Đánh giá hiện trạng chất thải rắn thị xã Đồng Xoài - Pdf 19

CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Xã hội phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của con người, song
cũng dẫn tới những vấn đề nan giải như gây ra sự ô nhiễm môi trường ngày càng
tăng cao. Lượng rác thải thải ra từ sinh hoạt cũng như các hoạt động sản xuất của
con người ngày càng nhiều, và mức độ gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm
trọng ở nhiều vùng khác nhau.
Thị xã Đồng Xoài được thành lập theo nghị định 90/NĐ-CB ngày 01/09/1999 và
chính thức đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 2000. Thị xã Đồng Xoài là thủ phủ
của tỉnh Bình Phước và là một trong những vùng phát triển kinh tế trọng điểm của
tỉnh Bình Phước. Nằm ở phía Nam của Bình Phước, với diện tích là 169,6 km² và
dân số là 69.305 người (năm 2008), thị xã Đồng Xoài đang trên đà phát triển mạnh
về kinh tế và xã hội. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế
xã hội của tỉnh đang có những bước phát triển nhanh chóng, đời sống nhân dân
không ngừng được nâng cao, đồng thời các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
tăng lên rất nhiều lần trong những năm gần đây. Do đó, lượng chất thải rắn và chất
thải rắn nguy hại thải ra môi trường ngày càng nhiều, ô nhiễm môi trường do chất
thải rắn và chất thải rắn nguy hại đã trở thành mối quan tâm chung của công tác
quản lý và cộng đồng dân cư. đặc biệt ở những vùng thành thị.
Trước tình trạng môi trường ở địa phương ngày càng ô nhiễm, tôi quyết định
thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn thị xã
Đồng Xoài tỉnh Bình Phước và đề xuất giải pháp” để tìm hiểu sâu hơn về công
tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương, làm cơ sở cho việc đề xuất các
phương án quản lý và xử lý chất thải rắn phù hợp với địa phương mình.
Đề tài được thực hiện với sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Đức Cửu-Phó Chi
Cục Trưởng, Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
1
Bình Phước và Th.S Dương Đức Hiếu - Viện Sinh học nhiệt đới, thành phố Hồ
Chí Minh.
1.2. Mục tiêu của đề tài

- Tham khảo và thu thập tài liệu từ sách báo của nhiều tác giả. Tìm kiếm
thêm thông tin và tài liệu trên các trang wed về lĩnh vực môi trường.
- Chụp một số hình ảnh và thu thập các bản đồ có liên quan.
1.5. Giới hạn và thời gian thực hiện đề tài
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá trên địa
bàn thị xã Đồng Xoài thuộc địa phận tỉnh Bình Phước.
Đề tài bắt đầu thực hiện từ 15/03/2010 đến 15/06/2010.
1.6. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn và đề xuất
giải pháp tại thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI
2.1. Điều kiện tự nhiên [16]
2.1.1. Vị trí địa lý
Thị xã Đồng Xoài nằm ở phía Nam tỉnh Bình Phước, có tổng diện tích tự nhiên
là 16.769,83 ha. Tọa lạc tại đường QL14, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Từ
đường Nguyễn Huệ đến trụ sở điện lực tỉnh Bình Phước. Toàn thị xã được chia
làm 05 phường và 03 xã, trung tâm thị xã đặt tại phường tân phú, bao gồm:
Phường Tân Phú: 963,58 ha
Phường Tân Đồng: 789,97 ha
Phường Tân Bình: 521,34 ha
Phường Tân Xuân: 997,85 ha
Phường Tân Thiện; 360,00 ha
Xã Tiến Thành: 2.565,86 ha
Xã Tân Thành: 5.575,82 ha
Xã Tiến Hưng: 4.995,41 ha
Ranh giới hành chính được xác định bởi:
Phía Đông, Nam, Bắc giáp huyện Đồng Phú
Phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Dương

- Nắng: thị xã Đồng Xoài nằm trong vùng dồi dào nắng. Tổng tích ôn bình
quân trong năm từ 9.288 – 9.3600C. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ
2.400 - 2.500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng
nhiều nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4; thời gian ít nắng nhất vào các tháng 6, 7, 8, 9.
6
- Độ ẩm không khí: độ ẩm tương đối trung bình năm tại các trạm đo từ 80,8 -
81,4%. Bình quân năm thấp nhất là 45,6 - 53,2%. Tháng có độ ẩm cao nhất là
88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 16%.
- Bốc hơi: lượng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1.113 - 1.447 mm. Thời gian
kéo dài quá trình bốc hơi lớn nhất vào các tháng 2, 3, 4.
- Gió: chịu ảnh hưởng của 3 hướng gió: Chính Đông, Đông - Bắc và Tây –
Nam theo 2 mùa. Mùa khô gió chính Đông chuyển dần sang Đông - Bắc, tốc độ
bình quân 3,5 m/s. Mùa mưa gió Đông chuyển dần sang Tây - Nam, tốc độ bình
quân 3,2 m/s.
Nhìn chung chế độ khí hậu về cơ bản cho phép đẩy mạnh phát triển ngành sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ
đến sản xuất nông nghiệp, cần phải bố trí cây trồng và mùa vụ cho phù hợp nhằm
khắc phục được tình trạng thiếu nước về mùa khô và phát huy được hiệu quả kinh
tế cao trên đơn vị diện tích canh tác, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa được quá
trình xói mòn rửa trôi và thoái hóa đất đai, nhất là về mùa mưa trên địa bàn tỉnh.
2.1.5. Đặc điểm thuỷ văn
Hệ thống sông ngòi ở đây tương đối ít, chỉ có những con suối chảy qua với
lượng nước thấp, bao gồm một số hồ đập và suối như: Hồ Suối Cam, Hồ Suối
Lam, Suối Rạt và Suối Đồng Tiền…. những con suối này sẽ góp phần lớn cho việc
cung cấp lượng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
Mùa mưa thì lượng nước tương đối lớn, nhưng về mùa khô thì lại thiếu nước
cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Đa số các hộ dân sử dụng nước giếng khoan
để sinh hoạt và sản xuất.
2.1.6. Đặc điểm sinh thái và đa dạng sinh học
• Đặc điểm thực vật

- Thành phần dân cư bao gồm nhiều dân tộc như Kinh, Stiêng, Khơme,
Tày…
- Dân số thị xã chủ yếu tăng mạnh do cơ học. Đây cũng chính là thị trường
tiềm năng cho việc phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại, sản xuất công
nghiệp trên địa bàn thị xã.
8
- Thị xã Đồng Xoài là trung tâm văn hoá, chính trị. Hiện nay thị xã Đồng
Xoài được xếp vào đô thị loại III.
2.2.3. Sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp [16]
• Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng chuyên canh cây trồng có quy
mô lớn. Các loại cây trồng chính chủ yếu là cây lương thực như: khoai mì; các cây
công nghiệp hàng năm như: đậu phộng, mè và các cây công nghiệp dài ngày có gía
trị kinh tế cao như: cao su, điều, cà phê, tiêu…. chiếm vị trị quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân.
• Lâm nghiệp
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia điều hoà các dòng
chảy của các con sông, suối, hồ.
Trong những năm qua, thị xã đã tập trung phát triển rừng một cách bền vững,
đảm bảo lợi ích hài hoà giữa phát triển rừng với môi trường sinh thái, sự phát triển
của nền kinh tế và đời sống của nhân dân trước mắt và lâu dài với mục tiêu bảo vệ
và phát triển 3 loại rừng: rừng bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ và rừng sản
xuất, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, trồng mới và khoanh nuôi tái sinh, quản lý
và khai thác có tái tạo diện tích rừng trồng.
2.2.4. Công nghiệp
Ngành công nghiệp của thị xã có điểm xuất phát thấp. Trong những năm gần
đây, nhịp độ phát triển công nghiệp tăng lên, hình thành các khu sản xuất công
nghiệp với quy mô cao. Số lượng lao động trong sản xuất công nghiệp cũng tăng
cao.
Hiện nay trên địa bàn thị xã đã hình thành và phát triển các ngành công nghiệp

mặt hàng tương tự.
2.2.6. Điều kiện hạ tầng kỹ thuật [20]
Nguồn điện: sử dụng nguồn điện hiện hữu có cấp điện áp 220V bố trí dọc theo
tuyến đường QL14.
Cấp nước: sử dụng xe bồn, lấy nước từ hồ suối Cam.
10
Thoát nước: theo hệ thống thoát nước đã có sẵn.
Giao thông liên lạc: nằm ngay trung tâm tỉnh Bình Phước nên giao thông đi lại
và vận chuyển h àng hóa rất thuận lợi cho phát triển kinh tế cũng như các dịch vụ
khác.
2.2.7. Đô thị hoá và các vấn đề về môi trường
Thị xã là nơi có nhiều dân cư tập trung đông nhất, điều đó sẽ làm cho lượng
chất thải phát sinh càng nhiều. Theo số liệu điều tra về dân số và tốc độ phát triển
kinh tế cho thấy: lượng chất thải tính bình quân 1 người thải ra là khoảng
0.91kg/người/ngày (năm 2008). Như vậy với dân số của thị xã khoảng 69.305
người thì lượng rác thải bình quân là 63.067,55 kg/ngày hay 63 tấn rác/ngày.[5]
Qua thống kê điều tra cho thấy, dân số tư nhiên ở thị xã ngày càng tăng cao,
và số dân cơ học cũng tăng cao từ quá trình di cư ở các vùng nông thôn vào thị xã.
Đô thị càng phát triển mạnh sẽ càng thu hút số lượng dân cư từ các nơi tập trung
vào. Quá trình này sẽ làm thay đổi lối sống bản địa cũ và làm nảy sinh nhiều vấn
đề trong việc quản lý đô thị và môi trường. Đô thị hoá càng cao thì sự tăng trưởng
về kinh tế càng mạnh do đó tỷ lệ lao động chết sẽ giảm đi.
Đô thị hoá phát triển sẽ làm tăng dân số ở thị xã và hậu quả là sự quá tải đối
với hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị (giao thông, cấp nước, điện, hệ thống thu gom
và xử lý chất thải sinh hoạt…), làm hao hụt nguồn tài nguyên trong vùng. Bên
cạnh sự gia tăng dân số cao sẽ gây mất cân bằng về việc làm, giữa tỷ lệ lao động
có việc làm và chưa có việc làm. Sự nghèo đói và giàu có cũng sẽ chênh lệch rất
nhiều, nhất là tỷ lệ nghèo đói sẽ tăng cao, điều đó sẽ kéo theo nhiều bệnh tật đối
với trẻ em và cả người lớn. Trẻ em sẽ bị suy dinh dưỡng nhiều và thiếu sức đề
kháng để chống chọi bệnh tật, điều đó đòi hỏi chính quyền thị xã có những giải

c) Thực phẩm
d) Cỏ, gỗ củi, rơm rạ…
e) Chất dẻo
f) Da và cao su
2. Các chất không cháy
a) Các kim loại sắt
b) Các kim loại phi sắt
Các vật liệu làm từ giấy
và bột giấy
Có nguồn gốc từ các sợi
Các chất thải ra từ đồ ăn
thực phẩm
Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ gỗ, tre và
rơm…
Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ chất dẻo
Các vật liệu và sản phâm
được chế tạo từ da và cao
su
Các loại vật liệu và sản
phẩm được chế tạo từ sắt
mà dễ bị nam châm hút.
Các túi giấy, các mảnh
bìa, giấy vệ sinh …
Vải , len , nylon …
Các cọng rau , vỏ quả,
thân cây, lõi ngô …
Đồ dùng bằng gô như
bàn ghế, thang, giường,

Vỏ trai, ốc , xương, gạch
đá, gốm …
Đá cuội, cát, đất, tóc …
(Nguồn: Công ty môi trường tầm nhìn xanh, năm 2007)
3.2. Nguồn tạo thành (phát sinh) chất thải rắn đô thị [3]
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm:
Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
Từ các trung tâm thương mại
Từ các công sở, trường học, công trình công cộng
Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
Từ các hoạt động công nghiệp
Từ các hoạt động xây dựng đô thị
Từ các trạm xử lý chất thải…
Bảng 3.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn
Các hoạt động và khu vực liên
quan đến việc sản sinh ra rác
Các thành phần của
rác
Khu dân cư Các hộ gia đình
Thức ăn thừa, rác, tro
và các loại khác
Khu
Thương mại
Cửa hiệu, nhà hàng, chợ, văn
phòng, khách sạn, xưởng in, sửa
chữa ô tô, y tế..
Thức ăn thừa, rác, tro,
chất thải rắn do quá
trình phá vỡ, xây dựng

Nguồn thải sinh hoạt khác
(2)
1 -3
0,5 - 1,6
0,05 - 0,4
0,05 – 0,3
1,59
0,86
0,27
0,18
(Nguồn: Giáo trình quản lý chất thải rắn đô thị, GS.TS.Trần Hiếu Nhuệ, năm 2001)
Ghi chú:
(1)
: kể cả nhà ở và trung tâm dịch vụ thương mại

(2)
: không kể nước và nước thải.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh và lượng rác thải [11].
– Điều kiện địa lý - khí hậu.
– Tập quán sinh hoạt của dân tộc, tôn giáo
– Nhận thức về môi trường và thái độ của cộng đồng.
– Mức độ phát triển kinh tế, trình độ sản xuất, tái chế, dịch vụ.
– Luật pháp, chính sách về quản lý rác.
3.4. Tính chất lý học, hoá học, sinh học của chất thải rắn đô thị [3]
3.4.1. Tính chất lý học
15
• Khối lượng riêng
Khối lượng riêng được định nghĩa là khối lượng riêng trên một đơn vị thể tích,
tính bằng kg/m
3

Bảng 3.4. Khối lượng riêng và hàm ẩm của các chất thải trong rác sinh hoạt
Loại chất thải
Khối lượng riêng
(1b/yd
3
)
Độ ẩm (% khối
lượng)
Khoảng
dao động
Đặc
trưng
Khoảng
dao động
Đặc trưng
Rác khu dân cư (không
nén)
Thực phẩm 220-810 490 50-80 70
Giấy 70-220 150 4-10 6
Carton 70-135 85 4-8 5
Nhựa 70-220 110 1-4 2
16
Vải 70-170 110 6-15 10
Cao su 170-340 220 1-4 2
Da 170-440 270 8-12 10
Rác vườn 100-380 170 30-80 60
Gỗ 220-540 400 15-40 20
Thuỷ tinh 270-810 330 1-4 2
Lon thiếc 85-270 150 2-4 3
Nhôm 110-405 270 2-4 2

Bê tông vỡ 2020-3035 2595 0-5 -
Rác công nghiệp
Bùn hoá chất (ướt) 1350-1855 1685 75-99 80
Tro 1180-1515 1350 2-10 4
Vụn da 170-420 270 6-15 10
17
Vụn kim loại nặng 2530-3370 3000 0-5 -
Trái cây thải bỏ (hỗn hợp) 420-1265 605 60-90 75
Phân bón (ướt) 1515-1770 1685 75-96 94
Rau cỏ thải bỏ (hỗn hợp) 340-1180 605 60-90 75
Vụn kim loại nhẹ 840-1515 1245 0-5 -
Vụn kim loại (hỗn hợp) 1180-2530 1515 0-5 -
Dầu, hắc ín, nhựa đường 1350-1685 1600 0-5 2
Mạt cưa 170-590 490 10-40 20
Vải thải 170-370 305 6-15 10
Gỗ thải (hỗn hợp) 675-1265 840 30-60 25
Rác nông nghiệp
Rác nông nghiệp (hỗn hợp) 675-1265 945 40-80 50
Xác súc vật 340-840 605 - -
(Nguồn: Công ty môi trường tầm nhìn xanh, năm 2007)
3.4.2. Tính chất hoá học
• Chất hữu cơ
Lấy mẫu, nung ở 950
o
C. Phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là tổn thất
khi nung, thông thường chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 - 60%. Trong tính
toán, lấy trung bình 53% chất hữu cơ.
• Chất tro
Phần còn lại sau khi nung - tức là các chất trơ dư hay chất vô cơ.
• Hàm lượng cacbon cố định

- C : Lượng cacbon tính theo %\
18
- H : Hydro tính theo %
- O : Oxi tính theo %
- S : Sunfua tính theo %
Bảng 3.5. Thành phần hóa học các hợp phần cháy được của chất thải rắn
Hợp phần
% trọng lượng theo trạng thái khô
C H O N S Tro
Chất thải thực phẩm
Giấy
Catton
Chất dẻo
Vải, hàng dệt
Cao su
Da
Lá cây, cỏ
Gỗ
Bụi, gạch vụn, tro
48
3,5
4,4
60
55
78
60
47,8
49,5
26,3
6,4

0,2
0,2
Không xđ
0,15
Không xđ
0,4
0,3
0,1
0,2
5
6
5
10
2,45
10
10
4,5
1,5
68
(Nguồn: Công ty môi trường tầm nhìn xanh, năm 2007)
Ghi chú: xđ: không xác định
3.4.3. Tính chất sinh học [3]
Đặc tính sinh học quan trọng nhất của thành phần chất hữu cơ có trong chất
thải rắn sinh hoạt là hầu hết các thành phần này đều có khả năng chuyển hoá sinh
học tạo thành các khí, chất rắn hữu cơ trơ, và các chất vô cơ. Mùi và ruồi nhặng
sinh ra trong quá trình chất hữu cơ bị thối rữa (rác thục phẩm) có trong chất thải
rắn sinh học.
• Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần chất hữu cơ
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 550
0

sulfide kết hợp vói hydro tạo thành H
2
S.
• Sự sản sinh ruồi nhặng
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của những vùng có khí hậu ấm áp, sự sản
sinh ruồi nhặng ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm.
Thông thường chu kỳ phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành ruồi có
thể biểu diễn như sau:
- Trứng phát triển: 8-12 giờ
- Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ hai của ấu trùng: 24 giờ
- Giai đoạn thứ ba của ấu trùng: 3 ngày
- Giai đoạn nhộng: 4-5 ngày
- Tổng cộng: 9-11 ngày
3.5. Những nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn.
3.5.1. Phân loại chất thải rắn tại nguồn
20
Phân loại rác tại nguồn nhằm tận dụng được các phế liệu có thể tái sinh, tái chế,
hạn chế việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguy cơ phát tán dịch
bệnh từ rác thải sinh hoạt, không gây mất mỹ quan đô thị vì các bãi rác lộ thiên,
góp phần xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn và giảm gánh nặng cho ngân
sách nhà nước về các khoản công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn đô thị [4].
3.5.2. Thu gom chất thải rắn [6]
Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở
hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển
tiếp, trung chuyển hay chôn lấp.
Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ "sơ cấp" và
"thứ cấp". Sự khác biệt này phản ánh yếu tố là ở nhiều khu vực, việc thu gom phải
đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ở và thu gom tập trung

các băng chuyền chạy bằng
khí nén.
2. Các khu vực kinh
doanh, thương mại
Nhân viên, dịch vụ của
các công ty vệ sinh.
Các loại xe thu gom có
bánh lăn, các côngtenơ lưu
giữ, các thang nâng hoặc
21
băng chuyền.
3. Các khu công
nghiệp
Nhân viên, dịch vụ của
các công ty vệ sinh.
Các loại xe thu gom có
bánh lăn, các côngtenơ lưu
giữ, các thang nâng hoặc
băng chuyền.
4. Các khu sinh hoạt
ngoài trời (quảng
trường, công viên …)
Chủ nhân của khu vực
hoặc các công ty công
viên, cây xanh.
Các thùng lưu giữ có mái
che hoặc nắp đậy.
5. Các trạm xử lý
nước thải
Các nhân viên vận hành

tin.
- Phải sơ bộ chọn tuyến đường theo 2 hay 3 phương án.
- So sánh các tuyến đường cân nhắc bằng cách thử dần để chọn được tuyến
đường hợp lý.
3.6. Trung chuyển và vận chuyển
3.6.1. Sự cần thiết của hoạt động trung chuyển [3]
Hoạt động trung chuyển và vận chuyển trở nên cần thiết khi đoạn đường vận
chuyển đến trung tâm xử lý hoặc bãi chôn lấp gia tăng làm cho việc vận chuyển
trực tiếp không kinh tế, cũng như khi trung tâm xử lý hoặc bãi chôn lấp nằm ở vị
trí rất xa và không thể vận chuyển trực tiếp chất thải rắn đến đó bằng đường quốc
lộ. Trạm trung chuyển được sử dụng khi:
- Xảy ra hiện tượng đổ chất thải rắn không đúng quy định do khoảng cách
vận chuyển quá xa.
- Vị trí thải bỏ quá xa tuyến đường thu gom (thường lớn hơn 10mi (16,09km)
- Sử dụng xe thu gom có dung tích nhỏ (thường nhỏ hơn 20yd3 (15m3).
- Khu vực phục vụ là khu dân cư thưa thớt.
- Sử dụng hệ thống container di động với thùng chứa tương đối nhỏ để thu
gom chất thải từ khu thương mại.
- Sử dụng hệ thống thu gom thuỷ lực hoặc khí nén.
3.6.2. Các dạng trạm trung chuyển [6]
• Trạm Trung Chuyển (TTC) chất tải trực tiếp
Tại TTC chất tải trực tiếp, chất thải từ xe thu gom được chuyển sang xe vận
chuyển hoặc chuyển sang thiết bị ép chất thải vào xe vận chuyển hoặc thành từng
kiện chất thải để để chuyển đến bãi chôn lấp (BCL). Trong một số trường hợp,
chất thải được đổ ra bệ đổ và sau đó được đẩy vào xe vận chuyển sau khi đã tách
lọai các vật liêu có thể tái sinh được.
23
• Trạm trung chuyển chất tải – lưu trữ
Trong TTC chất tải - lưu trữ, chất thải được đổ trực tiếp vào hố chứa, từ hố
này chất thải sẽ được chuyển lên xe vận chuyển bằng nhiều thiết bị phụ trợ khác.

phương tiện vận chuyển chất thải rắn được trang bị thêm bộ phận cuốn ép và nén
rác, điều này góp phần làm tăng sức chứa của xe và tăng hiệu suất chuyên chở
cũng như kéo dài thời gian phục vụ cho bãi chôn lấp. Các thiết bị nén ép có thể là
các máy nén cố định và di động hoặc các thiết bị nén ép cao áp.
• Giảm thể tích bằng phương pháp hóa học
Chủ yếu bằng phương pháp trung hòa, hóa rắn kết hợp với các chất phụ gia
đông cứng , khi đó thể tích của chất thải có thể giảm đến 95%.
• Tách, phân chia các hợp phần của chất thải rắn
Để thuận tiện cho việc xử lý, người ta phải tách, phân chia các hợp phần của
chất thải rắn. Đây là quá trình cần thiết trong công nghệ xử lý để thu hồi tài
nguyên từ chất thải rắn, dùng cho quá trình chuyển hóa biến thành sản phẩm hoặc
cho các quá trình thu hồi năng lượng sinh học.
3.7.2. Xử lý chất thải rắn bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện dựa trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung
thu gom vào nhà máy. Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng
tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như : kim loại, nilon, giấy, thủy
tinh, plastic… được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền
qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối
rác và tạo thành các kiện với tỷ số nén rất cao [6].
3.7.3. Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp ủ sinh học
25

Trích đoạn Xây dựng hệ thống tổ chức QLCTR đô thị thị xã Đồng Xoà Hệ thống thu gom, vận chuyển CTR đô thị thị xã Đồng Xoà Thu gom và lưu trữ tại nguồn Công tác thu gom tập trung Nâng cao nhận thức cộng đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status