199
Các phương pháp thành lập bản đồ địa lý chung được phân ra:
+ Theo tỷ lệ bản gốc biên vẽ, bản đồ được in.
+ Theo phương pháp đưa hình ảnh từ bản đồ tư liệu lên bản gốc.
+ Theo thứ tự thực hiện công việc.
Phương pháp cơ bản đưa hình ảnh từ bản đồ tư liệu lên bản gốc là
phương pháp cơ ảnh.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp phải chuyển đổi phép chiếu và thỉnh
thoảng để chuyển hình ảnh từ bản đồ tư liệu lên bản gốc người ta dùng phương
pháp theo lưới ô vuông.
Khi thành lập thường lập bản gốc các đối tượng: yếu tố nét, vờn bóng địa
hình, ghi chú chú giải và các makét các yếu tố nền. Khi đó, người ta thường
dùng các nguyên liệu: bản nhựa trong (điamát) để có thể tách thành lập và dùng
phương pháp phối kết hợp đảm bảo hiệu quả của sơ đồ công nghệ và nâng cao
chất lượng công việc. Khi sử dụng các tư liệu bản đồ khác nhau có tỷ lệ lớn
hơn, công việc thành lập bản đồ có thể tiến hành ở tỷ lệ của bản đồ tư liệu và
đồng thời tổng quát hoá hình vẽ luôn. Đặc biệt là đối với địa hình và thuỷ hệ,
khi đó tiến hành lựa chọn chi tiết các dạng điển hình, đặc trưng.
Trước khi thành lập người thực hiện phải nghiên cứu kỹ vùng lãnh thổ
thể hiện, đặc điểm địa lý của nó, các tư liệu bản đồ và các tài liệu biên tập. Khi
thành lập từng yếu tố, từng đối tượng cần tính đến mối liên hệ của nó với các
đối tượng khác.
Khi chuẩn bị in, người ta áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, sơ đồ
công nghệ chuẩn bị bản gốc thanh vẽ khác nhau (trên giấy, trên điamát, màng
khắc, ). Ứng dụng các công nghệ hiện đại có thể đồng thời thành lập ra bản
gốc biên vẽ, bản gốc thanh vẽ hay bỏ qua giai đoạn thanh vẽ (đặc biệt là đối với
công nghệ bản đồ số).
6.7. Thiết kế biên tập và thành lập bản đồ chuyên đề
200
Ý nghĩa chính của BĐCĐ là đảm bảo cung cấp cho người sử dụng các
thông tin chuyên đề về môi trường tự nhiên và các đối tượng kinh tế xã hội
để giải quyết các nhiệm vụ khoa học hay kinh tế quốc dân, hay để truyền đạt
các hiểu biết về thế giới quanh ta.
Trên bản đồ chuyên đề cần biểu thị mức độ kiến thức hiện đại về các
đối tượng, hiện tượng tương ứng với các ngành khoa học.
Mức độ đầy đủ, chi tiết nội dung bản đồ cần tương ứng với tỷ lệ và mục
đích bản đồ.
Sự phát triển và tiến bộ không ngừng của bản đồ học chuyên đề đảm bảo
điều kiện tối ưu giải quyết các nhiệm vụ chuyên ngành. Từ đó cũng xuất hiện
các thuật ngữ mới: BĐCĐ chuyên ngành.
Sự đa dạng phong phú của BĐCĐ là điều kiện để phân loại và xác định
các dạng, loại BĐCĐ. Khi thiết kế BĐCĐ cần xem xét đến mối liên hệ của
chúng với các bản đồ địa lý chung.
BĐCĐ có thể phân loại như sau:
- Theo nội dung (đề tài).
- Theo các phương pháp thể hiện.
- Theo mục đích sử dụng.
- Theo tỷ lệ và vùng lãnh thổ bản đồ thể hiện.
Theo nội dung, BĐCĐ được chia nhóm: theo các yếu tố môi trường tự
nhiên và các hiện tượng kinh tế, xã hội; theo khoa học mà chúng được dùng để
nghiên cứu.
Theo phương pháp thể hiện, trên bản đồ chuyên đề có thể dùng các
phương pháp thể hiện khác nhau: đường đẳng trị, nền chất lượng, nền đồ giải
Theo các chỉ số, đặc trưng chất lượng, số lượng của đối tượng, hiện tượng,
chúng biểu thị nhiều mặt của đối tượng hiện tượng cần nghiên cứu: cấu trúc
202
hiện tượng, phân bố đối tượng, mối liên quan của chúng, động thái của
chúng,
Xác định đề tài và mục đích bản đồ được thực hiện để đáp ứng yêu cầu
sử dụng của các ngành cụ thể nền kinh tế quốc dân, khoa học và văn hoá.
Lựa chọn đề tài là đặt ra, xác định tập hợp các đối tượng, hiện tượng cần
thể hiện trên bản đồ và ý tưởng, ý nghĩa của hình ảnh bản đồ. Công việc này
liên quan chặt chẽ với xác định kiểu, loại bản đồ và mục đích bản đồ để từ đó
xác định tên gọi của bản đồ.
Nguyên tắc hệ thống trong bản đồ học chuyên đề cho phép xác định vị trí
của bản đồ trong tập bản đồ hay sêri bản đồ.
Mục đích của bản đồ để xác định đặc điểm và lĩnh vực sử dụng bản đồ,
yêu cầu về độ chính xác và các phương tiện biểu thị.
Đề tài của bản đồ phụ, đồ thị, biểu đồ, các khái niệm khác về bản đồ, sơ
đồ bố cục bản đồ,
Thiết kế cơ sở toán học cho bản đồ là lựa chọn cho nó phép chiếu bản đồ,
tỷ lệ và bố cục bản đồ,
Phép chiếu bản đồ được chọn tương ứng với mục đích, nội dung, đặc
điểm địa lý vùng lãnh thổ. Thông thường người ta chọn phép chiếu bản đồ
trong số các phép chiếu có sẵn. Tốt nhất là sử dụng được các phép chiếu của
bản đồ địa lý chung hay bản đồ địa hình tư liệu. Khi đó chỉ còn soạn thảo bố
cục BĐCĐ theo sự phân chia hành chính, lãnh thổ, theo phân vùng địa lý tự
nhiên hay kinh tế - xã hội.
Trên bố cục BĐCĐ còn phải chú ý bố trí cho các bảng biểu, đồ thị, tranh
ảnh,
Trong sản xuất bản đồ khi soạn thảo bố cục bản đồ cũng đồng thời xác
định luôn kích thước của bản đồ có tính đến khả năng công nghệ in ấn xuất bản
và các thông số kinh tế - kỹ thuật.
204
Xác định các yếu tố nội dung BĐCĐ là một trong các giai đoạn chính của thiết
kế BĐCĐ. Để giải quyết vấn đề này người ta đặt ra 3 nhiệm vụ liên quan với nhau:
1- Xác định nguyên tắc biểu thị thống nhất từ chung đến riêng. Đặt ra các nhân
quan trọng trong thành lập BĐCĐ. Trên các bản đồ này, chúng ta bắt gặp tất cả
các phương pháp cơ bản thể hiện bản đồ và dạng biến điệu, kết hợp giữa chúng.
Lựa chọn và áp dụng cách biểu thị các đối tượng, hiện tượng nghĩa là:
- Đặt ra nguyên tắc mô hình hoá toán học cấu trúc không gian – lãnh thổ
các đối tượng và các yếu tố của nó cũng như cụ thể hoá, chi tiết hoá các thông
tin địa hình, định vị.
- Chọn dạng hệ thống ký hiệu để thể hiện các thông tin chất lượng và
một số đặc tính không gian, xác định các thông số của ký hiệu và truyền đạt
chúng trong các yếu tố cấu trúc để tương ứng với thông tin.
- Xác định nguyên tắc kết hợp trong biểu thị các đối tượng, hiện tượng
của các yếu tố cấu trúc thành phần (số lượng và chất lượng).
Soạn thảo thiết kế bản chú giải BĐCĐ được thực hiện trong toàn bộ quá
trình chuẩn bị biên tập.
Bước đầu tiên của sơ thảo, phác thảo bảng chú giải là nhóm các đối
tượng và phân loại chúng, soạn thảo hệ thống ký hiệu đồng thời với việc lựa
chọn phương pháp biểu thị cho bản đồ. Khi kết thúc thiết kế phải bố trí, sắp xếp
nó trong khung, trên diện tích của bản đồ. Bảng chú giải được dùng khi sử dụng
bản đồ. Bảng chú giải cũng có thể được soạn thảo như một tài liệu cho quá
trình thành lập bản đồ.
Bảng chú giải được sử dụng khi thiết kế nội dung bản đồ, bản thân nó là
kết quả của quá trình thiết kế nó. Bảng chú giải dùng để đọc và phân tích
BĐCĐ. Bảng ký hiệu quy ước là tài liệu đồ hoạ bắt buộc phải có trong thiết kế
kỹ thuật bản đồ.
Khi soạn thảo bảng chú giải, mẫu tổng quát hoá, trích mảnh bản đồ đồng
thời người ta cũng thiết kế trình bày bản đồ, đặt ra các quyết định có tính nguyên
206
tắc với bản đồ. Còn phần thực hiện trình bày bản đồ có thể được hoàn thiện ở giai
đoạn sản xuất sau. Nhưng ở đây cũng vẫn phải tiến hành các thử nghiệm để chọn
ra phương án tối ưu về thể hiện đường nét và màu sắc trong trình bày bản đồ.
lại và yêu cầu cung cấp các tư liệu khác cho thành lập BĐCĐ.
Cơ quan bản đồ có thể đặt hàng, yêu cầu với các cơ quan hữu quan và bộ
phận cung cấp tư liệu để thực hiện các công việc sau:
- Tiếp nhận các bản gốc nội dung chuyên đề thể hiện chính xác vị trí
không gian của đối tượng và được thành lập bằng hệ thống ký hiệu đã xác định
nhưng có thể khác các thông số cần cho bản đồ mới (phép chiếu, kích thước ký
hiệu, ).
- Tiếp nhận các xử lý sơ bộ các bản gốc nội dung chuyên đề.
Việc lựa chọn sơ đồ công nghệ thực hiện các công việc dựa trên cơ sở
xác định chỉ dẫn thành lập đã nêu trên (thành lập bản gốc tách hay tổng hợp, sử
dụng các bản gốc nội dung chuyên đề đã xử lý hay chỉ dùng các makét, sơ đồ).
Chuẩn bị in và in BĐCĐ thông thường được thực hiện theo sơ đồ công
nghệ. Theo khả năng có thể chuẩn bị bản gốc thanh vẽ trên điamát, trên màng
khắc hay dựa trên kết quả thành lập bản đồ số trên máy tính điện tử.
Đặc điểm của thành lập BĐCĐ là áp dụng, sử dụng một số lượng màu
lớn trong thành lập, chuẩn bị in và in bản đồ, do đó cần nhiều bản gốc thanh vẽ,
các phụ lục kèm theo và công việc in càng phức tạp khi nội dung BĐCĐ phức
tạp, phong phú.
6.7.3. Đặc điểm thiết kế và thành lập bản đồ chuyên đề bằng tư liệu ảnh vệ tinh
Vào những thập kỷ 70, công việc thăm dò và nghiên cứu vũ trụ đã có
những bước tiến nhảy vọt. Các kết quả của nó đã được áp dụng vào các lĩnh
vực khác nhau trong khoa học, kinh tế sản xuất và quốc phòng.
208
Trong khoa học trắc địa - bản đồ, các ảnh vũ trụ, ảnh vệ tinh ngày càng
có nhiều ứng dụng trong nghiên cứu khoa học và thực tế sản xuất bản đồ.
Sử dụng ảnh vũ trụ trong sản xuất và hiệu chỉnh bản đồ là một trong những
phương hướng phát triển mới của bản đồ học. Nó được phát triển toàn diện cùng
với những thành tựu của khoa học điện tử, viễn thông, điều khiển học,
Hiện nay, ảnh vũ trụ có thể nhận được từ 2 hệ thống khác nhau:
- Xác định hệ thống toạ độ.
- Xử lý ảnh để chất lượng ảnh tốt hơn bằng các thiết bị chuyên dụng và
các công nghệ ảnh số.
- Biến đổi các hình ảnh nửa tông sang dạng đường nét.
- Soạn thảo các phương pháp điều vẽ, đoán đọc ảnh để nhận được khối
lượng thông tin lớn nhất từ ảnh.
Các phương pháp sử dụng và biến đổi ảnh vũ trụ:
Các ảnh vũ trụ có thể được sử dụng ở dạng bình đồ ảnh, sơ đồ ảnh
bằng cách xử lý chúng trên các máy đo vẽ ảnh.
Theo ảnh vũ trụ, người ta nhận biết các đối tượng và xác định toạ độ
của chúng, chuyển chúng lên hình ảnh bản đồ.
Xác định tọa độ của các đối tượng đã nhận biết bằng phương pháp
phân tích, đồ hoạ, phân tích đồ hoạ. Nó có thể xảy ra 2 trường hợp:
- Các yếu tố định hướng của ảnh dễ nhận biết hoặc đã được xác định
trước.
- Không có các yếu tố định hướng.
Dùng công thức biến đổi xác định toạ độ các điểm định hướng từ toạ độ
của các điểm khống chế cho trước. Trên mỗi tấm ảnh ít nhất người ta cũng phải
xác định được 3 – 4 điểm khống chế, định hướng.
Sau khi có các điểm khống chế, định hướng trên các ảnh vũ trụ người ta
tiến hành nắn ảnh.
210
Nắn ảnh là biến đồi hình ảnh trên ảnh vũ trụ lên phép chiếu bản đồ đã
chọn. Công việc nắn ảnh được tiến hành trên các thiết bị chuyên dụng, máy tính
điện tử và các phần mềm chuyên dụng.
Công việc nắn ảnh hoàn thành, dựa theo các phương pháp điều vẽ, đoán
đọc ảnh để người ta chính xác hoá và chuyển đổi hình ảnh từ ảnh vũ trụ sang
hình ảnh bản đồ.
Nói chung, công việc sử dụng ảnh vũ trụ để đo vẽ và làm ảnh bản đồ là
tích, góc và từ đó tính toán được chỉ số hình thái và cấu trúc của các đối tượng
và hiện tượng.
Các phương pháp đồ giải giải tích bao gồm các phương pháp đo đạc bản
đồ và các phương pháp đo đạc hình thái.
4. Các phương pháp lập mô hình bản đồ toán
Đó là những phương pháp dựng và phân tích các mô hình toán học dựa
theo các số liệu thu nhận được từ bản đồ và lập ra các bản đồ dẫn xuất mới trên
cơ sở mô hình toán học đó.
Trong thực tế, các phương pháp nói trên thường được sử dụng kết hợp,
ví dụ: sự phân tích có thể được bắt đầu bằng mô tả hiện tượng theo bản đồ, tiếp
theo tiến hành đo đạc trên bản đồ và kết thúc ở việc lập mô hình bản đồ toán.
Theo mức độ cơ giới hoá và tự động hoá, các phương pháp sử dụng bản
đồ được phân ra thành 4 nhóm sau:
1/ Phân tích trực quan
Bao gồm đọc bản đồ, so sánh trực quan và đánh giá trực quan các đối
tượng.
2/ Phân tích bằng dụng cụ
Đó là việc sử dụng các dụng cụ đo và các trang bị cơ học (compa đo, các
ô lưới, máy đo diện tích…) trong sử dụng bản đồ.
212
3/ Các phương pháp nửa tự động
Đó là việc ứng dụng máy tính điện tử và các thiết bị tự động để thu nhận,
tính toán, phân tích các số liệu từ bản đồ có sự kết hợp với phân tích trực quan
và phân tích bằng dụng cụ thông thường.
4/ Tự động hoá nghiên cứu bản đồ
Đó là việc tự động hoá hoàn toàn quá trình sử dụng bản đồ.
7.3. Xác định một số chỉ tiêu hình thái
Đo đạc hình thái là một phần của hình thái học mà nội dung chủ yếu của
nó là nghiên cứu các đặc trưng số lượng của dáng đất.
2
km
km
P
l
D
Trong đó: l- tổng độ dài của các đường cắt xẻ
P- diện tích của khu vực
Đối với bề mặt dáng đất, các đường phân thuỷ và các đường thuỷ chính
là các đường cắt xẻ.
Chỉ số cắt sẻ ngang được tính theo từng vùng tự nhiên, theo các lưu vực
sông hoặc theo ô lưới.
Trong nhiều trường hợp người ta tính riêng mật độ của lưới sông ngòi:
l
P
K
hay
P
l
K
'
Trong đó: P- diện tích của khu vực.
l
Trong đó: - (
s
) là tổng độ dài của các đường bình độ trong khu vực.
- h là khoảng cao đều.
- P là diện tích của khu vực.
4. Độ cong của các đường cong
214
Trong nhiều trường hợp, người ta dựa trên bản đồ để nghiên cứu độ cong
của các yếu tố đường nét (ví dụ như sông ngòi, bờ biển). Để xác định độ cong
thì có thể dùng ba loại chỉ số sau đây:
a. Độ cong tương đối:
Đó là tỉ số giữa độ dài (l) của đường cong và độ dài (s) của đường bao
đều đặn (hình 7.1).
b. Độ cong của hình dạng chung:
Đó là tỉ số giữa độ dài (s) của đường bao và độ dài (d) của đoạn thẳng
nối điểm đầu và điểm cuối của đường cong:
d
s
n
i
iL
mLm
1
2
Trong đó:
2
i
mL
là các sai số thành phần
n- là số các sai số
Các sai số thành phần là các sai số nảy sinh ra trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình sản xuất bản đồ, kể từ giai đoạn đo khống chế cho tới khi in
xong bản đồ. Ngoài ra còn bao gồm sai số do sự co giãn của giấy.
Tương tự như vậy ta có công thức tính sai số độ cao là:
n
i
iH
mHm
1
2
n
i
1
2
;
Ti
Aai
Trong đó: - A
T
: Trị số thực của đại lượng cần đo
- a
i
: Kết quả một lần đo
Khi đó sai số quân phương trung bình của kết quả một loạt các trị đo sẽ
là:
n
i
i
n
n
m
i
i
Tbii
Aa
Trong đó: - A
Tb
là trị số trung bình của n kết quả đo
Trong thực tế sử dụng bản đồ thì thường lấy sai số giới hạn là: mg 3
217
TÀI LIỆU THAM KHẢO