VÀI ĐIỀU CƠ BẢN VỀ ĐIỆN TÂM ĐỒ
I – NHẮC QUA GIẢI PHẪU SINH LÝ
Trái tim có thể đập nhịp nhàng là do một cơ quan tự động, đồng thời chịu sự chi
phối của hệ giao cảm, phó giao cảm. Tim co bóp được là nhờ một xung động ở nút
xoang trong tâm nhĩ phải, gần chỗ tĩnh mạch chủ trên. Khi xung động lan toả trong
tâm nhĩ sẽ làm tâm nhĩ bóp. Luồng xung động truyền đến nút Tawara (cũng trong
tâm nhĩ phải trân van ba lá) rồi tới bó hít và mạng Purkinje ở hai tâm thất làm
chúng co bóp.
Bình thường xung động đầu tiên xuất phát ở nút xoang nên nhịp tim gọi là nhịp
xoang. Trường hợp bệnh lý, xung động có thể phát ra từ nút Tawara (nhịp nút)
hay ở mạng Purkinje (nhịp thất).
II – NGUYÊN LÝ ĐIỆN TÂM ĐỒ
Cơ tim ví như một tế bào, lúc nghỉ: các Ion dương ở ngoài màng tế bào còn các
Ion âm bị giữ ở trong màng để cân bằng lực hút tĩnh điện; một tế bào như thế gọi
là có cực.
Khi cơ tim bị kích thích sẽ xuất hiện sự khử cực trong đó các ion âm khuyếch tán
ra ngoài màng, còn các ion dương khuyếch tán vào trong màng.
Tiếp theo các hiện tượng khử cực, lại đến sự tái cực cho điện dương xuất hiện trở
lại ngoài mặt tế bào, điện âm ở mặt trong như lúc đầu (Hình 13)
Hai hiện tượng khử cực và tái cựa đều xuất hiện trong thì tâm thu, còn trong kỳ
tâm trương, cơ tim ở trong trạng thái có cực như đã nói trên.
Nếu dùng một điện kế để thu những hiện tượng trên, ta có một đường biểu diễn
gọi là điện tâm đồ. Đường này gồm:
- Một đường đẳng điện ứng với hiện tượng có cực.
- Đoạn PQ gồm thời gian khử cực nhĩ và truyền xung động từ nhĩ tới thất.
- Phức bộ QS: khử cực của tâmthất .
- Đoạn ST: thời kỳ khử cực hoàn toàn của thất.
- Sóng T: Tái cực của tâm thất.
III – KỸ THUẬT MẮC CÁC CHUYỂN ĐẠO ĐỂ GHI ĐIỆN TIM
V5.
IV- KẾT QUẢ ĐIỆN TÂM ĐỒ BÌNH THƯỜNG Ở CÁC CHUYỂN ĐẠO
MẪU (1).
A- CÁC ĐƠN VỊ ĐO THỜI GIAN VÀ LIÊN ĐỘ SÓNG
Thời gian giữa hai dòng kẻ, tuỳ máy, có máy hai dòng kẻ nhỏ cách nhau 4% giây,
có máy 2% giây, chiều cao 1mm bằng 1/10 milivôn.
Một hình tứ giác cạnh 0,04 giây và 1/10 Mv gọi là một vị atsman.
1. Sóng P: ứng với thời gian xung động từ nút xoang ra nhĩ (hiện tượng khử
cực của nhĩ) (hình 15).
Trung bình biên độ từ 1 đến 3mm. Thời gian dài 0,08 giây.
2. Khoảng PQ (hay PR nếu không có sóng Q): biểu hiện của cả thời gian khử
cực nhĩ với truyền xung động từ nhĩ xuống thất, trên điện tâm đồ là từ bắt đầu
sóng P đến đầu sóng Q (hay đầu sóng R khi không có Q).
Trung bình dài từ 0,12 đến 0,18 giây của người lớn.
3. Phức bộ QS hay sóng nhanh QR: đó là hoạt động điện của hai thất. Thời
gian trung bình 0,08 giây qua 0,12 giây là bệnh lý).
Biên độ QRS thay đổi khi cao, khi thấp, tuỳ theo tư thế tim.
4. Đoạn ST: ứng với thời kỳ tâm thất được kích thích đồng nhất, thời kỳ khử
cực hoàn toàn của thất.
5. Sóng T: Ứng với thời kỳ tái cực thất, bình thường dài 0,2 giây.
6. Đoạn QT: thời gian tâm thu điện học của thất, trung bình 0,35 đến 0,40
giây, đo từ đầu sóng Q đến cuối sóng.
7. Trục điện tim: Đó là chiều lan toả của xung động ở một thời gian nhất
định. Với phương pháp dùng vectơ, người ta có vẽ được ba trục điện của sóng P,
QRS và T, nhưng vì khử cực thất là quá trình điện học chủ yếu của tim nên trục
QRS còn được gọi là trục điện tim.
Cách xác định trục điện tim: ta biết rằng chiều cao một sóng ở mỗi chuyển đạo
bằng hình chiếu của vectơ điện tim trên chuyển đạo ấy, cho nên muốn xác định
trục điện tim, người ta dùng phương pháp hình chiếu như sau:
C- CÁC RỐI LOẠN DAN TRUYỀN TRONG TIM
Ví dụ: tắc dẫn truyền nhĩ thất, PQ dài quá 21% giây hoặc R không theo liền sau P.
Tắc dẫn truyền bó His: QRS dài,bằng hoặc quá 12% giây.
D- CÁC TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU CƠ TIM, NHỒI MÁU DO TẮC
ĐỘNG MẠCH VÀNH.
Ởđây điện tâm đồ cũng có vai trò chủ yếu không thể thiếu được, ví dụ trong thiếu
máu cơ tim thì:
Ởcác chuyển đạo mẫu và trước tim: ST hạ xuống, T cao nhọn, đối xứng, trong
thiếu máu dưới thượng tâm mạc. Trong nhồi máu cơ tim cấp: Q rộng và sâu, ST
chênh lên, T âm, D2: ST chênh xuống, T dương.
VI – TÁC DỤNG CỦA ĐIỆN TÂM ĐỒ
Điện tâm đồ là một phương tiện giúp ích cho chẩn đoán các bệnh có gây ra các
biến đổi của cơ tim. Điện tâm đồ không phải là vạn năng, vì vậy bao giờ cũng
dựa vào tập hợp các phương pháp lâm sàng, X quang, điện tâm đồ với các cách
thăm dò đã trình bày ở các chương trước.