Tiểu luận kinh tế chính trị:
Đề tài: Thực trạng công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn của nước ta trong giai đoạn
hiện nay và các giải pháp của quá trình công
nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
PHẦN MỞ ĐẦU
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể
cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ
yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp
nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn
tích luỹ cho công nghiệp hoá, phát triển kinh tế. Kinh nghiệm của Mỹ, Nhật
Bản đã đạt đến trình độ cao, cũng như các nước đã trở thành nước công
nghiệp mới, trong những thập niên gần đây vẫn rất coi trọng nông nghiệp,
phần gia tăng nguồn hàng xuất khẩu. Không những thế nông nghiệp, nông
thôn còn là thị trường tiêu thụ hàng hoá rộng lớn của công nghiệp.
Để nghiên cứu thực trạng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
nước ta hiện nay chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu từ nhiều nguồn tài liệu, kể
cả những số liệu tự điều tra và tính toán theo phương pháp mới. Đặc biệt coi
trọng phương pháp phân tích thống kê chúng ta có thể đánh giá thực trạng
nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, thực chất của những thành tựu đã
đạt được, từ đó nêu ra một số giải pháp giải pháp với mong muốn được góp
một tiếng nói vào những cố gắng nỗ lực chung của đất nước, đưa nông
nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giàu
có văn minh.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quy luật kinh tế phổ biến, là một
tất yếu khách quan đối với các nước kinh tế lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để hoàn thành sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đề án này ta chỉ nghiên cứu thực
trạng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn của nước ta trong giai
đoạn hiện nay và các giải pháp của quá trình công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, giảng viên Phạm Thành người đã
giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH CNH - HĐH
NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CNH - HĐH NỀN
KINH TẾ QUỐC DÂN NÓI CHUNG VÀ NÔNG NGHIỆP NÓI RIÊNG.
các nguồn lực bên trong và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực bên ngoài.
Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng là một
bước củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, làm cho nền
sản xuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất văn hoá tinh thần
của nhân dân không ngừng được nâng cao. Cũng trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá khối liên minh công nhân với nông dân và trí thức ngày
càng được củng cố, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội được nâng cao, quan hệ về kinh tế giữa các dân tộc, giữa
các vùng đất nước ngày càng phát triển đồng đều. Việc xây dựng nền văn hoá
mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ngày càng có nhiều điều kiện để thực
hiện, quốc phòng và an ninh của đất nước ngày càng vững mạnh việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại và sự tham gia vào phân công và hợp tác kinh tế
quốc tế ngày càng thu nhiều hiệu quả hơn. Vì vậy thành công của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự
thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa
chọn. Chính vì thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân được
coi là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
- Khi xét trên góc độ môn kinh tế chính trị:
Mỗi chế độ xã hội đều phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chấ
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
của lực lượng sản xuất xã hội được sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp
ứng nhu cầu xã hội. Cơ sở vật chất kỹ thuật của các xã hội trước chủ nghĩa tư
bản là một nền sản xuất nhỏ dựa trên lao động kỹ thuật thủ công, năng suất
lao động thấp, tái sản xuất giản đơn là chủ yếu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là một nền sản xuất lớn đại
công nghiệp dựa trên lao động bằng máy móc có năng suất lao động cao nên
tái sản xuất mở rộng là chủ yếu nhưng vì dựa trên chế độ chiếm hữu tự nhiên
phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nền dân chủ, công bằng, văn minh,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông
thôn.
Khái niệm trên càng khẳng định tầm quan trọng của công nghiệp hoá-
hiện đại hoá, nó là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào,
nhất là những nước có điểm xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp kém phát
triển, muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại.
Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng 80% dân số làm nghề nông, tuyệt đại
bộ phận dân cư và lao động xã hội sống ở nông thôn, sản xuất nhỏ với năng
suất thấp đời sống còn nhiều khó khăn nên nền kinh tế của nước ta còn chậm
phát triển. Vì vậy muốn tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững đất
nước ta phải từng bước tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đặc
biệt là công nghiệp hoá nông nghịêp và nông thôn.
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã chỉ ra rằng không phát
triển nông thôn thì không một nước nào có thể phát triển bền vững, ổn định
với tốc độ cao được.
Chính vì vậy ở nước ta hiện nay vấn đề nông nghiệp và nông thôn là
vấn đề quan trọng luôn được quan tâm. Tại đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng
sản Việt Nam đã khẳng định đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta trong đó nêu rõ việc phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
II. NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ
NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
So với các nước ở Châu Á và Đông Nam Á, Việt Nam tiến hành công
nghiệp hoá hiện đại hoá tương đối muộn hơn. Do tiến hành chậm hơn nên
chúng ta có được lợi thế của nước đi sau và rút được bài học kinh nghiệm
không chủ của các nước tiên tiến mà ở ngay cả nước tiến hành trước ta không
lâu. Chính vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đã
Công nghiệp chế biến rau quả ở nước ta còn ít phát triển, một số xí
nghiệp chế biến ở các thành phố cũng được sử dụng hết công suất, cơ cấu mặt
hàng còn đơn điệu.
Công nghiệp chế biến chè bắt đầu khởi sắc, trong đó các xí nghiệp quốc
doanh tập trung sản xuất chế biến chè xuất khẩu là chủ yếu.
Công nghiệp chế biến cà phê có các xí nghiệp tập trung của các nông
trường và các cơ sở chế biến gia đình quy mô nhỏ phân tán. Có một vài xí
nghiệp tư nhân quy mô lớn.
Công nghiệp chế biến thuỷ sản có bước phát triển mới trong các thành
phần kinh tế. Nhiều xí nghiệp chế biến đông lạnh quốc doanh của các địa
phương được xây dựng phục vụ chế biến tôm, cá xuất khẩu. Các hộ tư nhân
mở nhiều cơ sở chế biến với các quy mô khác nhau để chế biến nước mắm
tôm cá khô, rau câu, đông lạnh…vv.
Phát triển nghề dệt, may mặc, thêu ren, nghề thủ công mỹ nghệ nghề
đóng đồ gỗ cao cấp, chạm khắc gỗ, khảm trai, sơn mài…
- Nghề dệt, may mặc, thêu ren: khi chuyển sang cơ chế thị trường, tổ
chức sản xuất được đổi mới, các hợp tác xã dệt cũ trước đây sản xuất tập
trung, nay đưa khung dệt về cho các hộ gia đình, còn hợp tác xã huy động vốn
cổ phần để làm dịch vụ đầu vào, đầu ra. Ở đây còn hình thành các hộ gia đình
sản xuất độc lập , các tổ hợp và công ty trách nhiệm hữu hạn, và các hộ đầu tư
vốn kinh doanh nguyên liệu, thiết bị và tiếp thu tìm kiếm thị trường tiêu thụ
sản phẩm.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Nghề may quần áo: nhiều cơ sở may sẵn quần áo trẻ em, người lớn đã
xuất hiện và sản phẩm của nó được tiêu thụ trên thị trường ở thành thị và
nông thôn. Trong cơ chế thị trường nhiều người đã năng động tìm mẫu mã và
thị trường trong nước và ngoài nước, bỏ vốn mua nguyên liệu, thuê gia công,
lấy sản phẩm bán. Hộ có lao động và máy nhưng ít vốn thì đi may thuê nhận
vải cắt sẵn về may.
Nghề thủ công mỹ nghệ: các nghề thủ công mỹ nghệ như đồ gỗ cao cấp,
nông nghiệp không đáp ứng được yêu cầu về giống, phân bón, thuốc trừ sâu,
xăng dầu cho các hộ nông dân, nên đến nay, phần lớn các hộ nông dân sử
dụng dịch vụ tư nhân trong lĩnh vực này.
Trong các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ở hầu hết các làng nghề
đều có một số hộ gia đình có vốn và có năng lực kinh doanh đứng ra đảm
nhiệm việc cung cấp vật tư nguyên liệu và mua lại sản phẩm của các hộ gia
đình. Ở nông thôn đang hình thành các đại lý, cửa hàng tư nhân cung cấp vật
tư kỹ thuật, phụ tùng, máy móc và cả những cây xăng cung cấp xăng dầu cho
tàu thuyền, ô tô, máy kéo ở các thị trấn, các chợ nông thôn, các đầu mối giao
thông.
- Dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn.
Các tổ chức hoạt động dịch vụ kỹ thuật có chiều hướng phát triển ở
nông thôn. Đây là xu thế tất yếu của quá trình phân công hợp tác sử dụng lao
động trong quá trình công nghiệp hoá.
Các dịch vụ kỹ thuật được thực hiện trong sản xuất, chế biến nông sản
cũng như trong đời sống nông thôn. Do nhu cầu thực tế của cuộc sống, ở nông
thôn đã và đang hình thành các tổ chức lực lượng kỹ thuật thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau nhưng phổ biến là tổ chức dịch vụ kỹ thuật tư nhân.
Dịch vụ thuỷ nông, do các công ty thuỷ nông đảm nhiệm cung cấp nước
ở các công trình đầu mối, còn các xã và hợp tác xã đảm nhiệm phần nội đồng,
nhưng ở nhiều nơi hợp tác xã đã khoán cho một số hộ gia đình làm dịch vụ
đưa nước vào ruộng.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Trong các dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi cũng phát triển dịch vụ cung cấp
giống lợn và gia cầm cho các hộ chăn nuôi của các trại giống quốc doanh và
tư nhân.
Dịch vụ thụ tinh nhân tạo và dịch vụ thú y ở nông thôn một phần do các
hợp tác xã thực hiện, một phần do tư nhân thực hiện.
Dịch vụ điện thoại cũng bắt đầu trở thành nhu cầu cấp thiết đối với
những vùng nông thôn có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và cả những
3
nước, có 6 cái hỏng nặng, 26 cái hỏng
cục bộ, trong 960 hồ đập cỡ nhỏ, dung tích dưới 2 triệu m
3
nước có 62 cái
hỏng nặng, 91 cái hỏng cục bộ. Về kênh mương tưới và tiêu nước, nhiều đoạn
cần phải nạo vét, tu sửa. Để khắc phục tình trạng trên, ở một số địa phương
như Hà Tây, Thanh Hoá đã bắt đầu xây dựng bờ mương bằng gạch hoa, xi
măng thay cho lớp đất. Riêng thành phố Hải Phòng đề ra mục tiêu phấn đấu
kiên cố hoá kênh mương 60% vào năm 2000 và 100% vào năm 2005, với vốn
đầu tư 144 - 224 tỷ đồng. Trong đó nông dân đóng góp 30%. Theo tính toán
của ngành thuỷ lợi: kiên cố hoá kênh mương bằng bê tông sẽ tiết kiệm 25 -
30% đất làm kênh mương tiết kiệm 15 - 20% lượng nước tưới, 20 - 25% điện
năng để bơm nước, thời gian tưới giảm 50 - 70% riêng thành phố Hải Phòng
mỗi năm lợi được 4 - 5tỷ đồng.
- Xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông nông thôn.
Trong thời gian 1991 - 1995, mạng lưới giao thông nông thôn có bước
phát triển nhanh. Cả nước đã huy động được 4.260tỷ đồng, trong đó nhân dân
các địa phương đã đóng góp 2.200tỷ đồng với 146 triệu ngày công xây dựng
trên 20.000 km đường trên địa bàn nông thôn từ huyện đến xã và các nông
thôn, áp, và 18.260 cây cầu các loại với tổng chiều dài 213.778mét. Cho đến
1995, 9.146 xã có đường ô tô đến trung tâm và 15 tỉnh thành phố có đường ô
tô đên 100% số xã. Thái Bình là tỉnh dẫn đầu phong trào giao thông nông
thôn trong cả nước. Trong 5năm 1991 - 1995, Thái Bình đã huy động 9 triệu
ngày công và đầu tư 219,9 tỷ đồng, đã xây dựng đường ô tô về 100% số xã,
nhựa hoá 100% đường từ tỉnh về huyện, 279/285 xã có đường rải đá hoặc rải
nhựa, nhiều làng xã, thôn xóm có đường bê tông, gạch.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Phương tiện giao thông vận tải ở nông thôn đến nay cũng được tăng
cường cả về số lượng và loại hình. Cùng với sự tồn tại của các phương tiện
lượng các trạm biến áp đạt 17.174 MVA. Tuy nhiên sản lượng điện bình quân
đầu người mới đạt 200kwh/ năm.
Điện đưa về nông thôn miền Bắc nước ta những năm 60 mới chủ yếu
cho trạm bơm điện chứ chưa phải để mục đích cho thắp sáng ở nông thôn.
Trong thời gian 1991 - 1995, mạng lưới điện nông thôn nước ta phát
triển nhanh, trên địa bàn tương đối rộng, với mức độ khác nhau ở nhiều vùng
trong nước, trong đó đồng bằng sông Hồng đạt mức cao nhất. Điện nông thôn
lấy từ nguồn điện lưới quốc gia và các nguồn điện phát tại chỗ.
Ở các vùng miền núi, điện lưới quốc gia cũng đang được đưa về các
tỉnh, huyện, nhưng điện lưới đưa về các làng bản thì còn ít. Tỉnh Hoà Bình là
nơi xây dựng thuỷ điện sông Đà đến cuối năm 1993 trong số 196 xã mới có
27 xã có điện.
Về trang bị điện cho nông thôn nói chung theo số liệu của cuộc tổng
điều tra nông nghiệp và nông thôn do tổng cục thống kê tiến hành năm 1994,
mức độ trang bị điện năng cho nông nghiệp và nông thôn các vùng trong cả
nước như sau: cả nước có tổng số xã có điện là 5.305 xã chiếm 60,4% số xã
của cả nước, số hộ nông dân có điện là 6.098.100 chiếm 53%.
- Phát triển mạng lưới bưu chính - viễn thông nông thôn.
Hiện nay ở nước ta do nông nghiệp đi vào sản xuất nông sản hàng hoá
nên đã có nhu cầu phát triển mạng lưới bưu chính - viễn thông nông thôn, các
phương tiện truyền thanh, truyền hình làm cầu nối về thông tin giữa các vùng.
Điện khí hoá nông thôn được mở rộng là cơ sở thuận lợi cho việc phát triển
mạng lưới bưu chính viễn thông nông thôn.
Đến năm 1994, trong cả nước có 1.405 xã có trạm bưu điện và 3.395 xã
có trạm truyền thanh.
- Phát triển mạng lưới giáo dục , y tế nông thôn.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Mạng lưới giáo dục phát triển nâng cao dân trí, là trực tiếp phục vụ cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Hệ thống giáo dục nông thôn nước ta bao gồm từ mẫu giáo nhà trẻ, đến
có điện, thuốc men thiếu, nguồn thuốc nam kém phát triển.
Trình độ thầy thuốc ở nông thôn còn thấp, nên hành nghề còn hạn chế,
chưa có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ và đời sống gặp nhiều khó khăn.
- Cải thiện điều kiện sống ở nông thôn.
Trong thời gian gần đây, bộ mặt nông thôn ở nhiều vùng đã có những
thay đổi rõ nét. Ngoài hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, viễn thông, giáo
dục y tế ở nông thôn có sự phát triển, cơ sở vật chất của các hộ cư dân nông
thôn cũng đã được cải thiện.
Về nhà ở: cả nước hiện nay có 12.114.079 nhà ở nông thôn trong đó có
1.446.771 nhà kiên có 5.522.183 nhà bán kiên cố.
Nhà cửa ở nông thôn đang được xây dựng theo hướng tập trung ở ven
đường giao thông, ven kênh rạch, ở những ngã ba, ngã tư, ở các tụ điểm thuận
tiện giao thông, hình thành các phố làng, phố chợ, thị trấn, tụ điểm công
thương nghiệp của xã hay tiểu vùng.
Vấn đề cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn cũng được Nhà nước
quan tâm, từ đầu những năm 80 đến nay chính phủ đã đề ra và chỉ đạo thực
hiện chương trình nước sạch nông thôn, có sự tài trợ 52% kinh phí của Quỹ
nhi động liên hiệp quốc.
Ở Miền Trung, riêng tỉnh Phú Yên đã xây dựng 1.100 nguồn nước sạch
trong năm 1995 cho các vùng nông thôn, trong đó 70% là giếng khoan lắp
bơm tay.
Đánh giá về mức sống của cư dân nông thôn, ngoài nhà cửa và các điều
kiện khác nhau, còn phải kể đến đồ dùng sinh hoạt trong các gia đình nông
dân. Thời gian 1991 - 1995, tiện nghi sinh hoạt trong các hộ gia đình nông
thôn có nhiều thay đổi. Đến năm 1994 ở nông thôn cả nước, ngoài xe đạp là
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
phương tiện đi lại phổ biến, ở vùng đồng bằng mỗi nhà thường có một - hai
xe đạp, nhiều nhà có quạt điện, còn có 4.466.108 máy thu thanh, 2.541.373
máy thu hình, tính ra máy thu thanh chiếm 37,30% số hộ nông thôn.
Các phương tiện nghe, nhìn và xe gắn máy ở miền Đông Nam Bộ bình
tế xã hội, chuẩn bị bước vào thời kỳ công nghiệp hoá.
Sản xuất lương thực có tốc độ tăng trưởng vượt mức tăng dân số, nên
nước ta về cơ bản đã vượt qua cửa ải lương thực từ chỗ phải nhập khẩu, tiến
lên xuất khẩu gạo. Tổng sản lượng lương thực năm 1991 là 21,9 triệu tấn,
năm 1995 tăng lên 27,42 triệu tấn. Sản lượng lương thực bình quân đầu người
năm 1991 là 324,9 kg, năm 1995 tăng lên 364 kg.
Sản lượng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su, cây ăn quả, rau,
đậu, đàn trâu, bò, lợn, gia cầm đều tăng.
- Bước đầu cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp.
Cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, là một nội dung quan trọng của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.
Mặc dù cơ giới hoá nông nghiệp ở nước ta được bắt đầu từ cuối những
năm 50 và phát triển tương đối mạnh vào thời gian từ 1975 - 1980 nhưng sang
đến những năm 80 thì cơ giới hóa nông nghiệp giảm sút nhiều do thiếu vốn
đầu tư, do không có người chủ quản lý thực sự.
Từ năm 1988, sau khi có nghị quyết 10 về đổi mới cơ chế quản lý nông
nghiệp, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, việc chuyển quyền sở
hữu và sử dụng máy móc nông nghiệp từ các hợp tác xã và các doanh nghiệp
quốc doanh bắt đầu diễn ra với nhiều hình thức sinh động.
Thời gian đầu, vào cuối những năm 80, do tình hình quản lý máy móc
nông nghiệp của hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, nhiều hợp tác xã đã tổ chức
khoán thầu các máy móc nông nghiệp. Các máy móc này vẫn thuộc quyền sở
hữu của tập thể, nhưng giao quyền sử dụng cho một số hộ xã viên có năng lực
quản lý, đển đảm bảo hoạt động của máy móc có hiệu quả. Xã viên nhận
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
khoán tự sửa chữa, bảo dưỡng và sử dụng máy theo kế hoạch điều hành của
hợp tác xã. Người sử dụng máy làm không tốt thì hợp tác xã thu lại giao cho
người khác. Đây là hình thức tập dượt quản lý sử dụng máy móc thích hợp
cho nông dân nhất là ở miền Bắc và đây cũng là hình thức quá độ chuyển dần
từng bước quyền quản lý sử dụng máy nông nghiệp sang cho các hộ gia đình
tác thiếu sức kéo như ở vùng đất mới đồng bằng sông Cửu Long, và vùng đất
ít canh tác nhưng có nhu cầu tăng vụ như đồng bằng sông Hồng.
+ Cơ giới hoá tưới tiêu nước:
Nhu cầu tưới tiêu nước cho lúa, mầu và cho một số cây lâu năm, cây ăn
quả ở nước ta rất cấp thiết. Cho đến nay đã xây dựng được nhiều công trình
thuỷ lợi, đảm bảo tưới nước tự chảy và các trạm bơm cố định, các máy bơm
di động để tưới nước vào ruộng và các dàn tưới phun cho các vườn cà phê,
các máy bơm nhỏ xách tay.
+ Cơ giới hoá bảo vệ cây trồng.
Khâu phun thuốc trừ sâu bệnh bảo vệ cây trồng ở nước ta hiện nay chủ
yếu vẫn là sử dụng các bình phu thuốc thủ công, đeo vai. Việc sử dụng máy
phun thuốc chạy bằng động cơ nhỏ, đao vai đã được sử dụng ở một số vùng
trồng lúa tập trung và vùng trồng cà phê, cây ăn quả, nhưng số lượng chưa
nhiều.
+ Cơ giới thu hoạch:
Cơ giới hoá thu hoạch ở nước ta hiện nay mới tập trung vào khâu đập
tuốt lúa. Cơ giới hoá đạp tuốt lúa đến nay đạt mức cao nhất là ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long với mức độ 70 - 80% khối lượng lúa thu hoạch, có vùng
đạt 90% bằng kiểu máy đạp lúa do chính nông dân đồng bằng sông Cửu Long
tuyển chọn và các xưởng cơ khí gia đình thiết kế chế tạo hàng loạt, bán cho
các hộ đi đập lúa thuê.
Cơ giới hoá cắt gặt bắt đầu trở thành nhu cầu của một số địa phương ở
vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Cửu Long. Qua nghiên cứu nhiều mẫu
máy gặt và máy gặt đập liên hợp nhập của nước ngoài, hiện nay một số cơ
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
quan khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học đang thiết kế chế tạo thử
nghiệm một số máy gặt nhỏ rải hàng và máy liên hợp thu hoạch lúa và đưa
vào thử nghiệm ở vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên.
Cơ giới hoá chế biến lương thực thời gian 1991 - 1995 đã phát triển
nhan. Ngoài các nhà máy xay quốc doanh lớn và vừa xây dựng ở các vùng, số
Thứ nhất, tạo ra việc làm tài chỗ cho một số lao động dư thừa ở nông
thôn ngay trong điều kiện ít vốn, và công nghiệp thiết bị lạc hậu. Nhiều ngành
nghề sử dụng được các loại lao động nông thôn: trai, gái, già, trẻ.
Thứ hai, ngành nghề phát triển không những thu hút được một số lao
động đáng kể vào trực tiếp sản xuất mà còn tạo ra việc làm cho một số hộ lao
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
động dịch vụ như khai thác nguồn nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, vận
chuyển, bốc vác.
Thứ ba, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sử dụng lao động rất linh hoạt
trong ngoài thời vụ nông nghiệp, ban ngày, ban đêm.
Thứ tư, tăng thu nhập cho nông dân và cư dân nông thôn những người
làm nghề tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề nói chung đều có thu nhập
cao hơn thuần nông, nâng cao mức sống hơn thuần nông.
Thứ năm, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông
thôn đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đáng kể với nhiều chủng loại, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước, phục vụ sản xuất và đời sống,
thay thế cho các mặt hàng nhập khẩu, đồng thời sản xuất ra một số mặt hàng
xuất khẩu thu được một khoản kim ngạch nhất định.
2. Về phát triển các dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn.
Đi đôi với các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động dịch vụ
kinh tế kỹ thuật cũng đã bắt đầu phát triển trong nhiều lĩnh vực, vốn, dịch vụ,
đầu vào, đầu ra phục vụ nông nghiệp và ngành nghề ngoài nông nghiệp, dịch
vụ kỹ thuật, xây dựng, giao thông vận tải.
Ở nông thôn, nhìn chung dịch vụ kinh tế kỹthuật nông thôn đã xuất hiện
và phát triển, là biểu hiện tích cực chứng tỏ kinh tế nông thôn có sự phát triển
và đi vào sản xuất hàng hoá. Hoạt động dịch vụ đã có tác dụng thúc đẩy kinh
tế nông thôn tăng trưởng và phát triển.
3. Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
Trong thời kỳ đổi mới, việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn nước ta
đã được đẩy mạnh trước hết là các công trình thuỷ lợi, xây dựng mạng lưới