Báo cáo: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội” doc - Pdf 19

THÀNH VIÊN NHÓM 16
1. PHẠM THỊ CHÂU
2.NGUYỄN PHƯƠNG ANH
3. TRƯƠNG THỊ ÁI
4. BÙI HỒNG DIỄM
5. TRẦN THỊ KIM HỒNG
6. VŨ THỊ KIM HUỆ
7. TRẦN THỊ THANH NHÀN
8. ĐỖ THỊ THỦY
9. NGUYỄN THANH LIỀN
10. ĐỖ MỘNG TRINH
11. NGUYỄN THỊ XUÂN
12. LÊ THỊ NGỌC PHƯỢNG
13. NGUYỄN KIM NỮ NHUNG HUYỀN
Câu 16:
Căn cứ vào đâu mà đại hội lần VI của Đảng đã chủ trương tiến hành đổi mới
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
nhiều kết quả và thành tựu đáng kể, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước.
Thế và lực của Việt Nam được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao.
Nước ta không còn là một nước nông nghiệp lạc hậu kém phát triển, từ quan
liêu bao cấp đã trở thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang vận hành theo cơ chế mới từ
Đại hội VI (1986). Sự kiện đánh dấu bước chuyển này là việc khẳng định
đường lối đổi mới kinh tế của Việt Nam: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá
có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội”, coi chính
sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có tính quy luật
từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bắc: tiến hành xã hội chủ nghĩa.
b) Mục tiêu kinh tế:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III xác định là: xây dựng đời sống ấm
no hạnh phúc ở Miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho
cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
c) Thành tựu:
Phát triển nhanh về các lĩnh vực kinh tế và xã hội, cơ sở vật chất trong
công nghiệp, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng được xây dựng. Tốc độ phát triển
kinh tế cao, giáo dục, y tế phát triển khá nhanh, xã hội miền Bắc xã hội do
những người lao động làm chủ, đời sống tinh thần lành mạnh.
Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, căn cứ địa vững chắc để nhân dân cả
nước có thể đánh thắng đế quốc Mĩ.
2. Thời kì 1965 – 1975:
a) Hoàn cảnh lịch sử:
Đây là thời kì cả nước có chiến tranh, trực tiếp chống Mĩ cứu nước.
Nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc là phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và
tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế, tăng cường lực lượng quốc phòng
cho phù hợp với tình hình mới.
b) Mô hình kinh tế:
Là mô hình có tính tập trung cao với những đặc điểm chủ yếu là:
Nhà nước quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ
thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp
hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và
các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư,
tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, tiền lương, nhân sự… đều do các
cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn,
vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp các sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ
thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất

cực trong việc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển, tập
trung được các nguồn lực, sức người, sức của đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhưng càng về sau mô hình này càng bộc lộ những khiếm khuyết: các
nhu cầu của xã hội vượt quá khả năng đáp ứng của một nền kinh tế kém hiệu
quả, thiếu năng động do thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu;
công tác, chỉ đạo, quản lí cũng phạm phải một số sai lầm.
d) Chủ trương cải cách:
Đảng và Nhà nước ta đã dần dần thấy ra được những nhược điểm của mô
hình kinh tế đó và đã bắt đầu có chủ trương cải tiến một phần cơ chế quản lí
kinh tế.
Thí dụ:
- Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ương khóa III (tháng 4-1972)
bàn về quản lí kinh tế đã thấy rõ sức cản của cơ chế quản lí hành chính cung
cấp và chủ trương chuyển sang thực hiện phương thức kinh doanh xã hội chủ
nghĩa.
- Hội nghị lần tháy 24 Ban chấp hành Trung ương khóa III (tháng 9 –
1975) đã đề cập đến vấn đề duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam
trong một thời gian nhất định, ra sức sử dụng mọi khả năng lao động kĩ thuật,
tiền vốn, kinh nghiệm quản lí để đẩy mạnh sản xuất.
3. Thời kì 1976 – 1985:
a) Hoàn cảnh đất nước:
Đây là thời kì cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình đất
nước gánh chịu những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc
chiến tranh ác liệt lâu dài.
Nước ta có những thuận lợi và khó khăn:
- Thuận lợi:
Cả nước được hòa bình và đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện phát huy
tìm năng của đất nước, nhân dân phấn khởi tập trung xây dựng đất nước.
- Khó khăn:

triển nhanh.
Hơn thế, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật đang diễn ra
với quy mô lớn chưa từng có,đem lại cho loài người những thành tựu vô cùng
to lớn. Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, nhiều nước
trên thế giới thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, mở cửa nền kinh tế và phát triển
kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
c) Sai lầm, khuyến điểm trong hoạt động của Đảng, Nhà nước:
Sản xuất tăng chậm so với khả năng, yêu cầu vốn có của nền kinh tế, hiệu
quả sản xuất, đầu tư thấp, năng xuất lao độn giảm, chất lượng sản phẩm sút
kém. Những mất cân đối lớn của nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt còn
gay gắt hơn trước. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố, vai
trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh yếu, các thành phần kinh tế xã hội chủ
nghĩa chưa được cải tạo và sử dụng tốt.
Đời sống nhân dân, nhất là công nhân viên chức còn nhiều khó khăn.
Nhiều người lao động chưa có việc làm, nhiều nhu cầu tối thiểu của người dân
chưa được đảm bảo. Hiện tượng tiêu cực phát triển, công bằng bị vi phạm,
pháp luật, kỉ cương không nghiêm;lộng quyền, tham nhũng, những hoạt động
phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời.
Thực trạng trên làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo
của Đảng và của các cơ quan Nhà nước.
d) Quá trình hình thành đường lối đổi mới 1976 – 1986:
* Giai đoạn 1976 – 1981:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12 – 1976) đã đề ra đường
lối chung với những nội dung chủ yếu: xây dựng nền kinh tế mới xã hội chủ
nghĩa ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây dựng kinh tế Trung ương và phát triển
kinh tế địa phương, kết hợp lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới; xây dựng chế độ mới: chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa; xây dựng nền văn hóa mới; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Từ những đường lối chung đó, Đại hội đã đề ra những chỉ tiêu cụ thể cho

Tháng 8 – 1979, Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) họp bàn những vấn đề
cấp bách về kinh tế - xã hội và vấn đề hàng tiêu dùng. Hội nghị khẳng định sự
cần thiết phải tồn tại thị trường tự do, khuyến khích san xuất “bung ra” định
hướng, khắc phục những khuyến điểm trong quản lí kinh tế, trong cải tạo xã
hội chủ nghĩa đề ra chủ trương phù hợp với lực lượng sản xuất.
Thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của ban chấp hành trung ương
khoá IV, tháng 9 – 1979 chinh phủ ra quyết định tận dụng đất nông nghiệp,
qui định rõ mức được hưởng đối với tập thể và người lao động có công tận
dụng đất hoang hoá. Tháng 10 – 1979, hội đồng chính phủ công bố quyết định
xóa bỏ các trạm kiểm soát để người sản xuất được tự do lưu thông hàng hóa
ngoài thị trường, không phải nộp thuế sau khi làm tròn nghĩa vụ đầy đủ đối
với nhà nước. Nhà nước tăng mức đầu tư cho nông nghiệp về phân bón,
giống, cơ khí. Năm 1979, sản lượng lương thực tăng 1.718.500 tấn so với năm
1978. Tiểu thủ công nghiệp được chú trọng và phát triển.
Trước tình hình khó khăn và trì trệ của sản xuất nông nghiệp, nhiều địa
phương (như Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ An) đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ:
khoán việc cho các hội xã viên nhưng bề ngoài vẫn giữ mô hình tập thể
(khoán chui) . Căn cứ vào kết quả thực tế, ban bí thư trung ương Đảng cho
phép các địa phương mở rộng khoán sản phẩm và khoán việc.
Trong công nghiệp, chính phủ chủ trương phát huy quyền chủ động sản
xuất kinh doanh và quyền tự chủ về nền kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh.
Mở rộng hình thức trả lương khoán, lương thực phẩm. Góp phần làm giảm
tình trạng trì trệ trong sản xuất của doanh nghiệp nhà nước.
* Giai đoạn 1982 – 1985:
Đại hội Đảng lần thứ 5 chủ trương tiếp tục tìm tòi cơ chế quản lí mới cho
thích hợp, xoá bỏ cơ chế cũ, điều chỉnh lại cơ cấu, qui mô, tốc độ và các bước
đi của công nghiệp hóa.
Kết quả:
Tình hình kinh tế xã hội có nhiều chuyển biến nhất định: Nông nghiệp
trong thời kì 1981 – 1985 tăng 4.5%. Sản lượng lương thực tăng đều trong 5

quyết tâm đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đưa đất nước tiến
lên.
III. ĐẠI HỘI KHÓA VI (1986):
1. Hoàn cảnh lịch sử của đại hội:
Đại hội VI của Đảng họp từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 tại
thủ đô Hà Nội trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những thuận lợi nhưng
cũng không ít khó khăn, thách thức:
- Việt Nam vẫn chịu tác động của chính sách bao vây cấm
vận của đế quốc Mỹ.
- Kinh tế phát triển chậm, sản xuất trì trệ do sai lầm chủ
quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa.
- Trải qua thời kì khảo nghiệm thực tiến tìm tòi con đường
đổi mới có không ít khuyết điểm, vấp váp nhưng Đảng, Nhà nước,
nhân dân ta cũng có được những thành tựu và kinh nghiệm bước đầu.
- Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều khó
khăn và đứng trước yêu cầu khách quan phải cải tổ, cải cách. Công
cuộc cải cách ở Trung Quốc đạt được những thành công bước đầu.
Thực tiễn đó đòi hỏi đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng,
đối với vận mệnh của dân tộc.
2. Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội VI
đề ra:
Đổi mới cơ cấu kinh tế: (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộ
ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công
nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện).
Đại hội xác định phải “Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa”; công nghiệp nặng thì “phải nhằm phục vụ các mục tiêu
kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và theo khả năng thực tế,
chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển kinh tế trong chặng đường tiếp theo”…

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế
xã hội chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư
nhân; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính
sách xã hội, kế hoạch hoá dân số và giải quyết việc làm cho người lao động.
Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức
khoẻ của nhân dân.
Trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là ra sức kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở
Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế
giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các
nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi
cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được Đại hội
lần thứ VI xác định là “cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Phương
thức vận động quần chúng phải được đổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra. Đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện
chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình.
Báo cáo Chính trị chỉ rõ 6 nhiệm vụ chủ yếu của bộ máy Nhà nước là:
- Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính
sách cụ thể.
- Xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành
những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Quản lý hành chính xã hội và hành chính kinh tế, điều hành các hoạt
động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỷ
cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những mất

chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng. Đại hội VI cũng đã khẳng định phải từ bỏ quan niệm đơn giản,
tư tưởng nóng vội chủ quan, duy ý chí, muốn đốt cháy giai đoạn…
Đại hội đã xác định 5 mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội:
a. Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.
b. Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lí nhằm phát triển
sản xuất.
c. Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
d. Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội.
e. Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
Đại hội đưa ra những quan niệm mới: phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần với những hình thức kinh doanh phù hợp, coi trọng việc kết hợp lợi ích
cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người,
có nhận thức mới về chính sách xã hội.
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3/1989) phát triển thêm một bước
đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều
thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần
có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa
xã hội” và thực hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, đảm bảo cho mọi người
được tự do làm ăn theo pháp luật.
Đại hội VI chỉ rõ “nền kinh tế quốc dân có một cơ cấu hợp lí là nền kinh
tế mà trong đó các ngành, các vùng, các thành phần, các loại hình sản xuất có
quy mô và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với
nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn
định” và “phải xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lí, trước hết là cơ cấu

theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
b) Thành phần kinh tế tập thể:
Đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, bao
gồm chủ yếu là các hợp tác xã ở các lĩnh vực của nền kinh tế.
Kinh tế tập thể ra đời thông qua quá trình hợp tác hóa theo nguyên tắc
dân chủ, có lợi và phát triển từ thấp lên cao. Các xã viên tự nguyện đóng cổ
phần, tham gia lao động trực tiếp, phân phối theo cổ phần và kết quả lao động.
c) Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ:
Đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân quy mô nhỏ về tư liệu
sản xuất và dựa trên lao động của bản thân cũng như gia đình của chủ sở hữu,
bao gồm các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ ở một số ngành, nghề trong needfn
kinh tế.
Thành phần kinh tế này có quy mô nhỏ nhưng lực lượng đông đảo, có
tính linh hoạt thích nghi cao, có thể tận dụng lao động nhàn rỗi, vốn liếng dư
thừa trong dân cư, tạo ra việc làm và thu nhập, tạo ra hàng hóa dịch vụ thỏa
mãn nhu cầu xã hội.
Thành phần kinh tế này có kĩ thuật thủ công lạc hậu, kinh doanh phân
tán, trình độ tổ chức và năng suất lao động thấp, khó ứng dụng khoa học kinh
thuật, lại dễ bị rủi ro trước những biến động của thị trường. Nó thường chạy
theo lợi ích cục bộ, gây mất ổn định nền kinh tế, ô nhiễm môi trường.
d) Thành phần kinh tế tư bản tư nhân:
Đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất có thêu mướn nhân công và quy mô tương đối lớn.
Kinh tế tư bản tư nhân góp phần huy động những nguồn vốn nhàn rỗi,
tiềm tàng trong xã hội; có thể sử dung một lượng lớn sức lao động, tạo công
ăn việc làm, góp phần khắc phục tình trạng thất nghiệp, làm gia tăng thu nhập
cho xã hội; tạo ra động lực kinh tế và môi trường cạnh tranh, mở rộng năng
lực quan hệ với các đối tác, tạo môi trường đầu tư và mở ra khả năng làm giàu
cho xã hội.
Mặt hạn chế của kinh tế tư bản tư nhân:

còn ở trình độ thấp, chưa xã hội hóa cao thì quan hệ sản xuất chưa thể
là xã hội chủ nghĩa một cách triệt để, mà quan hệ sản xuất cũ vẫn còn
vai trò lịch sử.
- Cần nhận thức rằng: lực lượng sản xuất luôn có nhiều trình
độ, không thuần nhất, nên không thể nào áp dụng một hình thức hay
một kiểu quan hệ sản xuất duy nhất.
Do vậy, cần phải có nhiều quan hệ sản xuất, nhiều thành phần kinh tế
tức là phải có cơ cấu kinh tế nhiều thành phần để thích ứng với lực lượng sản
xuất.
b. Sự đa dạng của các hình thức sở hữu:
Sở hữu là một phạm trù kinh tế biều hiện mối quan hệ giữa các chủ thể
kinh tế trong việc định đoạt một tài sản vật phẩm nào đó.

Trích đoạn Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status