Tiểu luận KTCT: Thực trạng và giải pháp phát triển DNNN ở VN pot - Pdf 19

§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

1

LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) Đảng ta đã đề ra chủ
trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển nền kinh tế kế hoạch
tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý
luận kinh tế về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lúc này đã có những thay
đổi căn bản, sự tồn tại khách quan của năm thành phần kinh tế được thừa
nhận. Kinh tế quốc doanh nay được gọi là khu vực doanh nghiệp Nhà nước,
đồng thời thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh thì nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước cũng
được đổi mới.
Trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đảng
ta luôn khẳng định thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế quốc dân. Lý luận về kinh tế nhà nước là một trong những vấn
đề lý luận kinh tế trung tâm của các đảng cộng sản. Nhất là trong giai đoạn
lãnh đạo đất nước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Hiện nay lý luận đó vẫn mang ý nghĩa thời sự cấp bách cả
về nhận thức lý luận và thực tiễn.
Ở Việt Nam thì kinh tế nhà nước là một bộ phận có vai trò quyết định
trong cơ cấu kinh tế của nước ta. Trong các bộ phận cấu thành của kinh tế
nhà nước thì khu vực doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chủ yếu có vị trí
đặc biệt. Nhưng thực trạng của khu vực doanh nghiệp nhà nước của nước ta
hiện nay thì chưa thể hiện được vai trò then chốt và chủ đạo trong nền kinh
tế, một số ngành, một số lĩnh vực của doanh nghiệp nhà nước không năng
động bằng khu vực kinh tế tư nhân. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên
nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do khâu tổ chức và vận hành doanh
nghiệp nhà nước chưa thật hợp lý. Vậy để doanh nghiệp nhà nước có thể thể
hiện được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân thì vấn đề tất

bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều nhằm thực hiện vai
trò chủ đạo của khu vực KTNN ở một mức độ nhất định. Cụ thể như sau:
Ngân sách nhà nước:Thực hiện chức năng thu chi ngân sách và có
nhiệm vụ điều chỉnh quản lý, kiểm soạt các hoạt động của khu vực KTNN
và các thành phần kinh tế khác theo mục tiêu kinh tế xã hội đã định. Có tác
dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động knh doanh tiền tệ, đặc
biệt là xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ để phát triển kinh tế
xã hội
Kho bạc nhà nước: Với chức năng quản lý quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước đồng thời kiểm soát quá trình thu chi ngân sách
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

3

Các quỹ dự trữ quốc gia: là một bộ phận của khu vực KTNN, nhằm bảo
đảm cho khu vực này hoạt động bình thường trong mọi tình huống, là lực
lượng vật chất để nhà nước điều tiết, quản lý bình ổn giá thị trường, đảm bảo
ổn định kinh tế xã hội
Các tổ chức sự nghiệp có thu: Hoạt động gần giống như DNNN trong
cung ứng một số dịch vụ công, đặc biệt trong giáo dục, y tế, dịch vụ hành
chính công
Hệ thống DNNN: Đây là bộ phận chủ yếu then chốt của khu vực KTNN.
Để được gọi là một DNNN thì cần phải có ba điều kiện
Thứ nhất: nhà nước là cổ đông chính, có thể nhà nước sở hữu 100% vốn,
sở hữu cổ phần chi phối ( trên 51 % ) hoặc sở hữu cổ phần đặc biệt ( cổ phần
quy định quyền quản lý của nhà nước )
Thứ hai: doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để
bán
Thứ ba: Có hoạch toán lỗi lãi
Nếu thiếu điều kiện một thì đó là doanh nghiệp tư nhân và thiếu điều kiện

- DNNN đang nắm giữ một số ngành, lĩnh vực then chốt, hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất
nước, nắm toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết
mạch, hầu hết các doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp trong các ngành
xây dựng ( về giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp và dân dụng ), cơ khí chế
tạo máy, luyện kim, xi măng, điện tử, hoá chất, điện dầu khí, thông tin liên
lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường không, ô tô , sản xuất hàng
công nghệ tiêu dùng, chế biến nông thuỷ, hải sản, nắm giữ một tỉ lệ quan
trọng trong những ngành kinh doanh dịch vụ, thương mại nhập khẩu chiếm
thị phần áp đảo trong huy đọng vốn và cho vay
Phần của DNNN trong GDP chiếm tỷ trọng năm 1992 là 40.12%, năm
1996 là 39.9%, năm 1998 là 41.2%, năm 1999 là 40.2%, năm 2000 là
39.5%. Cụthể trọng phần DNNN trong một số ngành như: 80% công nghệ
khai thác, trên 60% công nghệ chế biến, trên 90%công nghệ điện – gas– dầu
khí – cung cấp nước, trên 82% vận chuyển hàng hoá, 50% vận hành khách,
chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong sản xuất phân bón hoá học 99.8%, thuốc trừ
sâu 93.6%, axít sunfuric và xút 100%, lốp ô tô 100%, lốp xe đạp 80%, pin
100%, chế tạo động cơ điezel loại nhỏ 100%, 85% năng lực kéo sợi, 50%
năng lực dệt thoi, 30% năng lực dệt kim và khoảng dưới 50% năng lực may
mặc, giầy dép, chiếm tỷ trọng 70% bán buôn, 20% bán lẻ. Hệ thống các
ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm tỷ phần áp đảo trong huy động vốn
chiếm 80% thị phần và cho vay 74% thị phần đối với nền kinh tế Các
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

5

DNNN đã góp phần quan trọng vào việc điều tiết quan hệ cung cầu, ổn định
giá cả, chống lạm pháp, ổn định tỷ giá, khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị
trường
DNNN chiếm một phần rất quan trọng trong xuất nhập khẩu, trong đó


trường đã phát huy được vai trò trung tâm kinh tế, văn hoá, chuyển giao
công nghệ trên địa bàn.
Điển hình như trường Sông Hậu trả lương cho 130 giáo viên và xây dựng
cơ sở trường lớp cho 3000 học sinh từ mẫu giáo đến trung học, công ty chè
Mộc Châu hàng năm đầu tư 100 triệu để sửa chữa và xây mới trường học,
nhà trẻ, mẫu giáo, cải tạo 705 km đường giao thông liên bản, tổng công ty
cà phê từ năm 1996 đén nay dã đàu tư hàng 100 tỷ để xây dựng 100 km
đường giao thông ( có 25 km đường nhựa ), 150 km đường điện trung hạ
thế, 50000 m
2
trường học, 20000 m
2
nhà trẻ mẫu giáo, làm mới và nâng cấp
58 hồ, đập
Hỗ trợ cho sự phát triển các vùng miền núi và các vùng xa, vùng sâu. ở
đó hiệu quả đầu tư kinh doanh thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều rủi ro
kinh doanh nhưng lại là vùng có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của quốc
gia và thực hiện các chính sách dân tộc của đảng
Khu vực DNNN nhiều năm qua cũng là nơi tập trung và đào luyện một bộ
phận quan trọng trong đội ngũ giai cấp công nhân và cung cấp nhiều cán bộ
lãnh đạo ưu tú, trung kiên cho đảng nhà nước và quân đội
DNNN cũng thức sự đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương: uống
nước nhớ nguồn, xoá đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả cảu những vùng bị
thiên tai, cứu trợ xã hội, tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, nhường
cơm xẻ áo
3.2 Sự cần phải phát triển DNNN
Tại hội nghị thứ ba ban chấp hành trung ương đảng khoá IX đồng chí
bí thư Nông Đức Mạnh đã có bài phát biểu bế nạc hội nghị, trong đó đồng
chí tổng bí thư đã nêu lên tâm quan trọng của DNNN và sự đổi mới DNNN

trong cả thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Để thực hiện có hiệu quả chính sách
đó trung ương có trách nhiệm xây dựng phương hướng, nội dung, giải pháp
cụ thể của từng thành phần kinh tế theo tinh thần nghị quyết của đại hội
đảng. Trung ương bàn việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả DNNN là để góp phần bảo đảm cho KTNN giữ vững vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân, một vấn đề rất lớn và cơ bản trong chính
sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chứ không hề coi nhẹ việc phát
triển các thành phần kinh tế khác. Chúng ta đã có nhiều chủ trương tạo thuận
lợi cho các loại hình doanh nghiệp ra đời và phát triển trong khuôn khổ luật
pháp giúp các doanh nghiệp có thêm điều kiện tiếp cận thị trường trong nước
và thế giới chuẩn bị cho việc thực hiện các cam kết trong quá trình chủ động
hội nhập có hiệu quả kinh tế quốc tế. Sắp tới chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

8

các chính sách nhằm phát huy sức mạnh của các thành phần kt theo đường
lối của đảng
Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN là việc mà
ban chấp hành trung ương nhiều khoá đã quan tâm, được tiến hành ngay từ
thời kỳ đổi mới và nhất là trong 10 năm qua. Đánh giá những việc làm được
cũng như chưa làm được còn có những ý kiến khác nhau nhưng chủ yếu là
khác nhau về múc độ vì trong thực tế còn có những yếu tố chưa được xem
xét đầy đủ, tuy nhiên khi đánh giá cần dựa trên quan điểm lịch sử, xét tới bối
cảnh thế giới, trong nước hơn 10 năm qua và hiệu quả kinh tế chính trị, xã
hội, để nhìn nhận đúng mức vai trò và sự đóng góp của DNNN trong thời kỳ
đổi mới. Trong thời gian qua chúng ta đã hoàn thành khung pháp lý tương
đối cơ bản để chuyển DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, xác lập dần quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
sản xuất kinh doanh xoá dần bao cấp, bảo đảm các chính sách xã hội trong

đẩy mạnh thực hiện cổ phần hoá, coi đây là một khâu quan trọng để tiếp tục
đổi mới và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN. Mỗi nội dung đều
cụ thể hoá các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã ghi trong nghị quyết
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng; nhưng vì là vấn đề lớn về
chính trị cho nên nghị quyết đã nêu những quan điểm chỉ đạo. Các quan
điểm chỉ đạo đó phải được quán triệt trong việc thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp cụ thể. Trung ương khẳng định tư tưởng của nghị
quyết đại hội IX, xác định vai trò chủ đạo của KTNN, xác định DNNN là
lực lượng nòng cốt của KTNN, giữ vị trí thên chốt trong nền kinh tế, là công
cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế. KTNN, DNNN có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa, phát triển và ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.
Vì vậy DNNN phải không ngừng được sắp xếp, đổimới, phát triển, có trình
độ công nghệ và quản lý tiên tiến, không ngừng nâng cao hiệu quả. Trên cơ
sở các quan điểm đó mà thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu DNNN, chuyển
các DNNN sang thực sự kinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh và hợp tác với các
doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác
Đã là doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh doanh. Việc sắp xếp, đổi
mới, phát triển các DNNN đều hướng tới nâng cao hiệu quả, vì có hiệu quả
mới có thể nêu gương, hướng dẫn và góp phần tăng tiềm lực KTNN để giữ
vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, và một nền kinh tế
định hướng xã hội chủ nghĩa phải được xem xét đến hiệu quả kinh tế xã hội
tổng thể hướng tới mục tiêu của CNXH
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

10

Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN là vấn đề rất hệ
trọng trong đường lối phát triển kinh tế, đồng thời rất nhạy cảm về chính trị,

§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

11

quyết đại hội; trên cơ sở thống nhất nhận thức để đi đến hành động thống
nhất, lời nói đi đôi với việc làm, kết hợp thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
lâu dài với những việc cụ thể, trước mắt giành thắng lợi cho từng năm theo
mục tiêu, nhiệm vụ đại hội đề ra. Từ nay đến cuối năm phải tập trung hết sức
thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2001, năm mở đầu thực hiện
nghị quyết đại hội đảng, vì bên cạnh những thuận lợi đang có không ít khó
khăn và nhiều vấn đề mới phải giải quyết, đồng thời cần theo dõi chặt chẽ,
quan tâm việc phòng chống thiên tai. Triển khai ngay việc thực hiện chỉ thị
của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây, chỉnh đốn đảng
gắn liền với cải cách hành chính nhà nước, triển khai và thực hiện đồng bộ
các giải pháp chống tham nhũng đang nổi lên với tinh thân thẳng thắn, công
minh, để người có khuyết điểm phải được phê bình, chịu kỷ luật, người có
tội phải bị sử tội, bất kể họ là ai; giải quyết những bức xúc về các tệ nạn xã
hội, các sản phẩm văn hoá đồi truỵ đang lan tràn ngoài xã hội Đó là những
việc trước mắt cần thực hiện tốt, kinh tế – xã hội tiếp tục phát triển, đời sống
nhân dân được cải thiện, nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội được đẩy lùi
một bước sẽ tạo đà phấn khởi trong xã hội, thể hiện trách nhiệm của ban
chấp hành trung ương đối với toàn đảng và toàn xã hội .
II. Vai trò then chốt của DNNN
Lực lượng DNNN hàng năm đóng góp khoảng 40% trong cơ cấu GDP
của nước ta, chiếm giữ khoảng 70% vốn và tài sản cố định của nền kinh tế.
DNNN đang là lực lượng chủ yếu trong sản xuất công nghiệp, trong hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, tín
dụng. Nhìn chung lực lượng DNNN đang là lực lượng then chốt trong các
ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cá biệt có một số ngành có vị trí độc
quyền kinh doanh. Từ năm 1995 hàng năm DNNN đóng góp từ 26 – 28%

đa dạng hóa sở hữu, thành lập tổng công ty ). Trong các đợt, giai đoạn,
thời kỳ khác nhau của quá trình đổi mới, do các yếu tố khách quan và chủ
quan quy định, việc đổi mới DNNN được tiến hành đồng thời kết hợp hai
mặt nêu trên hoặc chỉ thiên về một mặt nào đó .
Từ năm 1979, DNNN ở Việt nam mới thực sự được coi như một đối
tượng đổi mới. Những bước tổ chức sắo xếp, phát triển DNNN trước năm
1979 về cơ bản chỉ là những biện pháp có tính chất hành chính trong bố trí,
sắp xếp, phân bổ các DNNN giữa các bộ, các địa phương và các liên hiệp xí
nghiệp, do đó chúng chỉ được coi là những biện pháp cải tiến quản lý trong
mô hình kế hoạch hoá tập trung mang tính chất bao cấp, thu đủ, chi đủ, phù
hợp với cơ chế quản lý và mô hình kinh tế cũ. Do vậy quá trình đổi mới kinh
tế ở nước ta có thể chia thành ba giai đoạn
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

13

1. Giai đoạn 1980 – 1986
Giai đoạn đổi mới này gắn liền với đổi mới quan điểm của đảng và
nhà nước về quản lý kinh tế nói chung và DNNN nói riêng. Cơ chế quản lý
cũ đã tỏ ra kìm hãm sức sản xuất, triệt tiêu động cơ phát triển, hậu quả là
nền kinh tế trì trệ, tụt dốc, khủng hoảng, đời sống nhân dân xa sút. Các
DNNN ngày càng xa sút. Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ sáu
khoá IV tháng 9 – 1979 đã ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách
đánh giá tình hình thực tiễn và những yêu cầu bức thiết của xã hội, trong đó
nhấn mạnh phải “ cải tiến chính sách phân phối, lưu thông ( giá, lương, tài
chính, ngân hàng ). Tiếp đó Chính phủ đã ban hành các quyết định có liên
quan để điều hành nền kinh tế nói chung và các DNNN nói riêng như quyết
định số 25/CP tháng 1-1981 về kế hoạch ba phần, quyết định số 26 /CP
tháng 2-1981 về phân phối lưu thông Nghị quyết trung ương 6 khoá IV
và quyết định 25/CP là bước tiến đầu tiên trong việc cơ chế quản lý các

từng bước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân, viên chức, tăng tích
luỹ cho xí nghiệp và cho nhà nước”. Đại hội VI vẫn tiếp tục khẳng định vai
trò chủ đạo của DNNN nhưng đã đưa ra quan điểm coi chủ đạo không có
nghĩa là phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, mọi địa phương mà thể
hiện ở “ năng suất, chất lượng, hiệu quả”
Sau đại hội đảng lần thứ VI, đổi mới DNNN thực sự trở thành nội dung
trung tâm của tiến trình đổi mới toàn bộ hệ thống kinh tế theo hướng nhất
quán chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải
phóng sức sản xuất xã hội. Tháng 11 – 1987 Hội đồng Bộ trưởng ( nay là
Chính phủ ) ban hành quyết định 217/HĐBT đánh dấu bước đổi mới cơ bản
DNNN theo hướng áp dụng cơ chế mới. Tiếp theo là các nghị định
50/HĐBT(3-1988) bổ sung quyết định 217, nghị định 27/HĐBT ( 3-1989 )
ban hành điều lệ xí nghiệp quốc doanh ( DNNN ) đã thúc đẩy tiếp quá
trình đổi mới DNNN.
Giai đoạn này đối với DNNN lầ giai đoạn bước ngoặt đưa các DNNN
chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc thị trường hay gọi là
quá trình thương mại hoá có tác dụng bắt buộc các doanh nghiệp phải định
hướng vào thị trường, đồng thời tăng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong
các quyết định kinh doanh. Về mặt quan hệ với nhà nước, trong giai đoạn
này hệ thống quan hệ kế hoạch dần dần chuyển từ kế hoạch trực tiếp sang kế
hoạch gián tiếp, do đó các DNNN từ chỗ phải hoạt động theo kế hoạch với
9 chỉ tiêu pháp lệnh dần dần bãi bỏ chỉ còn 1 chỉ tiêu nộp ngân sách, xoá bỏ
bao cấp từ ngân sách nhà nước, bãi bỏ chế độ 2 giá, hạch toán kinh doanh
theo giá thị trường. Về quản lý, quyết định 217/HĐBT trao quyền tự chủ rất
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

15

rộng rãi cho doanh nghiệp mà hầu như không có biện pháp kiểm soát tương
ứng. Các doanh nghiệp lại trao quyền tự chủ cho các bộ phận, chi nhánh của

§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

16

Đại hội VIII của đảng năm 1996 tiếp tục khẳng định: “ tiếp tục đổi mới
và phát triển có hiệu quả KTNN để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường,
hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển, làm lực lượng vật
chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền
tảng cho chế độ xã hội mới”.
Thực hiện đường lối đổi mới của đảng, Chính phủ đã ra hàng loạt quyết
định về đổi mới DNNN và trên thực tế đã tổ chức thực hiện hàng loạt biện
pháp rất mạnh trên cả hai mảng: sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế quản
lý DNNN. Đó là quyết định 315/HĐBT(9-1990), nghị định 388/HĐBT (11-
1991), các quyết định 90 và 91/TTg (3-1994), luật doanh nghiệp nhà nước
(4-1995), chỉ thị 500/TTg (8-1995), nghị định 28/CP (5-1996), nghị định
56/CP ( 10-1996), nghị định 59/CP ( 10-1996), nghị định 50/CP (8-1996),
chỉ thị 20/TTg (4-1998) và nghị định 44/CP (6-1998); đồng thời từng bước
làm rõ thêm quan hệ quản lý giữa nhà nước và doanh nghiệp.
3.1 Đổi mới cơ chế quản lý DNNN
Theo quyết định 315/HĐBT các doanh nghiệp phải rà soát lại chức năng
hoạt động kinh doanh, rà soát lại các yếu tố sản xuất kinh doanh như: thị
trường, công nghệ, vốn, tổ chức lao động, tổ chức bộ máy và cán bộ, soát xét
lại tình hình tài chính doanh nghiệp, chấp hành kỷ luật tài chính, kế toán,
thống kê. Những xí nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm, không thực hiện
được nhiệm vụ kinh doanh, liên tiếp bị lỗ trong thời gian dài, không có khả
năng thanh toán và không thể khắc phục bằng các biện pháp như chuyển
hướng sản xuất, thay đổi mặt hàng, đầu tư trang bị lại, cũng như các biện
pháp về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh với sự hỗ trợ của cấp
trên có thể bị tuyên bố giải thể.

làm Về cơ chế sử dụng lao động, theo tinh thần bộ luật lao động (12-
1994) đã có một loạt quyết định cho phép DNNN tăng quyền tự chủ trong sử
dụng lao động và trả lương: chuyển chế độ biên chế sang hợp đồng, áp dụng
cơ chế quản lý theo lương tối thiểu, cơ chế tuyển dụng, thôi việc thoả ước
tập thể
3.2 Sắp xếp lại DNNN
Trong giai đoạn 1991-1993 theo quyết định 315/HĐBT tháng 9 năm
1990 về giải thể và tổ chức lại những DNNN yếu kém, nghị định 388/HĐBT
tháng 11 năm 1991 về nguyên tắc và điều kiện là thành lập lại DNNN, quyết
định số 202/CP ngày 8 tháng 6 năm 1992 thí điểm cổ phần hoá một số
DNNN.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

18

Trong giai đoạn 1994-1997, theo quyết định số 90/TTg và 91/TTg và chỉ
thị 500/TTg về sắp xếp các DNNN giải thể những liên hiệp xí nghiệp, tổng
công ty trước đây, hình thành những tổng công ty có quy mô lớn( tổng công
ty 91) va quy mô vừa(tổng công ty 90), nghị định 28/CP( 5-1996) về chuyển
đổi một số DNNN thành công ty cổ phần.
Từ giữ những năm 1998 đến nay, theo chỉ thị 20/CT-TTg ( 4-1998), chỉ
thị 15/CT-TTg ( 5-1999) và nghị định 44/CP về cổ phần hoá kết hợp phương
án tổng thể sắp xếp DNNN. Có ba nội dung cơ bản về sắp xếp tổ chức lại
DNNN được nhấn mạnh là: sắp xếp DNNN theo phương án tổng thể từng
vùng, ngành,tổ chức lại tổng công ty theo hướng thí điểm thành lập tập đoàn
kinh tế : cổ phần hoá DNNN. Nghị định số 103/1999/NĐ-CP về giao , bán,
khoán, cho thuê DNNN có vốn dưới 1tỷ đồng kinh doanh thua lỗ kéo dài
thuộc ngành nhà nước không cần nắm giữ cổ phần đã được ban hành ngày
10-9-1999 để có cơ sắp xếp các DNNN nhỏ, yếu kém.
Giữa năm 2000 theo số liệu của ban đổi mới doanh nghiệp trung ương,

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những doanh nghiệp thuộc loại này duy
trì 100% vốn nhà nước. Nhóm hai gồm những doanh nghiệp cần chuyển đổi
cơ cấu sở hữu, là những doanh nghiệp không cần duy trì 100% vốn nhà
nước. Nhóm ba gồm những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài cần được sử lý
thích hợp
Theo các chủ trương, quyết định, hướng dẫn của nhà nước phương hướng
xử lý các doanh nghiệp sau khi phân loại quy mô lớn và trunh bình như sau:
- Đối vớidoanh nghiệp hoạt động công ích: những doanh nghiệp nào có đủ
điều kiện hạch toántheo quy mô doanh nghiệp thì tiếp tục duy trì 100% sở
hữu nhà nước và thực hiện các cính sách hỗ trợ đối với những nhiệm vụ mà
nhà nước giao. Doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn vốn và được quyền
huy động thêm các nguồn vốn khác theo quy định của nhà nước, được trích
lập 3 quỹ trên cơ sở hoàn thành định mức chi phí do nhà nước quy định và
thực hiện cơ chế quản lý như doanh nghiệp. Còn những DNNN công ích quá
nhỏ có thể thực hiện phương thức giao khoán cho tập thể lao động hoặc cho
các thành phần kinh tế khác đấu thầu quản lý thực hiện hợp đồng của nhà
nước.
- Đối với các DNNN hoạt động kinh doanh: trừ lĩnh vực nhà nước độc
quyền kinh doanh cần giữ sở hữu nhà nước, còn lại các doanh nghiệp có quy
mô vừa và lớn đang hoạt động có hiệu quả sẽ mạnh dạn cổ phần hoá và cho
phép doanh nghiệp tự quyết định cơ cấu sở hữu trong quá trình cổ phần hoá,
không cần duy trì tỷ lệ cổ phần khống chế của nhà nước hoặc duy trì một
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

20

phần giai đoạn đầu rồi có thể bán tiếp trong quá trình hoạt động sau khi
chuyển thành công ty cổ phần.
- Những DNNN không thuộc diện độc quyền nhà nước, đang bị thua lỗ và
những DNNN quá nhỏ không thể cổ phần hoá được thì áp dụng phương thức

21

khu vực DNNN vẫn có tốc độ tăng trưởng cao và giữ vị trí đáng kể trong
đóng góp ngân sách và xuất khẩu. Thành tựu tăng trưởng của khu vực
DNNN càng có ý nghĩa khi đặt trong tổng thể tốc độ tăng trưởng chung của
nền kinh tế thời kỳ 10 năm qua ở mức khá cao ( GDP năm 2000 đã gấp 2
lần GDP năm 1990). Như vậy tăng trưởng của khu vực DNNN cao hơn khu
vực dân doanh , cao hơn tốc độ chung của nền kinh tế quốc dân
Đã thay đổi cơ bản cơ chế tài chính đối với DNNN có tác dụng xoá bỏ
bao cấp cho khu vực này từ ngân sách nhà nước. Tính chung cho cả yhời kỳ
1988-1998 tỷ lệ tài trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước dưới tất cả các hình
thức: đầu tư, cấp vốn lưu động, bù lỗ, bù giá đã giảm từ mức 8.5% GDP
xuống còn 0.5%GDP. như vậy về cơ bản các DNNN đã được “ thương mại
hoá” - một quá trình không dễ thực hiện ở các nước chuyển đổi. Do vậy chi
ngân sách nhà nước có điều kiện tập tring cho các mục tiêu khác trong khi
vẫn duy trì được hiệu quả, vai trò của các DNNN như những tổ chức kinh tế
hoạch toán độc lập
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN về tổng thể đã được nâng
lên so với trước xét trên át cả các mặt. Các chỉ số về hiệu suất vốn , lãi tuyệt
đối, số nộp ngân sách, tỷ lệ nộp ngân sách nhà nước trên vốn mặc dù thấp
hơn nhiều so với các khu vực khác nhưng so với thời kỳ trước đổi mới đã có
sự cải thiện đáng kể
Về mặt quản lý bước đầu đã phân định chức năng quản lý nhà nước của
các cơ quan nhà nước với chức năng sản xuất kinh doanh của các DNNN.
Cụ thể là làm rõ các quan hệ: ai là chủ sở hữu vốn; mức độ tự chủ của doanh
nghiệp đến đâu, quan hệ với cơ quan chủ quản. Nhờ xác định rõ quyền tự
chủ của DNNN nên trong việc thực hiện chủ trưởng liên doanh, liên kết với
nước ngoài qua hoạt động đầu tư quốc tế, các DNNN ( chiếm 96% số dự án
) đã chủ động, tích cực và thực hiện khá thành công, góp phần thu hút, đẩy
mạnh vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam hơn 10 năm qua.

Một DNNN kinh doanh có hiệu quả theo các tiêu chí hiện hành do bộ
tài chính quy định, phải đạt các tiêu chuẩn: bảo toàn và phát triển được vốn,
phải trích đủ khấu hao tài sản cố định; lương bình quân phải bằng hoặc vượt
mức bình quân của doanh nghiệp cùng ngành nghề trên địa bàn; trả đầy đủ
các khoản nợ đến hạn, nộp đủ các khoản thuế theo luật định; có lãi, nộp đủ
tiền sử dụng vốn và lập đủ các quỹ doanh nghiệp như: dự phòng tài chính,
trợ cấp mất việc làm, đầu tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi. Nhưng theo
số liệu năm 1997 của bộ tài chính, trong tổng số 5429 DNNN thì số kinh
doanh có hiệu quả chỉ chiếm 40.44%. Số liệu này thống nhất với số liệu của
ban đổi mới doanh nghiệp trung ương tháng 2-2000: số doanh nghiệp có lãi
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

23

thực sự chiếm 40%, số doanh nghiệp bị thua lỗ chiếm 20% ( nếu tính đủ
khấu hao giá trị tài sản cố định thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ còn lớn hơn
), số doanh nghiệp còn lại nằm trong tình trạng không ổn định, khi lỗ, khi lãi
và lãi cũng không lớn. Về tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN: sau
một thời gian dài đạt liên tục tăng 13%/năm, đến năm 1998 và đầu năm 1999
tốc độ tăng còn 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm; năm 1995, một đồng vốn
tạo ra được 3.46 đồng doanh thu và 0.19 đồng lợi nhuận; đến năm 1998 các
con số tương ứng chỉ còn 2.9 và 0.14; năm1998 trong ngành công nghiệp,
một đồng vốn chỉ làm ra được 0.024 đồng lợi nhuận; số doanh nghiệp bị lỗ
trong ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, khách sạn chiếm tới 41%. Công
nợ trong DNNN hiện quá lớn: nợ phải thu chiếm tới trên 60% và nợ phải trả
bằng 124% vốn nhà nước trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ quá hạn hoặc
khó đòi chiếm tỷlệ lớn. Số này đặc biệt nhiều trong các DNNN do địa
phương quản lý. Do tình hình tài chính như vậy, nhà nướcvẫn phải thường
xuyên dành tiền hỗ trợ cho DNNN: trong 3 năm 1997-1999 ngân sách nhà
nước đã đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp gần 8000 tỷ đồng trong đó có

hình đất nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì
các DNNN
2.3 Về cơ cấu DNNN
Khu vực DNNN có cơ cấu còn bất hợp lý. Cơ cấu ngành, vùng, quy mô
còn bất hợp lý đều chưa được chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại. Trước hết
tỷ trọng DNNN ( xét về số lượng ở khu nông nghiệp ( 25%) và thương mại,
dịch vụ (40%) là quá lớn trong khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi DNNN, đặc
biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Cơ cấu cấp quản lý cũng bất hợp lý ở
chỗ tỷ trọng doanh nghiệp thuộc địa phương quản lý qua cao ( trên 60% về
số lượng ). Về quy mô, tính đến 1-9-1999 số doanh nghiệp có quy mô dưới 5
tỷ đồng chiếm 65%, trong đó gần 3/4 là doanh nghiệp địa phương, còn có
đến 1314 doanh nghiệp (23%) có vốn dưới 1 tỷ đồng. Số doanh nghiệp có
vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 21%. Với cơ cấu bất hợp lý nêu trên DNNN
khó có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và kỳ vọng về vai trò mà đảng và
nhà nước mong đợi.
3. Những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của các DNNN
3.1 Đầu tư sai
Trong xây dựng mới và cải tạo các DNNN không tính đến sự biến động
của thị trường. Đầu tư sai bắt nguồn từ những quyết định từ thời bao cấp, ví
dụ công ty gang thép Thái Nguyên, công ty dâu tơ tăm, một số mỏ và nhà
máy hoá chất … Tuy nhiên sau nhiều năm đổi mới theo cơ chế thị trường
việc đầu tư sai vẫn tiếp diễn. Sự quản lý của nhà nước không đủ hiệu lực để
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ

25

ngăn chặn tình trạng đầu tư không tính đến thị trường, không cân đối với
nguyên liệu, cũng không tính đến giá thành. Có những ngành hoặc địa
phương vẫn muốn tranh thủ càng nhiều vốn nhà nước càng tốt để xây dựng
cho được những doanh nghiệp không thật cần thiết của ngành mình, địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status