Đề tài: NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HÀNG
NÔNG SẢN VIỆT NAM KHI GIA NHẬP
WTO VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC
1
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 7/11/2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) diễn ra Lễ ký Nghị định thư về việc
Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vào
ngày 28/11, Quốc hội đã thông qua Nghị định thư gia nhập WTO của VN. Và Theo
quy định của WTO, 30 ngày sau khi tổ chức này nhận được thư phê chuẩn Hiệp
định gia nhập WTO của Quốc hội Việt Nam, nước ta sẽ chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức này.
Tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới, nước ta đứng trước những cơ hội
lớn như sau:
Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với
mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa
theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử; Với
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của
WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện. Gia nhập WTO
chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định
chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự
kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước,
của doanh nghiệp. Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách
thể chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng
chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình
2
2

cả
Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về WTO. Nó là một tổ chức để tự do hoá
thương mại; là diễn đàn để các chính phủ đàm phán các hiệp định thương mại; là
3
3
nơi để họ giải quyết tranh chấp thương mại. Nó điều hành hệ thống các quy tắc
thương mại.
Trước tiên, WTO là một khuôn khổ để đàm phán:
WTO là diễn đàn, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh
chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ. Bước giải quyết tranh chấp đầu
tiên là thảo luận. WTO ra đời từ các cuộc đàm phán và tất cả những gì tổ chức này
làm được đều thông qua còn đường đàm phán. Các hoạt động mà WTO đang xúc
tiến hiện nay chủ yếu xuất phát từ những cuộc đàm phán diễn ra từ năm 1986 đến
1994, mang tên Vòng đàm phán Urugoay, và từ những cuộc đàm phán trước đó
trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Hiện nay,
WTO đang tổ chức các cuộc đàm phán mới trong khuôn khổ “chương trình phát
triển Doha” được khởi xướng từ năm 2001.
Đối với những nước phải đối mặt với những rào cản trong thương mại và muốn hạ
thấp các rào cản này, thì đàm phán góp phần thúc đẩy tự do hoá thương mại. Tuy
nhiên, WTO không chỉ tập trung vào mục tiêu tự do hoá thương mại, trong một số
trường hợp, WTO còn đề ra những quy định ủng hộ việc duy trì rào cản thương mại,
ví dụ như trong trường hợp bảo vệ người tiêu dùng hay ngăn chặn sự lan tràn của
một dịch bệnh nào đó.
Thứ hai WTO là tập hợp các quy tắc:
Nòng cốt của tổ chức là các hiệp định WTO được phần lớn các quốc gia thương mại
trên thế giới đàm phán và ký kết. Những văn bản này tạo thành quy tắc pháp lý nền
tảng của thương mại quốc tế. Đó chủ yếu là những cam kết cơ bản ràng buộc các
chính phủ thực thi chính sách thương mại trong khuôn khổ đã thoả thuận. Mặc dù
do các chính phủ đàm phán và ký kết, song mục tiêu của những cam kết này là giúp
các nhà sản xuất hàng hoá, dịch vụ cũng như các nhà xuất, nhập khẩu triển khai các

được, chuẩn bị làm ăn). Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (đối xử cho nước này
không kém hơn đối xử của nước thứ ba). Không phân biệt đối xử. Ðối xử quốc gia
(dành cho doanh nghiệp nước ngoài đối xử không kém hơn đối xử doanh nghiệp
trong nước). Mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ giúp cho thương mại toàn cầu
phát triển, kinh tế phát triển. WTO có khoảng 18 hiệp định lớn và 1 bộ quy tắc. 18
hiệp định: hiệp định về thuế quan (GATT), dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, trị giá hải
quan, hiệp định về vấn đề hàng nông nghiệp, chống bán phá giá, chống trợ cấp, hiệp
định về cấp phép nhập khẩu, kiểm tra hàng trước khi xếp, kiểm dịch động thực vật,
quy tắc xuất xứ, một số hiệp định khác; rào cản thương mại (TBT). Toàn bộ quy tắc
gói gọn trong 30 vạn trang. Ðây là bộ quy tắc khổng lồ, giúp điều tiết toàn bộ
thương mại toàn cầu.
1.3 Các nguyên tắc của WTO
* Không phân biệt đối xử: không một nước nào được có sự phân biệt đối xử giữa
các đối tác thương mại của mình (nghĩa là phải dành cho họ một cách công bằng qui
chế “đối xử tối huệ quốc” hay còn gọi là quy chế MFN) cũng như không được phân
biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và người nước ngoài (nghĩa là phải dành cho họ
quy chế “đối xử quốc gia”);
5
5
* Tự do hơn: xoá bỏ rào cản thông qua con đường đàm phán.
* Dự đoán trước được: phải đảm bảo cho các công ty, các nhà đầu tư và chính phủ
nước ngoài rằng sẽ không áp dụng một cách tuỳ tiện các rào cản thương mại (gồm
hàng rào thuế quan và phi thuế quan); mức thuế quan và các cam kết mở cửa thị
trường được “ràng buộc” tại WTO.
* Cạnh tranh hơn: hạn chế những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ
cấp xuất khẩu, bán phá giá, nghĩa là bán với giá thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm
mục đích chiếm thị phần;
* Dành ưu đãi cho các nước kém phát triển: cho họ một thời hạn dài và linh động
hơn, cùng một số đặc quyền thương mại.
1.4. Những lý do của tự do hoá thương mại

trở nên kém cạnh tranh hơn một doanh nghiệp khác khi thị trường phát triển hay khi
công nghệ mới cho phép tạo ra những sản phẩm với giá rẻ hơn và chất lượng tốt
hơn. Nhà sản xuất được khuyến khích thay đổi để tự thích nghi từng bước và tránh
bị tổn thất. Họ có thể tạo ra các sản phẩm mới, tìm thấy cơ hội làm ăn mới trong
lĩnh vực hoạt động sẵn có của mình hay lao vào một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ.
Kinh nghiệm cho thấy khả năng cạnh tranh cũng có thể chuyển từ nước này sang
nước khác. Một nước có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ giá nhân công rẻ hoặc nguồn
tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể bị mất khả năng cạnh tranh đối với một số
hàng hoá và dịch vụ với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhờ tác dụng
khuyến khích của việc mở cửa nền kinh tế, nước này có thể lại trở nên cạnh tranh
đối với hàng hoá hay dịch vụ khác. Nói chung, đây là một quá trình dần dần.
Tuy nhiên, ý định từ chối đương đầu với thách thức mà các mặt hàng nhập khẩu có
khả năng cạnh tranh đặt ra vẫn tồn tại dai dẳng. Và chính phủ các nước giàu có thể
bị cám dỗ bởi các biện pháp bảo hộ nhằm có được lợi thế về mặt chính trị ngắn hạn
thông qua việc trợ cấp, đề ra những thủ tục hành chính rắc rối, viện cớ vì các mục
đích chung hợp pháp như gìn giữ môi trường hay bảo vệ người tiêu dùng nhằm bảo
hộ cho các nhà sản xuất trong nước
Bảo hộ làm cho các nhà sản xuất trong nước trở nên cồng kềnh, không hiệu quả,
cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời hoặc kém hấp dẫn. Và cuối
cùng, mặc dù được nhà nước bảo hộ và trợ cấp, các nhà máy vẫn phải đóng cửa và
cắt giảm việc làm. Nếu chính phủ các nước khác trên thế giới cũng áp dụng những
chính sách tương tự thì thị trường sẽ bị thu hẹp và hoạt động kinh tế thế giới sẽ trở
nên trì trệ. Một trong những mục tiêu mà chính phủ các nước theo đuổi tại các cuộc
đàm phán WTO là ngăn chặn để không bị trượt vào vòng xoáy bảo hộ, vốn được
xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành viên đang
tìm kiếm
Lợi thế so sánh
Giả sử rằng nước A giỏi hơn nước B về chế tạo ô tô và nước B làm bánh mì ngon
hơn nước A (các nhà lý luận cho rằng so sánh như vậy là khập khiễng). Rõ ràng, vì
lợi ích của mình, A sẽ chuyên vào việc sản xuất ô tô còn B chuyên vào việc làm

kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018.
Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào là kinh tế
Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng
chế độ “phi thị trường” đối với ta. Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các
vụ kiện chống bán phá giá. Và các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế
tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị
trường.
8
8
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với
Việt Nam khi vào WTO (riêng trường hợp ta vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị
cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trã đũa nhất định).
Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng
dệt may của nước ta.
Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị
cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy nhiên
với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta
được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành dệt may).
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với
nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, ta bảo lưu quyền được hưởng một số
quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này. Đối với
loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức
không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản
hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất
khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên
ta được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh (quyền xuất nhập khẩu hàng hóa): Việt Nam đồng ý cho
doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như
người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục thương mại
nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí) và một số mặt

pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên sẽ chỉ có một DN nhà nước
được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điều và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà ta
đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ôtô cũ ta cho phép nhập khẩu
các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm.
Về cam kết thực hiện minh bạch hóa, ngay từ khi gia nhập Việt Nam sẽ công bố dự
thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội và
Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa
đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp
luật trên các tạp chí, trang tin điện tử của bộ, ngành.
Một số cam kết liên quan khác: thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế
xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế
xuất khẩu của các sản phẩm khác.
Về đa phương, Việt Nam còn đàm phán một số vấn dề đa phương khác như bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính
phủ. Định giá tính thuế xuất nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
mại, các biện pháp hàng rào kỹ thuật trong thương mại… Với nội dung này, ta cam
kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập.
1.5.2 Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu
thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành
10
10
17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình 5 - 7 năm. Mức thuế bình quân
đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện
trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện
chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm.
Mức cam kết cụ thể: sẽ có khoảng hơn 1/3 dòng số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ
yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với
nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy… vẫn
duy trì được mức bảo hộ nhất định.

Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: Đồng ý cho phép các DN nước ngoài được thành
lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để đáp ứng các dịch
vụ hỗ trợ khai thác dầu khí. Tuy nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản lý các
hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các ty thăm dò, khai thác tài
nguyên. Bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các DN Việt Nam
như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ…
Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Dịch vụ viễn thông, Việt Nam có thêm một số nhận nhượng so với BTA nhưng ở
mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của ta. Cụ thể là cho phép thành
lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với
hạ tầng mạng (phải thuê mạng do DN Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng
một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng
cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng (chỉ các các doanh nghiệp nhà nước nắm
đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng
chỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép).
Dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ được như BTA, tức là khá chặt só với các nước
mới gia nhập. Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập DN 100% vốn nước ngoài
là như BTA (1/1/2009). Thứ hai, tương tự như BTA, ta không mở cửa thị trường
phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường
và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng,
phân bón… ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm. DN có vốn đầu tư nước ngoài, mở
điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể.
Dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức độ cam kết ngang BTA, tuy nhiên, ta đồng ý
cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày gia
nhập.
Dịch vụ ngân hàng, ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài
không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được thành
lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ
và vẫn phi chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong

USD/tấn. Cao nhất là Úc xuất với giá 509,9 USD/tấn.
Sở dĩ Chất lượng hàng nông sản Việt Nam bị như trên là do các lý do sau:
Cây và giống cây chất lượng kém
Nếu nói về sự thế yếu của trái cây, ngoài năng lực hạn chế trong việc xây dựng
thương hiệu, làm marketing, khả năng xúc tiến xuất khẩu… thì nguyên do nữa là bị
13
13
thả nổi về cây giống. Nhà nước không có chính sách rõ ràng và không có hệ thống
sản xuất và cung ứng giống.
Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã tạo ra nhiều giống lúa tốt, hạt gạo Việt Nam sản
xuất ra không thua kém gạo các nước, thành công của Việt Nam là đã tạo được
giống lúa cực sớm, và thành công lớn nhất là đã tạo thành công giống lúa cao sản.
Thế nhưng thị trường gạo chất lượng cao trên thế giới vẫn do Thái Lan, Úc nắm
giữ.
Nguyên do, theo chính các nhà khoa học thừa nhận, các chủng lúa sản xuất ra cứ
được mặt này thì mất mặt kia: cao sản thì thân yếu dễ ngã, dễ rụng, còn chất lượng
thơm ngon thì nhiều lép, cuống dai, kháng bệnh kém, dễ bị sâu rầy, bà bên cạnh đó
là công nghệ thu hoạch, bảo quản, chế biến.
Thói quen chỉ thấy cái lợi trước mắt đã khiến người người sản xuất không chịu tuân
thủ quy trình sản xuất và sử dụng cây giống. Một cây giống sản xuất ra theo đúng
quy trình trong nhà lưới, lồng kính có giá thành đắt gấp đôi, gấp ba cây nhân nhân
thông thường ngoài trời, khiến người sản xuất giống thấy lợi đã làm, mà người mua
thì ham rẻ mặc dù vẫn biết rằng chất lượng kém. Chính vì vậy mà lâu ngày cây
thoái hóa, nhiễm bệnh, chất lượng quả ngày càng sụt giảm, thua trái cây ngoại là
đương nhiên, những nguyên nhân khác như công tác nhân giống không được đồng
loạt, dẫn đến chậm trễ việc nhân rộng diện tích cây trồng. Chính sách hỗ trợ của
Nhà nước chưa tới với người nông dân. Nông dân chưa hưởng được chính sách ưu
đãi, mà phải mua giống với giá cao, nhưng lúa thu hoạch bán ra vẫn theo giá lúa
bình thường. Vì vậy người trồng đã không mặn mà với chương trình giống mới.
Kỹ thuật và công nghệ sau thu hoạch yếu kém

định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản
lượng. Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng
4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp
phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không
hạn chế.
- Thuế suất cam kết cuối cùng đối với các mặt hàng của ta trong WTO là 13,4%,
giảm so với mức hiện hành là 23%. Lộ trình giảm thuế này của ta là 3-5 năm, có
mặt hàng 7-11 năm.
- Đối với hàng nông sản, thuế suất cam kết cuối cùng là 21%, mức cắt giảm so với
hiện hành là 10,6%. So với tổng thể mức thuế tôi nói ở trên là 23%, nông sản là
10,6%, chứng tỏ đã có một sự quan tâm nhất định về bảo hộ hàng nông sản.
- Mặt hàng nông sản nào hiện có thuế suất 40-50%, ví dụ một số mặt hàng nông sản
chế biến thì sẽ phải giảm xuống, có mặt hàng cắt giảm ngay.
Ví dụ thuế hiện hành của cá và sản phẩm cá là 29,3% thì thuế tại thời điểm gia nhập
là 29,1%, còn thuế suất cam kết cuối cùng là 18,1% và thời hạn cắt giảm kéo dài tới
5 năm. Hay thịt bò giảm từ 20% xuống 14% sau 5 năm, thịt lợn từ 30% xuống 15%
15
15
sau 5 năm, sữa nguyên liệu giảm khi gia nhập là 20%, nhưng thuế cuối cùng là 18%
sau 2 năm, sữa thành phẩm giảm 30% xuống 25% sau 5 năm
CHƯƠNG 3
NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
3.1 Thách thức
3.1.1.Thách thức của việc cắt giảm thuế và mở cửa thị trưởng đối với sản xuất
nông nghiệp
- Việc giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản theo thỏa thuận với Mỹ mà trước hết là
thịt bò, thịt heo, thì sản phẩm trong nước cạnh tranh sẽ rất khó khăn, bởi giá thành
chăn nuôi trong nước hiện rất cao. Chưa kể hàng loạt mặt hàng nông sản chế biến từ
nhiều nước khác, nhất là từ Trung Quốc sẽ khiến nông sản nước ta cũng khó "địch"
nổi ngay trên sân nhà.

Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn cả khi thực hiện cam kết
cắt giảm thuế nông sản. Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Đoàn đàm phán đã
kiên trì và thận trọng trong việc mở cửa thị trường nông sản. Mặc dầu vậy, nông
nghiệp vẫn là lĩnh vực bị sức ép cạnh tranh khá lớn, nhất là trong điều kiện nông
nghiệp nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suất
kém, chất lượng sản phẩm không cao, bình quân đất nông nghiệp trên một lao động
thấp.
Để giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng:
Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản
xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, yêu cầu
17
17
đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn. Đây là hướng
phát triển quan trọng nhất.
Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành
toàn bộ các nguồn vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để
đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông thôn. Nhà nước hỗ trợ việc xây dựng hệ
thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất
lượng sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hoá lưu thông trên
thị trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn.
Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng
tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước. Phát triển và
tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp
tác xã.
Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và kinh
doanh dịch vụ ở nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy quá trình hình thành các vùng
sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và cung ứng
vật tư cho nông dân. Khuyến khích nông dân trở thành cổ đông của các doanh

nội địa có thương hiệu riêng, tăng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt lao động dư thừa, ứ đọng trong nông thôn.
Giải quyết vấn đề này bản thân một mình nông nghiệp không làm được, mà đòi hỏi
cả khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển để hút lao động ra, tạo thuận lợi cho
tích tụ đất đai, sản xuất hàng hoá lúc đó nông nghiệp mới có thể tăng được năng lực
cạnh tranh và có lợi nhuận cao.
KẾT LUẬN
Tóm lại, toàn cầu hoá là một tất yếu khách quan và Việt Nam không phải là ngoại
lệ. Khi VN gia nhập WTO, những lợi ích tiềm năng bao gồm như mở rộng thị
trường cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống như nông nghiệp và thuỷ sản,
đồng thời VN có cơ hội tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO giúp tránh
được những xử kiện vô lý như là cá ba sa giữa Việt Nam và Mỹ. Khi là thành viên
của WTO, VN sẽ tiếp tục thu hút được đầu tư nước ngoài đồng thời cũng có tiếng
nói cùng với 149 nước khác khi WTO thảo luận các quy chế mới của WTO. Tuy
nhiên thách thức đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt là đối với
19
19
xoá đói giảm nghèo là rất lớn. VN vẫn là một nước 69% lực lượng lao động vẫn
thuộc lĩnh vực nông nghiệp và 45% dân số sống tại nông thôn sống dưới mức
nghèo. Những thách thức lớn như là mức độ cạnh tranh thấp, hay phải đương đầu
với trợ cấp xuất khẩu của các nước giàu, năng lực của VN thực thi các điều khoản
cam kết, việc cắt giảm thuế quan và các trợ cấp nông nghiệp, việc VN không được
tiếp cận đối với cơ chế tự vệ đặc biệt cho các sản phẩm chăn nuôi là những điểm
không thể một sớm một chiều giải quyết được mà cần thời gian và hỗ trợ của các
bên để giảm thiểu những rủi ro này.
Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ mong muốn bày tỏ những hiểu biết
một cách khái quát nhất về tổ chức thương mại thế giới WTO và những thách thức
mà hàng nông sản Việt Nam sẽ phải đối mặt khi tham gia từ đó chúng ta có những
giải pháp thích hợp để khắc phục và chủ động hơn khi tham gia vào thị trường toàn
cầu này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status