nhất trong toàn Đảng, muôn nghìn người như một, chỉ có một ý
chí, một hành động trong cách mạng tháng 8, Đảng ta chỉ có 5000 Đảng
viên cùng với đồng bào trong cả nước đã làm một cuộc Tổng khởi nghĩa
thành công. Đảng tin dân, dân tin Đảng; ý Đảng lòng dân hoà quyện vào
nhau tạo nên sức mạnh là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt
Nam.
Với khẩu hiệu"Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", "Thà hy sinh
tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ" Từ sau ngày cách mạng tháng 8 thắng lợi Đảng ta đã lãnh đạo thực
hiện đoàn kết dân tộc, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
(1945 - 1946) Vào thời điểm này nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bị
các nước Đế quốc và các thế lực phản động quốc tế và trong nước liên
kết với nhau bao vây và chống phá quyết liệt. Trong lúc đó, lực lượng
mọi mặt của Nhà nước mới còn rất non yếu. Đất nước bị bao vây bốn
phía chính quyền cách mạng ở vào một tình thế như :"Ngàn cân treo sợi
tóc". Đảng ta do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã thực hiện chính sách
Song song với việc củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây
dựng chế độ mới Đảng ta còn chăm lo ổn định và cải thiện đời sống của
nhân dân.
Về kinh tế tài chính: Ngay từ đầu Đảng và chính phủ đã quyết định
đẩy mạnh tăng gia sản xuất để chống giặc đói, phát động phong trào thi
đua sản xuất với khẩu hiểu"Tấc đất tấc vàng" bãi bỏ thuế và các thứ thuế
vô lý khác của chế độ thực dân. Tịch thu ruộng đất của đế quốc Việt gian
chia cho nông dân nghèo, chia lại ruộng đất công một cách công bằng -
hợp lý; giảm tô 25%, giảm thuế và miễn thuế cho dân vùng lũ lụt….
Đảng đã động viên nhân dân tự nguyện đóng góp cho quỹ hàng chục
triệu đồng và hàng trăm kg vàng.
Về văn hoá giáo dục: Đảng vận động toàn dân xây dựng nền văn
hoá mới và đời sống mới, xoá bỏ mọi tệ nạn xã hội nô dịch của thực dân.
Thực hiện nền giáo dục mới, phát triển phong trào bình dân học vụ,
20
20
diệt"giặc dốt". Chỉ trong vòng một năm đã có 2,5 triệu người biết đọc
biết viết.
Như vậy với những chỉ đạo sát sao phù hợp lòng dân Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta dần dần đã vượt qua những khó khăn về kinh tế, đời
sống được ổn định, giành nhiều thắng lợi trên lĩnh vực văn hoá. Lòng tin
của nhân dân đối với Đảng, với chính quyền càng được củng cố.
Đối với bọn thực dân Pháp xâm lược Đảng xác định rõ chúng là kẻ
thù chính của nhân dân Việt Nam. Vì vậy Đảng nêu cao quyết tâm lãnh
đạo nhân dân toàn quốc đứng lên kháng chiến, tích cực chi viện cho
đồng bào Nam Bộ và Miền Nam Trung Bộ khẩn trương chuẩn bị về mọi
mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Cả nước điều hướng về cuộc kháng
chiến ở Miền Nam. Hàng vạn thanh niên nô nức lên đường Nam tiến.
Nhân dân Miền Nam" thành đồng tổ quốc" chiến đấu với sức mạnh của
chiến tranh nhân dân sức mạnh của cẳ dân tộc đã ngăn chặn và làm thất
cách mạng được đặt ra. Cách mạng nước ta từ chỗ ở trong tình thế "ngàn
cân treo sợi tóc" đã chuyển sang một tình thế đủ sức đối phó với âm mưu
mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Đảng và nhân dân ta
có được những thành công đó là do:
Đảng và Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhận thức đúng đắn
cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do dân, vì dân, Đảng - Chính Phủ
đã nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc phát huy quyền làm chủ đất nước của
nhân dân, đã khơi dậy được khả năng, sức mạnh vật chất, tinh thần của
mọi giai cấp tầng lớp, cá nhân để giữ vững thành quả cách mạng và xây
dựng được khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân.
Hai là Đảng và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề ra được đường lối cách
mạng đúng - phù hợp đã phân tích đánh giá đúng âm mưu, hành động.
Thế và lực từng kẻ thù triệt để lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ
chúng và ở những lúc bắt buộc Đảng phải nhân nhượng hòa hoãn nhưng
có nguyên tắc. Nguyên tắc chiến lược là giữ vững độc lập thống nhất
nước nhà, giữ vững chính quyền và thành quả cách mạng. Giữ vững
nguyên tắc nhưng lại mềm dẻo về sách lược và lĩnh họat về hình thức
đấu tranh.
24
24
Ba là Đảng và chính phủ đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã
hết sức nhạy cảm về chính trị, tỉnh táo sáng suốt nhìn nhận đúng bản
chất sự việc, đề cao cảnh giác, không ảo tưởng vào kẻ thù. Khi hòa hoãn,
nhân nhượng phải dự kiến những diễn biến xuấu nhất có thể xảy ra chủ
động đối phó, lường trước mọi tình huống. Giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong điều kiện khó khăn phức tạp, có nhiều Đảng
phải đối lập chống phá.
Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng nhân dân ta đã giành
và giữ được chính quyền cách mạng trong điều kiện vô cùng khó khăn
gian khổ.
triển tên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến
tranh chính quy.
Với quyết tâm phá tan cuộc tiến công mùa đông của giải pháp ngay
từ khi chiến dịch mới bắt đầu (7/10/1947) địch đã vấp phải sự giáng trả
quyết liệt của quân và dân ta. Kết quả, 2 tháng (đến 22/12/1947) ta đã
tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn tên địch. Nhiều máy bay bị hạ, nhiều ca
nô tàu chiến bị bắn chìm nhiều đoàn xe địch bị đốt cháy trên đường số 3
và số 4 Việt Bắc thực sự trở thành mổ chôn giặc Pháp.
Chiến thắng Việt Bắc là một thắng lợi to lớn của quân và dân ta
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ý nghĩa của nó không chỉ ở chỗ tiêu
diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mà còn ở chỗ nó đập tan âm
mưu chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Qua chiến
dịch này Đảng ta rút ra được nhiều bài học về chỉ đạo chiến tranh. Nhân
dân ta phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Sau chiến thanứg
Việt Bắc, so sánh lực lượng và tình thế cuộc chiến tranh giữa ta và Pháp
đã có sự thay đổi quan trọng. Vào mua thu năm 1950 Đảng chủ trương
mở quân đội ta. Chiến dịch biên giới thắng lớn, đánh dấu sự trưởng
thành một bước mới; chiến tranh chính quy đã xã hội rõ rệt, ta đã giành
được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính - chiến trường
Bắc Bộ. Từ đây trở đi cùng với sự phát triển chiến tranh du kích, quân
đôị ta đã liên tiếp mở chiến dịch chính quy, quy mô ngày càng to, thắng
28
28
lợi ngày càng van chội tiêu biểu và đỉnh cao là chiến cuộc Đông Xuân
1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi lớn nhất trong cuộc đọ sức
toàn diện và quyết liệt nhất của quân dân Việt Nam với quân đội xâm
lược Pháp.
Cùng với chủ trương mở chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 Đảng
và Chính phủ ta quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao.
Đảng ta đã phản ánh đúng quy luật vận động của CM ở từng miền và
chung cả nước trong giai đoạn lịch sử 1954-1975 đồng thời phù hợp với
xu thế phát triển chung của thời đại, nhờ vậy CMVN đã phát huy được
sức mạnh tổng hợp của cả nước và của thời đại để chiến thắng đế quốc
Mỹ xâm lược.
Cuộc đấu tranh cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ,
phải lần lượt đối phó với các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ. Trên
cơ sở đường lối cách mạng chung, biết phân tích đúng âm mưu và hành
động của kẻ thù và so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng thời kỳ
để đưa ra chủ trương chỉ đạo sát hợp đó là bí quyết thành công của Đảng
ta.
Cụ thể thời kỳ 1954-1960 xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và
địch không có lợi cho ta và từ mục tiêu trước mắt của cả nước là đấu
tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ - Đảng thủ trương thực hiện ở
Miền Nam thế giữ gìn lược lượng bằng cách sử dụng hình thức đấu tranh
thích hợp nhằm hạn chế tổn thất và duy trì cho được phong trào cách
mạng. Sau đó Đảng đã lãnh đạo cách mạng Miền Nam chuyển dần sang
thế tiến công đánh bại chiến tranh đơn pưhơng của Đế Quốc Mĩ.
Thời kỳ 1961 - 1965, Đảng đã lãnh đạo thực hiện chủ trương giữ
vững và phát triển thế tiến công, đánh bại "chiến tranh đặc biệt" của Đế
Quốc Mỹ.
Thời kỳ 1965 - 1968 Đảng ta phát động toàn dân chống Mỹ cứu
nước, đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở Miền
Nam.
32
32
Thời kỳ 1969 - 1975: Nhờ sự lãnh đạo của Đảng mà cách mạng
Việt Nam đã đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Đế
Quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn Miền Nam. Với thắng lợi này nhân dân
ta quét sạch bọn Đế Quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị bảo tạn hơn
tiến hành khả năng từng phần ở nông thôn và từ khả năng phát triển
thành chiến tranh cách mạng. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh
chính trị - đấu tranh ngoại giao, kết hợp khả năng của quần chúng với
chiến tranh cách mạng; đánh địch trên cả 3 vùng chiến lược, đánh địch
bằng 3 thứ quân… nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài đồng
thời biết tạo và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược
tiến lên tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quân địch giành thắng lợi cuối
cùng.
Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ đã rõ ràng một khi đường lối
chiến lược cách mạng đúng đắn đi vào thực tiễn của cuộc chiến đấu của
nhân dân, nó, sẽ trở thành phương pháp cách mạng cụ thể, sáng tạo, tạo
nên chiến lược tổng hợp trong chiến tranh nhân dân để thắng mọi kẻ thù.
Vai trò của Đảng còn thể hiện ở việc đoàn kết quốc tế trên cơ sở
nêu cao tinh thần độc lập tự chủ. Thực tế Đảng ta đã tranh thủ được sự
đồng tình ủng hộ giúp đỡ cao nhất của nhân loại tiến bộ, đó là của Liên
Xô Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, trong đó có cả nhân
dân tiến bộ Mỹ ủng hộ Việt Nam chống Đế Quốc Mỹ. Sự giúp đỡ to lớn
và quý báu đó góp một phần không nhỏ vào thắng lợi của kháng chiến
chống Mỹ.
Vai trò của Đảng - nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi cách mạng
còn thể hiện qua công tác xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ của
cuộc kháng chiến. Để có thể biến đường lối thành hiện thực Đảng phải
xây dựng rèn luyện và không ngừng nâng cao trình độ, năng lực tổ chức
chỉ đạo thực tiễn. Trong kháng chiến chống Mỹ với phong cách lãnh đạo
sáng tạo "ba bám" (bám đất, bám dân, bám địch), phát huy tính tiên
phong gương mẫu làm cho Đảng xứng đáng là đội quân tiên phong của
giai cấp, của toàn thể dân tộc tạo nên sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với
36
36
dân. Đó chính là nền tảng sức mạnh của Đảng trong quá trình lãnh đạo
cần khắc phục sửa chữa. Những sai lầm thiếu sót đó là những bài học đã
được trả giá cho sự trưởng thành và dày dặn kinh nghiệm của Đảng trong
giai đoạn phát triển tiếp theo của cách mạng nước ta.
Trong tùy thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong
cả nước và quá trình tìm tòi con đường đổi mới đất nước (1975 - 1986)
dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã thu được một số thành tựu
đáng kể. Dưới chính sách của Nghị quyết Trung ương 24 của Đảng với
quan điểm đắn đắn: quan điểm cả nước, quan điểm thống nhất nước nhà,
quan điểm tạo sức mạnh tổng hợp của cả nước để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Đất nước ta đã nhanh chóng thống nhất về mặt Nhà nước. Thiết
lập được hệ thống chuyên chnhs vô sản trên phạm vi cả nước. Từ đó tạo
ra sức mạnh chung, giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ
quốc. Đồng thời thu được một số thành tựu đáng kể trên mặt trận kinh tế
- văn hóa.
Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã trải qua
nhiều năm tháng vừa làm, vừa tìm tòi - quá trình đó thực tế không tránh
khỏi những thiếu sót, sai lầm nhưng nhờ đó Đảng ta ngày càng có quan
40
40
niệm đúng đắn và đầy đủ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Từ 1986 đến nay vai trò tiên phong của Đảng là lãnh đạo công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước theo đường lối đổi mới của
Đảng:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đánh
dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Đại hội đánh giá tình hình, tổng kết một bước công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đặc biệt là
về kinh tế.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991)
thời cửa quyền làm cho Đảng xa dời quần chúng và làm suy yếu Nhà
nước xã hội chủ nghĩa là một nguy cơ lớn mà Đảng cầm quyền cần phải
tránh. Biện pháp có hiệu lực để thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với
quần chúng là tổ chức cho quần chúng trực tiếp tham gia xây dựng Đảng.
- Đảng biết nắm vững và vận dụng sáng tạo cách mạng Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra đường lói chủ trương độc lập tự chủ,
đúng đanư.s Cách mạng là sáng tạo, chân lý cụ thể. Quán triệt quan điểm
đó Đảng luôn luôn có ý thức vận dụng một cách độc lập và sáng tạo Mác
- Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, có ý thức kế thừa di sản tư
tưởng Hồ Chí Minh, sản phẩm trí tuệ vào việc kết hợp nhuần nhuyễn
giữa chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn đất nước và tinh hoa truyền
thống dân tộc, chú trọng kết hợp hài hòa lợi ích cách mạng nước ta với
lợi ích cách mạng thế giới, học tập có phê phán kinh nghiệm của phong
trào cộng sản quốc tế. Nhờ đó mà Đảng đề ra được nhiều đường lối chủ
trương và chính sách sát hợp, cho phép giải quyết đúng đắn các vấn đề
do thực tiễn cách mạng đề ra.
44
44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nhà xuất bản thanh niên Hà Nội – 1985
2. Giáo trình “ Lịch Sử Đảng cộng sản Việt Nam “ – Nhà xuất bản giáo dục
3. Tài liệu học tập chính trị – nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
4. Tạp chí cộng sản
5. Website www.dangcongsan.com.vn
46
46