BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: "Vận dụng lý luận học thuyết về hình thái
kinh tế xã hội vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam"
không ít cách tiếp cận, khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội. Xuất
phát từ những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự
phân chia lịch sử tiến hoá của xã hội theo những cách khác nhau.
Mọi người cũng đã quen với khái niêm thời đại đồ đá, thời đại đồ
đồng, thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nước và gần đây là các nền
2
văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu
công nghiệp.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá trình lịch
sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật
để nghiên cứu lịch sử xã hội, đưa ra quan điểm duy vật về lịch sử và đã
hình thành nên học thuyết "hình thái kinh tế xã hội". Hình thái kinh tế - xã
hội là một khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng
giai đoạn nhất định. Với một điều quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó
phù hợp với một trình độ nhất định củalực lượng sản xuất và một kiến trúc
thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuât ấy.
Là biểu hiện tập trung của quan niệm duy vật về lịch sử, lý luận hình
thái kinh tế - xã hội nghiên cứu lịch sử xã hội trên cơ sở xem xét cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng
tầng, tức toàn bộ các yếu tố cấu trúc thành bộ mặt của thời đại: Chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật Do đó, nó cắt nghĩa xã hội
được sáng tỏ hơn, toàn diện hơn, chỉ ra cả bản chất và quá trình phát triển
của xã hội. Loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội theo trật tự
từ thấp đến cao đó là. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
chiến hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và ngày nay đang quá độ lên
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế - xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và diệt
phong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội chế độ xã hội mới
lượng sản xuất mà trước hết là công cụ.
Công cụ lao động phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ
sản xuất hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan, phải xoá bỏ quan hệ sản
xuất cũ, thay thế bằng quan hệ sản xuất mới.
Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất
(phù hợp) nhưng do mâu thuẫn của lực lượng sản xuất (đông) với quan hệ
sản xuất (ổn định tương đối) quan hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất (không phù hợp). Phù hợp là
không phù hợp là biểu hiện mâu thuẫn biện chứng củalực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn bao hàm mâu thuẫn.
Khi phù hợp cũng như nếu không phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ
sản xuất luôn có tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất thể hiện
trong nội dung sự tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, quy định múc
đích xã hội của sản xuất, xu hướng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó
hình thành những yếu tố tồn tại thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển của lực
4
lượng sản xuất. Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ sản xuất bao giờ
cũng thông qua các quy luật kinh tế - xã hội đặc biệt là quy luật kinh tế cơ
bản. Phù hợp và không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất là khách quan và phổ biến của mọi phương thức sản xuất.
Sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất như sự thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của sản xuất
xã hội. Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ
sản xuất được Mác - Anghen khái quát thành quya luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và biên đổi của quan hệ
sản xuất. Khi không thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát
ưu giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm trách nhiệm từ sản xuất
mở rộng.
Mở ra sau những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh
thần với người lao động.
Vậy quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của người sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội. Do
tác động của quy luật này xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến
cao của các phương thức sản xuất hay chính alà của các hình thái kinh tế -
xã hội. Dưới những hình thức và mức độ khác nhau thì con người có ý thức
được hay không và quy luật cốt lõi này như sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng
chảy tiến hoá của lịch sử không chỉ những lĩnh vực kinh tế mà cả các lĩnh
vực ngoài kinh tế, phi kinh tế.
2. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mỗi hình thái kinh tế -
xã hội
Không chỉ đặc trưng bằng quan hệ sản xuất mà nó còn đặc chưng bởi
một kiến trúc thượng tầng xây dựng trên những quan hệ sản xuất của chính
nó.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết
chế tương ứng và những quan hệ nội tạng của thượng tầng, đó là những
quan điểm tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,
triết học và các thể chế tương ứng như Nhà nước Đảng phái, giáo hội và
các đoàn thể quần chúng.
6
Kiến trúc thượng tầng được hình thành trên tổng hợp toàn bộ những
quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định
người ta gọi đó là cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng bao gồm những quan hệ sản xuất đang giữ địa vị thống
tầng cũ bị xoá bỏ thì kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và thay thế vào
đó là kiến trúc thượng tầng mới được hình thành từng bước thích ứng với
cơ sở hạ tầng mới.
Sự thống trị của giai cấp thống trị cũ đối với xã hội cũ bị xoá bỏ, thay
bằng hệ tư tưởng thống trị khác và các thể chế tương ứng của giai cấp
thống trị mới. Đương nhiên không phải "khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì lập
tức sẽ dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng". Trong quá trình hình
thành và phát triển củ kiến trúc thượng tầng mới, nhiều yếu tố của kiến trúc
thượng tầng cũ còn tồn tại gắn liền với cơ sở kinh tế đã nảy sinh ra nó. Vì
vậy giai cấp cầm quyền cần phải biết lựa chọn một số bộ phận hợp lí để sử
dụng nó xây dựng xã hội mới.
b) Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của kiến trúc thượng
tầng với cơ sở hạ tầng.
Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng không phải phụ thuộc một
chiều vào cơ sở hạ tầng mà trong quá trình phát triển, chúng có những tác
động qua lại với nhau và ảnh hưởng lớn đến cơ sở hạ tầng cũng như các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện
trên các mặt sau:
Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng là thực hiện nhiệm
vụ đấu tranh thủ tiêu cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ, xây dựng
bảo vệ củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng mới. Kiến trúc thượng tầng
chính là công cụ của giai cấp thống trị, các bộ phận khác của kiến trúc
thượng tầng cũng có tác dụng mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng nhưng thường
những tác động ấy phải thông qua hệ thống chính trị, pháp luật hay các thể
chế tương ứng khác.
Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thượng tầng không
giảm đi, mà ngược lại tăng lên và tác động mạnh đến tiến trình lịch sử. Trái
lại kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội chủ
kỳ mông muội của loài người. Sau đó đến hình thái kinh tế xã hội: Chiếm
hữu nô lệ con người đã văn minh hơn họ không còn ăn tươi sống và đã biết
lao động tạo ra của cải, xã hội chế độ tư hữu. Xã hội bắt đầu phân chia
thành kẻ giầu người nghèo. Hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, quan hệ
giữa hai giai cấp đó là quan hệ bóc lột hoàn toàn của cải vật chất và con
người. Nô lệ biến thành công cụ lao động. Vấn đề giai cấp khi lên đến xã
hội phong kiến bản chất vẫn là quan hệ bóc lột những sự bóc lột thể hiện
9
qua sự cống nạp. Người nông dân, tá điền phải làm thuê và nộp tô thuế cho
quan lại, địa chủ, song họ có một chút quyền lợi là được tự do.
Hình thái kinh tế xã hội: Tư bản chủ nghĩa ra đời đưa loài người lên
nấc thang cao hơn của nền văn minh. Xã hội đã phong phú hơn về giai cấp.
Giai cấp thống trị là giai cấp cơ bản. Thủ đoạn bóc lột của chúng tinh vi
hơn rất nhiều lần so với sự bóc lột trước đó trong các xã hội chiếm hữu nô
lệ và phong kiến. Người công nhân làm thuê bị bóc lột sức lao động qua giá
trị thặng dư, sự làm việc quá sức Mặc dù tư bản xã hội chủ nghĩa tạo ra
một lượng của cải vật chất rất lớn cho xã hội, nhưng bản chất bóc lột cùng
những mâu thuẫn khác là không thể điều hoà. Phần đông con người trong
xã hội tư bản chủ nghĩa đều bị mất quyền lợi mất bình đẳng. Cả ba chế độ
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa có những đặc điểm riêng nhưng nó đều
là chế độ có khác những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà giữa giai
cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, và dựa trên sự tư hữu về sản xuất. Giai
cấp bóc lột là giai cấp thống trị, mọi hoạt động về mặt kinh tế chính trị xã
hội đều chỉ phục vụ cho quyền lợi của chính họ.
Một hình thái kinh tế xã hội tồn tại được thì nó phải có những mặt tốt
nhất định của nó chúng ta cũng không thể phủ nhận những thành quả mà
các hình thái kinh tế xã hội nói trên đã đạt được. Xã hội cộng sản nguyên
thuỷ là chế độ xã hội đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của loài
an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, và
nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đây là những nhận định rất quan trọng đối với
những bước đi tiếp theo trong sự nghiệp đổi mới.
Công nghiệp hoá là một quá trình nhằm đưa nước ta từ một nền công
nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại.
Hiện đại hoá là một mục tiêu cơ bản của văn minh hiện đại, thể hiện
xu hướng lịch sử tiến bộ và phát triển.
Đó là nhiệm vụ quan trọng có tầm cỡ to lớn, đòi hỏi phải đi từ cái cụ
thể đến cái tổng thể. Trước hết cần hiểu rõ thực trạng và những định hướng
trung của Việt Nam trình độ lực lượng sản xuất ở mức thấp, quá độ lên chủ
nghĩa xã hội lại không phải từ chủ nghĩa tư bản mà từ bước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản với tư cách là một chế độ xã hội. Vì
vậy cần phải nhận thức đầy đủ và sáng tạo các quy luật khách quan, trong
đó quy luật sản xuất phù hợp với tính chất trình độ lực lượng sản xuất là
quy luật cơ bản nhất nhằm cải tạo các thành phần kinh tế khai thác mọi
tiềm năng sản xuất. Phát huy tính chủ động sáng tạo của chủ thể các thành
phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế quốc doanh phải
11
phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự có tác dụng chủ đạo với các
thành phần kinh tế khác.
Chúng ta phải khắc phục quan niệm bỏ qua chủ nghĩa tư bản một cách
giản đơn. Phải khai thác sử dụng tối đa chủ nghĩa tư bản làm khâu "trung
gian" để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội như Lênin đã chỉ ra.
Chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việc sử dụng
các hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta mà Đại hội VI vạch ra là đúng đắn. Đại hội VII của Đảng
cũng đã chỉ rõ " phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất thiết lập
tăng. Kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước đời sống xã hội thấp kém,
nghèo khó. Trước đây chúng ta do không thấy được quy luật lực lượng sản
xuất phát triển sẽ kéo theo quan hệ sản xuất phát triển nên chúng ta đã đi
ngược lại quy luật này và muốn áp đặt một quan hệ sản xuất để kéo theo sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Sau khi tiến hành đổi mới chúng ta đã
tuân theo đúng quy luật, chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế nhiều thành
phần hoạt động trên cơ chế thị trường làm cho năng suất lao động tăng, lực
lượng sản xuất phát triển do đó quan hệ sản xuất càng phát triển theo. Mặt
khác phải tạo ra yếu tố tích cực biến các yếu tố chủ quan vì nó có tính độc
lập tương đối vì rằng ý thức có tính vượt trước nên quan hệ sản xuất có khả
năng vượt so với sản lượng sản xuất vượt trước ở đây là sự vượt trước có
tính phù hợp, vượt trước dựa trên cơ sở suy luận khoa học lôgic, dựa trên
các quy luật và cao hơn là sự vượt trước kiến trúc thượng tầng so với cơ sở
hạ tầng. Nó cũng phải dựa trên sự phù hợp với quy luật và cơ sở lý luận
khoa học logic.
Đáng tiếc là chúng ta vì muốn rút ngắn thời kỳ quá độ chúng ta đã
tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan và chính trị cho rằng chỉ cần nội dung và sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản thì chúng ta có thể làm cho quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Kết quả cuối cùng đem lại là kinh tế quốc doanh kém hiệu quả còn
kinh tế ngoài quốc doanh lại bị kìm hãm không ngóc đầu lên được. Nền
kinh tế tuy đạt được độ tăng trưởng nhất định nhưng sự tăng trưởng đó
không có phát triển vì dựa vào bao cấp, bởi chi ngân sách lạm phát vay nợ
nước ngoài. Con người không được giải phóng và bị lầm vào tình trạng
khủng hoảng lạc hậu trì trệ làm tăng chi phí lớn của cải xã hội.
Đến khi áp dụng chính sách khoán đất cho nhân dân tự trồng trọt, phá
bỏ hợp tác thì nên Nhà nước đã có những bước chuyển mình rất rõ rệt.
Trong công nghiệp.
13
nước đang phát triển so với các nước phát triển . CNH - HĐH là để xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, CNH - HĐH đất nước
thì có tránh được nguy cơ tụt hậu về kinh tế và sự lạc hậu về tiến bộ xã hội.
14
Khó khăn:
Một vấn đề nổi cộm "chúng ta còn quá lạc hậu, cần phải trang bị mới
hiện đại".
Về nông nghiệp: cho đến nay chúng ta vẫn trong tình trạng lạc hậu về
năng suất vẫn thấp (một lao động trong nông nghiệp trung bình nuôi 2,5 -3
người so với ở Mỹ, một lao động nông nghiệp nuôi 30 - 40 người). Nông
nghiệp chưa thể là chỗ dựa để nâng nhu cầu bình quân đầu người một cách
đáng kể nông sản hàng hoá vẫn chưa trở thành nguồn chính mà ta có thể
dựa vào đó để xây dựng công nghệ và cơ cấu hạ tầng. Thuế thu nhập từ
nông nghiệp không đáng kể.
+ Do chúng ta tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong điều
kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại nên đã gặp nhiều thử thách
gay gắt.
Kết cấu kinh tế ngày càng tăng giữa các nước giàu và nghèo. Ta mất
dần lợi thế các tài nguyên và lao động. Sự chênh lệch khá lớn về mức sống.
Kết cấu khoa học - kỹ thuật ngày càng lớn.
Thuận lợi :
Nhờ chuyển giao công nghệ nên ta chỉ việc ứng dụng những thành tựu
khoa học - công nghệ. Có thể chọn công nghệ mới, phù hợp để phát triển.
Ta có những bài học kinh nghiệm từ các nước đi trước, không mắc
phải sai lầm như những nước đó
Dễ hợp tác để tiến hành công nghiệp hoá.
Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, con người Việt Nam thông
minh sáng tạo lại có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay không phải đơn thuần là sự phát
triển mạnh mẽ ngành công nghiệp mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phù hợp với sự đổi mới cơ bản về kinh tế và công nghiệp hiện đại
hoá tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Từ đó tạo ra được sự cân đối hài hoà
giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc doanh.
Phương hướng cụ thể.
Điều đầu tiên cần phải giải quyết là chuyển đổi cơ cấu "công - nông
nghiệp và dịch vụ" phù hợp với xu hướng "mở" của nền kinh tế. Vấn đề
này được giải quyết tạo nền tảng vững chắc cho việc phân công lại lao
động hợp lí trong các ngành kinh tế và điều chỉnh hợp lí với cơ cấu đầu tư.
b) Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
16
(Sự cần thiết): Nước ta hiện nay là một Nhà nước so với 80% dân cư
đang sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp. Đây là một địa bàn tập trung
đại bộ phận người nghèo. Vì vậy, phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội
nông thôn đã đang và sẽ là mối quan tâm hàng đầu của chúng ta. Song
nông nghiệp không thể tự mình thay đổi, đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật
công nghệ, không có khả năng tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều công
ăn việc làm cho nông dân mà phải có tác động mạnh mẽ của công nghiệp,
dịch vụ chỉ có như vậy sẽ xoá bỏ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế
nông nghiệp sản xuất nhỏ xoá đói giảm nghèo nâng cao mức tạo nhập bình
quân.
Chính sách đường lối phát triển:
Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp phương hướng hàng chiến
lược đó là thay thế nhập khẩu và có hiệu quả thấp đến hàng mạnh ra xuất
khẩu. Nhiều người cho rằng đây là hướng sai lầm nhưng thực tế không phải
vậy.
Nông nghiệp là ngành sản xuất có đặc trưng là sản phẩm của nó cần
nước ta đòi hỏi các nội dung của công nghiệp hoá cũng như phải thường
xuyên thay đổi và bổ sung.
Các nội dung trong công nghiệp hoá phải liên hệ chặt chẽ và bổ sung
cho nhau quan trọng nhất là luôn phải chú ý đến việc xây dựng quan hệ sản
xuất để phù hợp với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất, xây
dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Nước ta coi phát triển con người là một mục tiêu đầu tiên, là động lực
căn bản để phát triển xã hội, lấy việc nâng cao mặt bằng dân trí và đào tạo
bồi dưỡng nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển và xem
đó là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân của tất cả
thành phần kinh tế, trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cán bộ và công
chức nhà nước nói chung, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế nói riêng
là phương pháp chủ yếu và quyết định.
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xây dựng nhiệm vụ chiến lược chế độ
nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng thành
thạo chuyên môn nghiệp vụ có khả năng và trình độ để đáp ứng nhu cầu
của tình hình nhiệm vụ trong thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá- hiện đại hoá.
18
Trong quá trình tiến hành cách mạng có những lúc thuận lợi, bên cạnh
đó có rất nhiều khó khăn đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn nhận và
phương pháp khoa học sáng tạo, phải có quan điểm khách quan toàn diện
phát triển đưa chính sách cụ thể là thực tiễn.
Luôn luôn đề cao vai trò thực tiễn nhiều không coi nhẹ lí luận. Phải
luôn xây dựng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng
và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vừa đổi mới
trong thực tiễn, tiến hành tổng kết thực tiễn, khắc phục các khuynh hướng
sai lầm như giáo điều, xét lại, chủ quan duy ý chí
Đó cũng tức là phải vận dụng sáng tạo quán triệt hơn nữa phép biện
chứng Mác xít trong quá trình đổi mới.
C. Kết luận
Có một nhà báo đã nhận định về nước ta rằng Việt Nam "con Rồng
nhỏ đang chuyển mình".
Theo em, nói như vậy hoàn toàn không phải là sai. Nước ta với biết
bao tiềm năng sẽ trở thành giàu mạnh nếu phát triển đúng hướng của những
con đường duy nhất đó là tiến lên chủ nghĩa xã hội như Đảng và Nhà nước
ta đã chọn thông qua việc công nghiệp hoá kết hợp khôn ngoan với hiện đại
hoá là một cơ hội để nước ta phát huy hết khả năng, khẳng định vị trí của
mình trong khu vực và trên thế giới. Và quả thực từ một nước rất nghèo
nàn lạc hậu đến nay ta đã không còn là nước nghèo trong các nước nghèo
nữa, chúng ta đã đạt được những thành quả nhất định trong nhiều lĩnh vực.
Song sẽ là ảo tưởng nếu mù quáng cường điệu và chỉ nhìn vào những
thành tựu có được mà không tiếp xúc nhận thức tình hình thực trạng nước
ta so với nước khác tiến bộ hơn để vận động đưa ra những giải pháp đúng
đắn thì nước ta sẽ tiếp tục tụt hậu và rơi vào tình trạng đói nghèo.
Hiện tượng con rồng châu Á không thể xảy ra nếu còn rất nhiều khó
khăn, lạc hậu, nợ nần chồng chất, bùng nổ dân số, xung đột triền miên về
tôn giáo và sắc tộc Cho nên một lần nữa đòi hỏi chúng ta phải sáng suốt,
linh hoạt trong sự đổi mới nhưng luôn luôn phải bám sát lý luận hình thái
kinh tế - xã hội Mác - Lênin.
20