PHẦNMỞĐẦU
Lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ vai trò, sức mạnh của quần
chúng nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử - động lực của các cuộc
cách mạng, tuy nhiên sức mạnh của quần chúng chỉ có thể phất huy đầy
đủ, đúng đắn khi có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính.
Chính trên ý nghĩa đóáp dụng vào thực tế cách mạng Việt Nam: muốn
làm cách mạng thì "Trước hết phải cóĐảng cách mệnh, để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bịáp bức và
giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng
như người cầm lái có vững thuyền mới chạy"
Luận điểm nêu trên của Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng đó không phải là
tổng số quần chúng gộp lại một cách cơ học mà là khối đại đoàn kết toàn
dân được giáo dục được giác ngộ, có tổ chức được dẫn dắt bởi đường lối
đúng đắn của một chính Đảng vô sản.
Đảng cộng sản có trách nhiệm như "người cầm lái", người dẫn
đường: Đảng có trách nhiệm hoạch định đường lối đúng đắn vàđưa
đường lối đó vào quần chúng để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân
đứng lên đấu tranh thực hiện giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nhất đảm bảo
thắng lợi của cách mạng.
Đề tài:
SỰLÃNHĐẠO - NHÂNTỐCHỦYẾUQUYẾTĐỊNH
MỌITHẮNGLỢICỦACÁCHMẠNG VIỆT NAM
1
PHẦNNỘIDUNG
Nhìn lại lịch sửđấu tranh cách mạng gần 70 năm qua trên đất nước
ta Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn đứng ở vị trí trung tâm của các sự
kiện lịch sử vĩđại, của các biến đổi cách mạng sâu sắc. Thấy rõđường lối
cách mạng đúng đắn của Đảng là nguyên nhân quyết định nhất đưa nhân
dân ta vượt qua mọi gian nguy, thử thách để không ngừng trưởng thành
của giai cấp công nhân.
Ngay từ khi mới ra đời Đảng đã tổ chức và lãnh đạo đựoc một
phong trào quần chúng lớn mạnh xưa nay chưa từng có - cao trào cách
mạng 1930-1931- cuộc Tổng diễn tập đầu tiên, đưa ra nhiều kinh nghiện
quý báu. Ảnh hưởng của Xô Viết Nghệ Tĩnh vang dội cả trong nước vàở
nước ngoài. Qua cao trào đó, Hội nghị lần thứ 11(4/1931) của ban chấp
hành Quốc tế cộng sản đãđánh giá cao đường lối đúng đắn lãnh đạo cách
mạng của Đảng ta, quyết định công nhận Đảng cộng sản Đông Dương là
phân bốđộc lập của Quốc tế cộng sản.
Cao trào Cách mạng 1930 - 1931 khẳng định đường lối Cách mạng
Việt Nam do Đảng ta đề ra làđúng đắn. Nóđem lại cho nhân dân niềm tin
vững chắc vào con đường giải phóng giai cấp, giải phóng đấu tranh do
Đảng ta lãnh đạo; làm cho họ thấy rõ con đường cứu nước duy nhất đúng
ở Việt Nam là con đường Cách mạng theo chủ nghĩa Mac-Lênin làđộc
lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
Cao trào cách mạng 1930-1931 đã thực hiện được quyền lãnh đạo
trọn vẹn của giai cấp công nhân đối với cách mạng Dân tộc dân chủ, đã
khẳng định trong thực tế bản chất cách mạng những năng lực lãnh đạo
của giai cấp công nhân màĐảng cộng sản làđại biểu. Nó chứng tỏĐảng
cộng sản mởi ra đời nhưng đã gây được lòng tin trong quần chúng lao
động, xứng đáng là bộ tham mưu của giai cấp công nhân, là người lãnh
đạo dân tộc Việt Nam làm cách mạng.
3
Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam qua cao trào 1930-1931 còn
thể hiện ở việc đã thực hiện được khối liên minh công nông ở Việt Nam.
Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hàng chục vạn công
nhân và nông dân bịáp bức, bóc lột trong cả nước liên minh chặt chẽ
dưới sự lãnh đạo của Đảng vùng dậy đấu tranh chống ách thống trị của
đế quốc phong kiến. Với những thành quả lớn ấy của cao trào cách mạng
1930-1931 màđỉnh cao của nó là Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Đảng ta đã chuẩn
Năm 1939 chiến tranh thế giới II bùng nổ chi phối đời sống kinh tế
chính trị, xã hội của tất cả các nước. Đảng cách mạng phải biết lợi dụng
kẻđịch tự làm suy yếu lẫn nhau trong chiến tranh đểđưa phong trào cách
mạng tiến lên từng bước vững chắc. Thực tế khi Nhật - Pháp bắn nhau
(9/3/1945) Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp đểđánh giá tình hình
vàđề ra chủ trương mới cho phù hợp. Phát động và lãnh đạo đấu tranh
du kích cục bộ khởi nghĩa từng phần và giành chính quyền bộ phận ở
nông thôn, lập uỷ ban dân tộc áp bức Việt Nam (tức chính phủ lâm thời
Việt Nam) là một nét điển hình và sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo và
tổ chức lực lượng tiến lên Tổng khởi nghĩa vũ trang ở một nước thuộc
địa trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đến giữa tháng 8 - 1945 cách mạng đã
có những ưu thế lực lượng rộng rãi ở cả nông thôn vàđô thị, quần chúng
nô nức tự vũ trang và hừng hực khí thế tiến lên Tổng khởi nghĩa Chính
phủ Nhật đãđầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh vôđiều kiện. Quân
Nhật ởĐông Dương bị tê liệt hoàn toàn. Chính phủ tay sai Trần Trọng
Kim hoang mang cực độ. Như vậy tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất
hiện. Thông qua hội nghị toàn quốc của Đảng vàđại hội đại biểu quốc
dân họp ở Tân Trào (tháng 8/1945) Đảng ta chỉ rõ: Thời cơ ngàn năm có
một cho ta giành lấy chính quyền đãđến. Sự lãnh đạo của Đảng rất kiên
quyết, kịp thời không do dự, lưng chừng để không bỏ mất thời cơ. Từ
khởi nghĩa từng phần giành chính quyền cục bộĐảng đã bắt mạch đúng
thời cơ, nhanh chóng chuyển sang phát động quần chúng tiến hành tổng
khởi nghĩa. Đảng đã huy động lực lượng toàn dân, sức mạnh của cả dân
5
tộc đứng dậy tự mình góp phần cho mình. Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi
dậy đồng loạt cảở nông thôn vàđô thị . Khởi nghĩa ở 3 đô thị lớn Hà Nội
- Huế - Sài gòn vàở các thành phố quan trọng khác giữ vai trò quyết định
đối với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa. Trong tình thế khẩn cấp của
những ngày tháng 8 lịch sử, Đảng đã huy động toàn lực lượng ở các đô
thị và nông thôn, giành lấy chính quyền và tại nơi đầu não của địch là Hà
Nam.
Với khẩu hiệu"Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", "Thà hy sinh
tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ" Từ sau ngày cách mạng tháng 8 thắng lợi Đảng ta đã lãnh đạo thực
hiện đoàn kết dân tộc, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
(1945 - 1946) Vào thời điểm này nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bị
các nước Đế quốc và các thế lực phản động quốc tế và trong nước liên
kết với nhau bao vây và chống phá quyết liệt. Trong lúc đó, lực lượng
mọi mặt của Nhà nước mới còn rất non yếu. Đất nước bị bao vây bốn
phía chính quyền cách mạng ở vào một tình thế như :"Ngàn cân treo sợi
tóc". Đảng ta do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã thực hiện chính sách
đại đoàn kết dân tộc, dùng sách lược đấu tranh linh hoạt và khôn khéo
với địch, từng bước vượt qua mọi hiểm nguy chủđộng trước mọi tình
thếđể giữ vững chính quyền, đưa cách mạng tiến lên. Đảng ta chỉđạo khó
khăn đối nội là chủ yếu, bức thiết trước mắt cần giải quyết ngay, khó
khăn đối ngoại là cơ bản phải giải quyết lâu dài. Trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ cách mạng, đầu tiên Đảng ta đã thực hiện củng cố chính
quyền dân chủ nhân dân, xây dựng chếđộ mới. Đảng coi vấn đề có trước
quyết định để bảo vệ và xây dựng chính quyền là dựa chắc vào nhân dân
lấy khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đao làm nền
tảng. Chỉ một tuần lễ sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời, chính phủ cách mạng lâm thời công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả
nước và ngày 6/1/1946 toàn thể nhân dân phấn khởi , nô nức đi bỏ phiếu
bầu Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất và sau đó bầu Hội đồng nhân
dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Về quốc phòng, Đảng
7
coi trọng việc xây dựng va phát triển các công cụ, bạo lực của Cách
mạng như quân đội công an đó là công cụ chuyên chính sắc bén để bảo
vệ Nhà nước cách mạng và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp.