Đề án Kinh tế chính trị
Phần mở đầu
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả
những nớc đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu,
đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trờng rộng lớn cung cấp nguyên
liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích luỹ cho
công nghiệp hoá, phát triển kinh tế. Kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản đã đạt đến
trình độ cao, cũng nh các nớc đã trở thành nớc công nghiệp mới, trong những
thập niên gần đây vẫn rất coi trọng nông nghiệp, nông thôn, thành công mà họ
đã đạ đợc là hiện đại hoá ngành nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn,
thay đổi cơ cấu dân số nông thôn - thành thị, thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tăng
thu nhập bình quân đầu ngời ở khu vực nông thôn, làm cho thu nhập kinh tế khu
vực nông thôn không chênh lệch quá xa so với khu vực đô thị. Và do đó nông
nghiệp và kinh tế nông thôn có điều kiện tích tụ vốn cho quá trình công nghiệp
hoá.
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã
hội, nó luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay dới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nông
nghiệp ngày nay khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu nền kinh tế. Nó góp
phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
ở nớc ta, một nớc nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, 80% dân số sống
ở nông thôn, kinh tế còn thuần nông, cơ cấu nông nghiệp độc canh, GDP từ
nông nghiệp còn rất lớn, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng suất lao động
còn thấp thì vấn đền nông thôn lại càng trở nên quan trọng. Mục tiêu của công
nghiệp hoá mà Đảng ta đã đề ra lànhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế, thực hiện
khẩu hiệu "dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn minh". Để đạt mục tiêu đó
trớc hết không thể không thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp hoá hiện đại, nông thôn văn minh. Đó là
nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhng cũng rất khó khăn phức tạp.
Đề án Kinh tế chính trị
Khi nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn trên góc độ kinh tế chính trị thì
I. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện CNH - HĐH nền
kinh tế quốc dân nói chung và nông nghiệp nói riêng.
1. Một số khái niệm:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý
kinh tế xã hội.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn,
tạo nền tảng cho việc phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế nông thôn.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp: là quá trình đa máy móc,
thiết bị, ứng dụng các phơng pháp sản xuất kiểu công nghiệp vào các lĩnh vực
của sản xuất nông nghiệp.
2. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nền kinh tế quốc dân nói chung.
- Mỗi phơng thức sản xuất xã hội chỉ có thể đợc xác lập một cách vững
chắc trên một cơ sở vật chất kỹ thuật thích ứng. Chủ nghĩa xã hội cũng vậy,
muốn tồn tại và phát triển, xã hội chủ nghĩa cũng phải có một nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những t liệu
sản xuất chủ yếu. Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thể hiện đợc
những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ. Điều quan trọng là cơ sở
vật chất kỹ thuật ấy phải ở mức có thể bảo đảm sử dụng mọi nguồn lao động xã
hội, bảo đảm những nhu cầu vật chất cho toàn xã hội phù hợp với trình độ phát
triển cao của lực lợng sản xuất mà nhân loại đã đạt đợc. Cơ sở vật chất kỹ thuật
ấy phải tạo ra đợc một năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa t bản vì chỉ có nh
Đề án Kinh tế chính trị
vậy mới chiến thắng đợc hoàn toàn và triệt để chủ nghĩa t bản. Nớc ta quá độ
lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu. Cái thiếu nhất của đất nớc
ta là thiếu một lực lợng sản xuất phát triển. Đất nớc ta cha có một cơ sở vật chất
kỹ thuật phù hợp với chủ nghĩa xã hội. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật ấy ở nớc ta chính là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế
chủ nghĩa sản xuất vô chính phủ thờng xuyên lâm vào tình trạng khủng hoảng
kinh tế chu kỳ . Nền sản xuất xã hội phát triển không cân đối, có cơ cấu kinh tế
không hợp lý cho nên đã kìm hãm tốc độ phát triển của nền sản xuất xã hội.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là một xã hội sau chủ nghĩa
t bản cho nên phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa t bản. Vì vậy cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là
một nền sản xuất lớn đại công nghiệp dựa trên lao động bằng máy móc có năng
suất lao động cao, có sản phẩm thặng d nhiều, tái sản xuất mở rộng là chủ yếu.
Nền sản xuất xã hội phát triển có cơ cấu kinh tế hợp lý, do vấp phải khủng
hoảng kinh tế chu kỳ nên tốc độ phát triển nhanh và có hiệu quả kinh tế lớn. Vì
vậy tất cả các nớc khi tiến lên chủ nghĩa xã hội đều phải có một thời kỳ quá độ
để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (Giáo trình kinh tế
chính trị Mác- Lênin nhà xuất bản chính trị quốc gia).
3. Đối với nông nghiệp, nông thôn nói riêng:
Trớc hết ta hãy tìm hiểu khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp
chế biến và thị trờng, thực tiễn cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng
các thành tu khoa học, công nghệ, trớc hết là công nghệ sinh học, thiết bị, kỹ
thuật và công nghệ hiện đại vào các khẩu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao
năng suất, chất lợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị tr-
ờng.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hớng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao
Đề án Kinh tế chính trị
động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao
động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển nông thôn, bảo vệ môi trờng sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nền dân chủ, công bằng, văn minh, không
nghiệp và công nghiệp nông thôn, phát triển các dịch vụ kinh tế xã hội nông
thôn, ứng dụng các thành tựu KHCN sinh học, hoá học vào sản xuất nông
nghiệp, trang bị các máy móc cơ điện cho nông nghiệp, bớc đầu thực hiện cơ
giới hoá sản xuất nông nghiệp theo hớng hiện đại hoá.
1. Phát triển các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp
nông thôn.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn nớc ta đã có từ lâu nh-
ng do điều kiện kinh tế xã hội nhất định nên nó có những bớc thăng trầm. Từ
đầu những năm 90 đến nay nhờ đổi mới, nó đang đợc khôi phục và bắt đầu phát
triển.
- Nghề chế biến nông sản bao gồm chế biến lơng thực, thực phẩm, chế
biến hoa màu, chế biến lâm sản và chế biến thuỷ sản.
+ Chế biến lơng thực, thực phẩm chủ yếu là xay xát gạo. Các nhà máy
xay xát của quốc doanh đặt ở các vùng trọng điểm lúa ở đồng bằng sông Hồng
và cả một số ở đồng bằng sông Cửu Long đến nay không đáp ứng đợc yêu cầu
về khối lợng và chất lợng xay xát ngày càng cao không chỉ đối với thị trờng
ngoài nớc mà cả đối với thị trờng trong nớc vì thiết bị cũ kỹ và công nghệ lạc
hậu.
+ Chế biến hoa màu bao gồm công nghiệp chế biến mía đờng, chế biến
rau quả, chế biến chè, chế biến cà phê.
Công nghiệp chế biến mía đờng mấy năm gần đây cũng phát triển. Các
nhà máy đờng quốc doanh chỉ đảm bảo chế biến đợc khoảng 50% lợng mía của
cả nớc, còn một khối lợng khá lớn mía cây do các cơ sở chế biến mía t nhân
quy mô nhỏ, phân tán ở các làng xã đảm nhiệm chế biến bằng công cụ ép mía
rất đa dạng.
Đề án Kinh tế chính trị
Công nghiệp chế biến rau quả ở nớc ta còn ít phát triển, một số xí nghiệp
chế biến ở các thành phố cũng đợc sử dụng hết công suất, cơ cấu mặt hàng còn
đơn điệu.
Công nghiệp chế biến chè bắt đầu khởi sắc, trong đó các xí nghiệp quốc
2. Mở mang các dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn.
ở nông thôn sản xuất nông nghiệp đã bớc đầu chuyển dịch theo hớng sản
xuất hàng hoá. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đợc phục hồi và đi vào
hoạt động, đã tạo ra tiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông
thôn phát triển.
Đến nay ở nông thôn đã và đang hình thành các loại tổ chức hoạt động
dịch vụ kinh tế kỹ thuật nh: dịch vụ về vốn cho sản xuất nông nghiệp và ngành
nghề; dịch vụ cung ứng vật t kỹ thuật cho sản xuất; dịch vụ kỹ thuật sản xuất
nông nghiệp và chế biến nông sản; dịch vụ thơng nghiệp mua bán sản phẩm và
hàng tiêu dùng.
Các tổ chức hoạt động dịch vụ nông thôn hiện nay có sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế ; ở thành thị và nông thôn với nhiều hình thức khác
nhau: công ty, cửa hàng, đại lý, chợ nông thôn, thơng lái mua buôn, bán buôn,
bán lẻ.
- Dịch vụ về vốn ở nông thôn: hiện nay tham gia dịch vụ này chủ yếu là
các ngân hàng nông nghiệp, các quỹ tạo việc làm, quỹ xoá đói giảm nghèo của
Nhà nớc. Trong mấy năm gần đây, ngân hàng nông nghiệp đã có nhiều biện
pháp đẻ rót vốn về tận các hộ nông dân và đã có tác dụng tích cực đối với sản
xuất. Tuy nhiên về thủ tục thời hạn cho vay, và lãi suất, còn có những mặt cần
nghiên cu thêm cho phù hợp với đặc điểm của nông nghịêp và nông thôn.
- Dịch vụ cung ứng vật t thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất:
Trong nông nghiệp do tổ chức hoạt động dịch vụ của nhiều hợp tác xã
nông nghiệp không đáp ứng đợc yêu cầu về giống, phân bón, thuốc trừ sâu,
xăng dầu cho các hộ nông dân, nên đến nay, phần lớn các hộ nông dân sử dụng
dịch vụ t nhân trong lĩnh vực này.
Đề án Kinh tế chính trị
Trong các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ở hầu hết các làng nghề đều
có một số hộ gia đình có vốn và có năng lực kinh doanh đứng ra đảm nhiệm
việc cung cấp vật t nguyên liệu và mua lại sản phẩm của các hộ gia đình. ở
nông thôn đang hình thành các đại lý, cửa hàng t nhân cung cấp vật t kỹ thuật,
thành thị trấn, các phố làng, các tụ điểm công thơng nghiệp mới.
Những năm gần đây, lợng hàng hoá lu thông ở nông thôn tăng lên, mạng
lới chợ nông thôn có sự phát triển về số lợng, quy mô và lu lợng chu chuyển
hàng hoá, cũng nh cơ cấu mặt hàng.
3. Xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn.
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn còn có nội dung quan trọng
là tăng cờng cơ sở hạ tầng nông thôn theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
đô thị hoá phục vụ yêu cầu phát triển sản xuất và cải thiện nâng cao mức sống
vật chất và tinh thần của c dân nông thôn.
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thuỷ lợi cho nông nghiệp.
Trong thời gian qua nớc ta đã tập trung xây dựng và hoàn thiện một hệ
thống công trình thuỷ lợi lớn vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp và nông thôn.
Hiện nay Nhà nớc vẫn tiếp tục đầu t hàng tăm tỷ đồng để xây dựng một số công
trình hồ đập lớn nh Nghi Quang, Thạch Nhamvv cùng với việc xây dựng mới
thì vấn đền không kém phần quan trọng là củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông,
đê biển, sửa chữa các công trình thuỷ lợi xuống cấp, đảm bảo năng lực thiết kế.
Cho đến nay trong 46 hồ đập cỡ lớn có dung tích mỗi cái trên 10 triệu m
3
nớc,
có 6 cái hỏng nặng, 20 cái hỏng cục bộ, trong 42 hồ đập cỡ vừa, dung tích 5 -
10 triệu m
3
nớc, có 6 cái hỏng nặng, 26 cái hỏng cục bộ, trong 960 hồ đập cỡ
nhỏ, dung tích dới 2 triệu m
3
nớc có 62 cái hỏng nặng, 91 cái hỏng cục bộ. Về
kênh mơng tới và tiêu nớc, nhiều đoạn cần phải nạo vét, tu sửa. Để khắc phục
tình trạng trên, ở một số địa phơng nh Hà Tây, Thanh Hoá đã bắt đầu xây dựng
bờ mơng bằng gạch hoa, xi măng thay cho lớp đất. Riêng thành phố Hải Phòng
đề ra mục tiêu phấn đấu kiên cố hoá kênh mơng 60% vào năm 2000 và 100%
xóm ở Thái Bình đợc quy hoạch tổng thể hợp lý, phù hợp cả trớc mắt và lâu dài
để tránh phá đi làm lại gây lãng phí.