Khám bụng ngoại khoa và bệnh án ngoại khoa – Phần 2 - Pdf 19

Khám bụng ngoại khoa và bệnh
án ngoại khoa – Phần 2

Phản ứng thành bụng.
Phản ứng thành bụng là tình trạng cơ thành bụng co lại khi ta ấn nhẹ bàn tay vào
bụng bệnh nhân từ nông xuống sâu. Để tránh tình trạng phản ứng thành bụng giả
tạo do người khám bệnh gây nên, bàn tay người khám bệnh phải được làm ấm
trước khi khám, áp sát toàn bộ bàn tay lên bụng, từ vùng bụng không đau đến
vùng bụng bị đau, so sánh tình trạng thành bụng bên đau với bên đối diện. Phản
ứng thành bụng có thể biểu hiện bằng thớ cơ thành bụng căng lại gần như lên gân
bụng, nét mặt đau đớn và thể hiện động tác đối kháng như giữ tay người khám lại,
gạt tay người khám ra …Nguyên nhân phản ứng thành bụng là một phản xạ của
thành bụng nhằm bảo vệ các tạng bên trong khi bị tổn thương do sang chấn hay
viêm nhiễm.
Co cứng thành bụng.
Co cứng thành bụng nghĩa là thành bụng phải co cứng liên tục và ngoài ý muốn
người bệnh
Co cứng thành bụng được chia làm hai loại:
- Co cứng thành bụng cục bộ - chỉ co cứng một nhóm cơ của một vùng bụng -
như chỉ co cứng ở hố chậu phải hay dưới sườn phải, trong khi những nơi khác
vẫn còn mềm
- Co cứng toàn thể các cơ thành bụng.
Cần lưu ý khi xác minh co cứng thành bụng nghĩa là thành bụng phải co cứng liên
tục và ngoài ý muốn người bệnh. Phát hiện dấu hiệu này, chỉ cần áp nhẹ bàn tay
lên bụng bệnh nhân để cảm nhận tình trạng co cứng liên tục của các khối cơ thành
bụng. Khi co cứng cục bộ có nghĩa là một tạng đã bị vỡ nhưng chưa vỡ vào toàn ổ
bụng còn co cứng toàn thể là dấu hiệu sớm của thủng tạng rỗng. Co cứng thành
bụng liên tục toàn thểCảm ứng phúc mạc. Cảm ứng phúc mạc là thể hiện ở thành
bụng các dấu hiệu mà trong ổ phúc mạc có dịch viêm hoặc máu hoặc nói cách
khác là tình trạng thể hiện của thành bụng trong trường hợp phúc mạc bị kích
thích do dịch viêm nhiễm hoặc do máu. Trong những trường hợp này, bụng bệnh

xuống giường tạo thành một góc 45 độ. Người thày thuốc ngồi ở bên phải, bàn tay
để ở dưới bờ sườn phải. Khi bệnh nhân hít vào bàn tay người thày thuốc ấn nhẹ và
đẩy lên trên, nếu túi mật viêm, bệnh nhân sẽ ngừng động tác hít vào. Cơ chế của
nghiệm pháp này là khi bệnh nhân hít vào, cơ hoành hạ xuống, đẩy gan và túi mật
xuống theo. Khi người thày thuốc đưa tay lên, túi mật đang bị đẩy xuống do động
tác hít vào chạm vào đầu ngón tay người thày thuốc và vì túi mật bị viêm nên đau
và vì thế bệnh nhân tự nhiên ngừng hít vào. - Nghiệm pháp rung gan nhằm phát
hiện những nung mủ ở trong gan. Các ngón tay của một bàn tay áp lên các khoang
liên sườn từ thứ 6 trở xuống rồi dùng cạnh của bàn tay kia chặt xuống bàn tay
đang áp vào sườn bệnh nhân. Nếu nghiệm pháp dương tính có nghĩa là bệnh nhân
đau nảy người lên. - Nghiệm pháp kích thích tăng nhu động ruột hoặc dạ dày
bằng cách búng nhẹ hoặc véo nhẹ cơ bụng tạo kích thích và ta nhìn tiếp tuyến với
thành bụng. Nếu dương tính, ta sẽ thấy các nhu động ruột cuộn lên như rắn bò vì
vật dấu hiệu dương tính được gọi là dấu hiệu rắn bò. Nghe bụng Nghe bụng nhằm
phát hiện tiếng nhu động ruột để phân biệt giữa tắc ruột cơ giới (có và tăng nhu
động) với tắc ruột cơ năng do liệt ruột (mất nhu động ruột), đồng thời một số
trường hợp túi phình động mạch chủ vỡ thường biểu hiện một bệnh cảnh của hội
chứng phúc mạc và trong trường hợp này khi nghe bụng sẽ thấy tiếng thổi tâm thu
rất rõ. Khám các lỗ thoát vị. Trong khám bụng bình thường nói chung và khám
bụng cấp cứu nói riêng, khám các lỗ thoát vị và thăm trực tràng hoặc âm đạo là
những động tác bắt buộc. Thoát vị nghĩa là một quai ruột chui qua một lỗ ở bên
trong ổ bụng (thoát vị trong) hoặc ra dưới da bụng, bẹn, đùi (thoát vị ngoài). Thoát
vị trong thường gặp do lỗ bịt không kín hoàn toàn, thoát vị qua cơ hoành … còn
thoát vị ngoài thường là thoát vị bẹn, thoát vị đùi, thoát vị rốn. Khám bụng chỉ c
ó thể phát hiện được những thoát vị ngoài. Thông thường, thoát vị không phải là
một bệnh ngoại khoa cấp cứu nhưng khi đoạn ruột thoát vị bị nghẹt lại sẽ gây nên
tắc ruột và muộn hơn, đoạn ruột này sẽ bị hoại tử do việc cấp máu động mạch cho
quai ruột bị khó khăn cùng với việc quai ruột phù nề do mạch mạch và tĩnh mạch
trở về bị ứ trệ, càng làm tăng thêm cản trở cho việc cấp máu động mạch. Dấu thoát
vị nghẹt là khối thoát vị không tự lên, bệnh nhân đau, nôn và khi khám vào cổ bao

trỏ trong thăm trực tràng ở người lớn, ngón út ở trẻ em và ngón trỏ cùng ngón giữa
trong thăm âm đạo. Sau khi đi găng, người khám nhúng ngón tay vào dầu parafin
rồi tiến hành thăm khám. Động tác thăm khám phải hết sức nhẹ nhàng, từ từ và
tuyệt đối không được thô bạo vì sự thô bạo sẽ cho kết quả nhầm do phản ứng của
người bệnh. Trong khi thăm trong, có thể dùng bàn tay còn lại kết hợp nắm trên
thành bụng để phát hiện các dấu hiệu kèm theo. Sau khi tiến hành khám bụng
xong, người thày thuốc phải nghe tim, phổi, khám vùng cổ, cột sống để phát hiện
những bệnh kèm theo và những bệnh kèm theo này có khi giúp đỡ cho chẩn đoán
(như khi khám bụng phát hiện gan to và đau mà nghe tim có tiếng rung tâm trương
thì chắc chắn phải nghĩa đến gan to là do suy tim) đồng thời giúp đỡ cho gây mê
lựa chọn những phương án tối ưu trong khi gây mê. CÁC THĂM DÒ CẬN LÂM
SÀNG BỔ TRỢ Sau khi đã thu nhận được những triệu chứng cơ năng thông qua
hỏi bệnh, triệu chứng thực thể thông qua khám bệnh và các yếu tố về toàn thân,
người khám đã có hướng nào nghĩ đến chẩn đoán và để làm rõ thêm, người khám
sẽ cho tiến hành các thăm dò cận lâm sàng gồm xét nghiệm máu, xét nghiệm sinh
hoá, thăm dò hình ảnh và một số thăm dò khác như nội soi dạ dày thực quản… 1.
Xét nghiệm huyết học: gồm xét nghiệm đếm hồng cầu và công thức bạch cầu,
huyết sắc tố nhóm máu, thời gian máu đông, máu chảy và hêmatocrit. Hồng cầu và
hematocrit tăng trong trường hợp máu bị cô đặc do mất nước hoặc sốc và giảm khi
bị mất máu. Bạch cầu tăng trong các trường hợp nhiễm trùng hay chấn thương
tạng đặc như vỡ lách hoặc vỡ gan . Thời gian máu đông và máu chảy để khái quát
về trạng thái đông máu, cầm máu của bệnh nhân. Nhóm máu ABO là đủ đối với
người Việt
Nam và á đông nhưng với người phương tây, xét nghiệm nhóm Rh là điều bắt
buộc để bảo đảm an toàn trong truyền máu. 2. Xét nghiệm sinh hoá. Những xét
nghiệm sinh hoá thông thường là urê, đường máu. Nếu urê cao thì phải làm tiếm
creqtinin để xác định tình trạng suy thận và kali máu để đánh giá mức độ suy thận.
Nếu đường máu cao thì phải làm ngay đường niệu để xác định có hay không có
bệnh đái tháo đường. Nếu bệnh nhân nôn nhiều thì phải xét nghiệm điện giải. Nếu
bệnh nhân có vàng mắt thì phải cho thử bilirubin cùng với muối mật và sắc tố mật

đến 1000ml. Sau đó dung nguyên tắc xi phông để cho dịch rửa này tự chảy ra. Nếu
như đại thể xác định rõ dịch chảy ra có máu hoặc dịch tiêu hoá là đủ để chỉ định
mổ nhưng nêú chưa rõ, người ta mang dịch này đi ly tâm đến hồng cầu, bạch cầu
và thử amylase. Chọc rửa ổ bụng cho một giá trị chẩn đoán cao. 6. Nội soi ổ bụng
(Laparoscopy). Trong một số trường hợp nghi ngờ, để tránh mổ bụng thăm dò,
một số cơ sở có điều kiện có thể tiến hành soi ổ bụng để chẩn đoán và qua nội soi
ổ bụng có thể tiến hành các thủ thuật cần thiết như khâu lỗ thủng dạ dày, cắt ruột
thừa, cắt túi mật, gỡ dính ruột. Đây là một hướng mới của ngoại khoa trong thế kỷ
XXI. 7. Những thăm dò khác: trong những trường hợp nghi nghờ bệnh nhân có
bệnh khác kèm theo qua thăm khám toàn thân ta phải cho làm các thăm dò khác
như chụp phổi (đối với nghi ngừo lao phổi) điện tim, siêu âm tim (đối với người
cao huyết áp hoặc nghi nghờ bệnh tim). Đặc biệt hiện nay, trong mối đe doạ của
đại dịch HIV, tất cả những bệnh nhân có nguy cơ cao (đặc biệt là nghiện chích,
mại dâm) việc xét nghiệm tìm HIV, viêm gan B và viêm gan C là bắt buộc. KẾT
LUẬN Khám bụng ngoại khoa được bắt đầu từ hỏi bệnh. Qua hỏi bệnh ta sẽ thu
thập được các triệu chứng cơ năng. Trên cơ sở những triệu chứng cơ năng này ta
sẽ tập trung tìm kiếm các triệu chứng thực thể thông qua động tác khám bệnh. Tập
hợp triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể lại ta sẽ thu được các triệu chứng
lâm sàng làm cơ sở cho hướng tới một số chẩn đoán lâm sàng. Từ những chẩn
đoán lâm sàng này ta cho làm thêm các nhóm xét nghiệm và thăm dò khác nhằm
phân biệt một số biểu hiện lâm sàng giống nhau của một số bệnh khác nhau tiến
tới chẩn đoán xác định. Một khi chẩn đoán xác định đã được rõ ràng, việc xây
dựng những phương án điều trị không là khó khăn. Như vậy muốn điều trị tốt ta
phải có được chẩn đoán đúng và muốn có được chẩn đoán đúng ta phải biết cách
hỏi bệnh, cách khám bệnh cách yêu cầu các xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng
khác. Khi có được những thông tin này, xác dịnh những chẩn đoán loại trừ hoặc
chẩn đoán phân biệt theo một tư duy logíc để dẫn tới chẩn đoán xác định. Không
bao giờ được quên khám toàn thân để phát hiện những bệnh kềm theo hoặc là
những nguyên nhân có thể gây nên những dấu hiệu bụng ngoại khoa giả như suy
tim, viêm phổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status