Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
BÁO CÁO THỰC TẬP
CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG
1
1
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường hiện nay, để
đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý phù hợp với sự biến đổi của
thị trường cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Việc đảm bảo
lợi ích cá nhân của người lao động là một động lực cơ bản trực tiếp khuyến
khích người lao động đem hết khả năng của mình lỗ lực phấn đấu sáng tạo
trong sản xuất. Một trong những công cụ hiệu quả nhất nhằm đạt tới mục tiêu
trên là hình thức trả lương cho người lao động. Tiền lương thực sự phát huy
được tác dụng của nó khi các hình thức tiền lương được áp dụng hợp lý nhất,
sát với tình hình thực tế của các đơn vị sản xuất kinh doanh, đúng với sự
cống hiến của người lao động, công bằng và hợp lý giữa những người lao
động trong doanh nghiệp. Có như vậy tiền lương mới thực sự trở thành đòn
bẩy kinh tế kích thích sản xuất phát triển. Việc trả lương theo lao động là tất
yếu khách quan. Nhưng lựa chọn hình thức trả lương nào cho phù hợp với
điều kiện đặc điểm sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiệp. Để thúc đẩy
sản xuất, làm cho người lao động luôn quan tâm đến kết quả lao động của
mình, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp. Để
góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao
động.
Qua quá trình kiến tập tại Công ty cổ phần may Thăng Long với kiến
thức đã học tại trường, em xin trình bầy một số vấn đề về việc tổ chức tiền
3
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
vụ cần thiết mà người lao động muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lương danh
nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện qua công thức sau:
I
LTT
= I
LDN
/ I
P
Trong đó:
I
LTT
: Chỉ số tiền lương thực tế
I
LDN
: Chỉ số tiền lương danh nghĩa
I
P
: Chỉ số giá cả
* Tiền lương tối thiểu
Theo điều 56 Bộ Luật Lao Động: “Mức lương tối thiểu là mức tiền
lương trả cho người lao động làm những công việc đơn giản nhất trong điều
kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động đơn giản và một phần tái sản
xuất mở rộng. Đó là những công việc thông thường mà một người lao động
có sức khoẻ bình thường, không qua đào tạo chuyên môn…cũng có thể làm
được”.
Tiền lương tối thiểu được Nhà nước qui định theo từng thời kỳ dựa
trên trình độ phát triển về kinh tế – xã hội của đất nước và yêu cầu tái sản
xuất sức lao động xã hội. Tiền lương tối thiểu được xác định qua phân tích
người lao động tự nguyện nhận mọi công việc mình được giao dù ở đâu hay
bất cứ công việc nào.
Để cho tiền lương thực sự là đòn bẩy kinh tế quan trọng phát huy được
vai trò tích cực cho người lao động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn
đúng hình thức trả lương cho phù hợp với những đặc điểm riêng cho doanh
nghiệp mình, phù hợp với quy định trả lương theo đúng giá trị sức lao động
đã hao phí,giải quyết hài hoà lợi ích của người lao động và của doanh
nghiệp .
2.CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG CỦA CÔNG TY.
2.1. Các hình thức tiền lương
Trong thực tiễn của đời sống xã hội và trong quan hệ lao động vẫn tồn
tại 2 hình thức trả lương phổ biến:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm.
5
5
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
- Hình thức trả tiền lương theo thời gian.
Việc lựa chọn áp dụng hình thức tiền lương nào trong tổ chức lao động
tuỳ thuộc yêu cầu sản xuất, nghĩa là:
+ Phù hợp tính chất công việc và trình độ tổ chức công việc ở nơi làm việc.
+ Phải có tác dụng khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả
lao động, kết quả sản xuất.
+ Làm cho tiền lương thể hiện rõ chức năng đòn bẩy kinh tế trong việc
kích thích sản xuất, kinh doanh.
+ Trả lương phải đem lại hiệu quả kinh tế.
2.1.1. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương dựa trên cơ sở; số lượng
sản phẩm giao nộp của người lao động đơn giá trả lương và chất lượng sản
phẩm đã quy định của doanh nghiệp. Đây là hình thức trả lương cơ bản mà
hiện nay được các đơn vị áp dụng chủ yếu trong khu vực sản xuất vật chất.
Hình thức trả lương này phù hợp với nguyên tắc phân phối lao động,
gắn được thu nhập tiền lương với kết quả lao động với năng suất, với chất
lượng lao động cá nhân do đó khuyến khích người lao động phấn đấu tăng
năng suất lao động.
Hình thức trả lương này đơn giản, dễ tính, công nhân, có thể tính được
số tiền lương của mình. Tuy vậy, hình thức tiền lương này có nhược điểm là
công nhân ít quan tâm đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu, coi nhẹ việc tiết
kiệm chi phí sản xuất, ít quan tâm đến việc bảo quản máy móc, thiết bị, nếu
thiếu những quy định chặt chẽ.
*. Trả lương theo sản phẩm nhóm lao động
Việc tiến hành chia lương cho từng người lao động trong nhóm căn cứ
vào lương cấp bậc và thời gian làm việc thực tế của từng người người làm
việc trong tháng.Hình thức này áp dụng đối với công việc đòi hỏi một nhóm
lao động lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền,
sửa chữa cơ khí .
Trả lương theo sản phẩm nhóm có tác dụng khuyến khích lao động trong
nhóm, nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng
của nhóm. Song, nhược điểm là sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp
tác động đến tiền lương của họ nên ít kích thích sự nâng cao lao động cá
nhân. Mặt khác, chưa xác định được sự cố gắng của mỗi cá nhân trong quá
trình lao động nên chưa tiến hành được phân phối theo lao động và chất
lượng sản phẩm.
*. Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp chỉ áp dụng đối với công nhân phụ
mà công việc của họ ảnh hưởng nhiếu đến công việc của công nhân chính
(người hưởng lương theo sản phẩm) như: công nhân sửa chữa, công nhân
điện
7
7
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
nhiều việc tổng hợp phải làm trong một thời gian nhất định, với yêu cầu chất
8
8
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
lượng nhất định, trả lương khoán có thể cho tạm ứng lương theo phần khối
lượng đã hoàn thành trong từng đọt và thanh toán lương sau khi đã làm xong
toàn bộ khối lượng công việc được hợp đồng giao khoán.
Đơn giá khoán xác định theo đơn vị thi công hoặc cũng có thể trọn gói
cho cả khối lượng công việc hay công trình.
Yêu cầu của chế độ trả lương này đơn giá phải tính toán chặt chẽ và phải
có bản hợp đồng giao khoán. Nội dung hợp đồng giao khoán phải rõ ràng
công việc, khối lượng giao khoán, điều kiện lao động định mức, đơn giá tổng
số tiền lương khoán, điều kiện lao động và kết thúc Nếu tập thể nhận
khoán thì chia tiền lương như hình thức trả lương tập thể.
Ưu điểm của chế độ này là: khuyến khích người lao động hoàn thành
công việc vượt thời gian và đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, nếu sự kiểm tra
kém thì hiệu quả thấp.
*. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng, là chế độ trả lương theo sản
phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng, nhằm tác động vào những khâu yếu của
dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy năng
suất lao động. Với chế độ trả lương này, toàn bộ sản phẩm đều được trả một
đơn giá cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn
thành vượt mức, các chỉ tiêu về chất lượng và số lượng theo tiêu chuẩn của
chế độ tiền thưởng để thưởng và tiền lương sản phẩm có thưởng sẽ bao gồm
cả tiền lương.
Với chế độ trả lương này cần quy định đúng đắn chỉ tiêu tiền thưởng,
điều kiện thưởng và tỉ lệ thưởng và xác định nguồn tiền thưỏng.
2.1.2 Trả lưởng theo thời gian
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động, vào cấp bậc
ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng.
Lương ngày =
Lương tháng
=
Lương tháng
Ngày chế độ tháng 22 ngày làm việc theo chế độ
Mức lương dùng để trả theo chế độ với người lao động theo hợp đồng
thời hạn từ 1 tháng trở lên, thường thì cơ quan hợp đồng lao động hay doanh
nghiệp tổ chức chấm công theo ngày và trả gộp 15 ngày 1 lần cùng kì với
người hưởng lương tháng. Đối với lao động làm công nhật hoặc làm công
công việc có tính tạm thời theo mùa vụ, làm công việc có tính thời hạn dưới 3
tháng thì có thể gộp 1 số ngày để trả 1 lần, cũng có thể trả ngay sau mỗi ngày
làm việc nhưng phải tính thêm cho họ khoản bảo hiểm xã hội, ít nhất 15%
vào tiền lương để người lao động tự lo vấn đề bảo hiểm xã hội cho mình.
- Lương giờ để trả cho số giờ làm việc, hoặc số giờ làm thêm:
10
10
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Lương giờ =
Lương ngày
=
Lương ngày
Độ dài lao động 8 giờ
*. Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn và tiền thưởng
thường xuyên từ quỹ (vì đảm bảo ngày công, giờ công )
Tiền lương =
Tiền lương theo thời gian
lao động đơn giản
+ Tiền thưởng
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Nếu người lao động vì lý do gì đó mà không nghỉ phép được thì thanh
toán 100% lương cấp bậc theo số ngày nghỉ phép còn lại mà người đó chưa
nghỉ.
Khi người lao động làm thêm giờ thì phải có phiếu báo làm đêm làm
thêm giờ để có căn cứ tính lương thêm giờ và phụ cấp làm đêm. Khi người
lao động làm việc ngoài giờ tiêu chuẩn thì giờ làm thêm được trả bằng 150%
tiền lương giờ tiêu chuẩn nếu làm thêm vào ngày thường và được trả 200%
nếu vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ.
Lương làm
thêm giờ
=
Lương cấp bậc tháng
x
Số công
làm thêm
giờ
x 30% (40%)
22
12
12
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
2.2. Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo công
nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý chi trả lương.
Quỹ tiền lương bao gồm:
- Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền lương
khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa
lệ trích BHXH là 20%. Trong đó 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động
nộp được tính vào chi phí kinh doanh, 5% còn lại do người lao động đóng
góp và được tính trừ vào thu nhập người lao động. Quỹ BHXH được chi tiêt
cho các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Quỹ này do cơ quan BHXH quản lý.
Quỹ BHYT : được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa
bệnh, thuốc chữa bệnh, viện phí cho người lao động trong thời gian ốm
đau, sinh đẻ Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định
trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân viên thực
tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là 3% trong đó 2% trích
vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của người lao động.
Kinh phí công đoàn: Hình thành do việc trích lập theo một tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân viên
thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ trích
kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2%.
Số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích được một phần nộp lên cơ
quan quản lý công đoàn cấp trên một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu
cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.
Tiền lương phải trả cho người lao động, cùng các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCD hợp thành chi phí nhân công trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh.
Ngoài chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương doanh nghiệp
còn xây dựng chế độ tiền thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, tiền thưởng bao gồm thưởng thi đua (lấy từ quỹ
khen thưởng) và thưởng trong sản xuất kinh doanh : thưởng nâng cao chất
lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát sinh sáng kiến (lấy từ
quỹ tiền lương) .
14
14
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Qua bảng trên ta thấy rằng nhiều năm liên tục Công ty đã hoàn thành
vượt mức kế hoạch và năm sau luôn cao hơn năm trước.
* Thời kỳ đổi mới
Năm 1988, Công ty may Thăng Long bước vào năm thứ ba mươi xây
dựng và trưởng thành đồng thời cũng là năm chấm dứt thời kỳ bao cấp
chuyển sang kinh tế thị trường.
Mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Công ty là áo sơ mi nam. Thị
trường xuất khẩu là Liên Xô và các nước Đông Âu. Tính đến năm 1989 Công
ty đã xuất sang thị trường Liên Xô và các nước Đông Âu trên 50 triệu sản
phẩm áo sơ mi quy đổi. Từ những năm 1990 đến năm 1995 Công ty đã đầu tư
hơn 5 tỷ đồng để mua sắm thiết bị của Cộng hoà dân chủ Đức, cải tạo lại nơi
làm việc, nâng cấp nhà xưởng và thiết bị văn phòng.
Ở Việt Nam vấn đề cổ phần hoá DNNN được đặt ra từ năm 1991.Thực
tiễn 15 năm đổi mới đã khẳng định cổ phần hoá DNNN không phải là tư nhân
hoá mà là quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu,tạo cơ sở cho đổi mới các
quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm,thúc đẩy quá trình tích tụ va
tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế,tạo động lực cho doanh nghiệp
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời cổ phần hoá DNNN cũng
không phải làm suy yếu nền kinh tế Nhà nước mà là một giải pháp quan trọng
để kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo thật sự của nó trong nền kinh tế
thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.Nghị quyết Đại hội X đã nhấn
mạnh:” Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà
nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và
cơ chế quản lý năng động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả”.Nhận thức rõ tầm quan trọng của công việc cổ phần hoá DNNN ở nước
ta, công ty may Thăng Long đã tiến hành cổ phần hoátừ năm 2005.
Và hiện nay Công ty đã có một thị trường ổn định rộng lớn ở trên 20
quốc gia của các châu lục. Đảm bảo việc làm thường xuyên cho hơn 2000
công nhân viên với mức lương trung bình là 600.000 đ đến 700.000
đ/tháng/người và hàng năm nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng. Hiện
tư cách pháp nhân trực thuộc Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tạp phẩm. Công
ty tổ chức và quản lý theo kiểu “chức năng trực tuyến có nghĩa là các phòng
ban tham mưu với chủ tịch hội đồng quản trị (kiêm tổng giám đốc) theo từng
chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình. Tất cả được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Chức năng nhiệm vụ:
*Hội đồng quản trị: Hoạt động SXKD và các công việc của Công ty
phải chịu sự quản lý hoặc chỉ đạo thực hiện của HĐQT, đây là cơ quan có
đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh Công ty trừ những
thẩm quyền thuộc về Đại hội cổ đông.
17
17
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
*Ban kiểm soát : có chức năng hoạt động độc lập, có quyền kiểm tra,
kiểm soát tất cả các hoạt động SXKD của Công ty.
+ Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc: Thay mặt Công ty chịu
trách nhiệm trước nhà nước về toàn bộ hoạt động của Công ty, đồng thời chỉ
huy toàn bộ bộ máy quản lý, tất cả các bộ phận Công ty.
+ 1 phó giám đốc điều hành kĩ thuật: Chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật,
sản xuất, thiết kế của Công ty.
+ 1 phó giám đốc điều hành sản xuất: Chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo
hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ 1 phó giám đốc điều hành nội chính: Chịu trách nhiệm về các mặt đời
sống công nhân viên và điều hành xí nghiệp dịch vụ đời sống.
Các phòng ban chức năng bao gồm:
+ Văn phòng tổng hợp: có nhiệm vụ quản lý về mặt nhân sự , mặt tổ
chức của Công ty, tham mưu cho giám đốc về mặt tổ chức.
+ Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ quản lý, phác thảo, tạo mẫu các mặt hàng
theo đơn đặt hàng của khách và nhu cầu của Công ty.
+ Phòng KCS: có nhiệm vụ kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm
ST
T
Bộ phận sử dụng lao động Số người lao động (người) Tỷ lệ (%)
1 Tổng số CBCNV 2031 100
2 Nhân viên quản lý DN 196 9,65
3 Nhân viên quản lý PX 63 3,1
4 Công nhân trực tiếp sản xuất 1772 87,25
* Phân loại lao động :
Công ty cổ phần may Thăng Long tiến hành phân loại công nhân viên
trong doanh nghiệp thành 2 loại:
+ Công nhân viên trong danh sách là toàn bộ số người ký hợp đồng lao
động với công ty từ 1 năm trở lên thuộc phạm vi quản lý của công ty và chịu
trách nhiệm trả lương bảo hiểm và được hưởng các quyền lợi chế độ theo
đúng luật lao động.
+ Công nhân viên ngoài danh sách: là những người ký hợp đồng lao
động từ 1-3 tháng. Những người này chỉ được huy động khi có việc, làm
ngày nào hưởng lương ngày đó (tính theo sản phẩm làm ra) và khi nghỉ việc
không có chế độ gì.
2.1.2. Tình hình quỹ lương
19
19
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Công ty cổ phần may Thăng Long Hà Nội áp dụng hình thức trả lương
theo sản phẩm cho nên, căn cứ vào kế hoạch sản lượng và tình hình thực hiện
kế hoạch sản xuất,Công ty lập kế hoạch tiền lương trình cơ quan quản lý cấp
trên là Tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm.
Tổng quỹ lương công ty duyệt hàng quý để làm căn cứ xây dựng kế
hoạch vay vốn giữa Công ty và ngân hàng.
Phần tiền lương thực trả cho CBCNV Công ty căn cứ vào khối lượng
sản phẩm hoàn thành hàng háng có biên bản nghiệm thu đối với khối lượng
lương
hoặc
cấp bậc
chức vụ
Ngày trong tháng
Số công hưởnglương SP
Số công hưởnglương TG
Số công nghỉ,ngừng việc
Số công nghỉngừng
Số công BHXH
A B C 1 2 3 4 5 6 7 8 9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG
Tháng 11/2006
Đơn vị tính: đồng
TT Họ và tên LCB
Lương thời gian
Tổng
cộng
Tạm ứng kỳ I
Các khoản phải
khấu trừ
Kỳ II được lĩnh
Số
ngày
làm
việc
Số tiền Số tiền Ký nhận
BHXH
(5%)
BHYT
(1%)
Số tiền
Ký
nhận
A B C 1 2 3 4 5 6 7 8 9
1 Hoàng Minh 757.400 22 1.074.600 1.832.000 600.000 37.870 7.574 1.186.556
2 Lê Hoài Nam 622.000 22 913.500 1.535.500 600.000 31.100 6220 898.180
3 Thu Hường 622.000 22 913.500 1.535.500 600.000 31.100 6220 898.180
Cộng 2.001.400 66 2.901.600 4.903.000 1.800.000 100.070 20.014 2.982.916
22
22
: Là số ngày công thực tế của người thứ i
t
2i
: là số tiền lương theo công việc được giao gắn với mức độ phức tạp,
tính trách nhiệm của công việc đòi hỏi, mức độ hoàn thành công việc và số
ngày công thực tế của người thứ i không phụ thuộc vào hệ số lương xếp theo
nghị định 26/CP.
Công thức:
ii
m
j
ii
cdt
i
hn
hn
VV
T
.
1
2
.
×
−
=
∑
=
(i ∈J)
V
i
.
21
21
+
+
=
Trong đó:
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
k: Là hệ số mức độ hoàn thành chia làm 3 mức: hoàn thành tốt : hệ số 1,
2 (riêng giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng phải hoàn thành kế hoạch lợi
nhuận mới được áp dụng hệ số 1,2), hoàn thành: hệ số 1, chưa hoàn thành: hệ
số 0,7.
đ
1i
: là số điểm mức độ phức tạp của công việc người thứ i đảm nhận.
đ
2i
: là số điểm tính trách nhiệm người thứ i đảm nhận
Tổng số điểm cao nhất của 2 nhân yếu tố phức tạp và trách nhiệm của
công việc (đ
1i
+ đ
2i
) là 100% thì tỷ trọng điểm cao nhất của đ
1i
là 70% và của
đ
2i
là 30%.
= 22 n
3
= 22
V
cd
= 2.001.400 n
2
= 22
Tiền lương theo công việc t
2i
là:
Hoàng Minh =
600.074.1622
)1,522()1,522()622(
400.001.2000.903.4
=×
++×
−
x
xx
đ
Lê Hoài Nam =
500.9131,522
)1,522()1,522()622(
400.001.2000.903.4
=×
++×
−
x
xx
(T
1i
+ T
2i
)
Hệ số lương Tiền lương
Hoàng Minh
5,26 757.400 1.074.600 1.832.000
Lê Hoài Nam
4,32 622.000 913.500 1.535.500
Thu Hường
4,32 622.000 913.500 1.535.500
Cộng
2.001.400 2.901.600 4.903.000
Vậy nhìn vào Biểu tổng hợp lương ta thấy:
Lương của ông Hoàng Minh tháng 11/2006 là: 757.400 + 1.074.600 =
1.832.000. Sau khi tạm ứng lần 1: 600.000đ, số tiền còn lại là: 1.232.000đ.
Số tiền này trừ đi các khoản giảm trừ 5% lương cơ bản BHXH và 1% lương
cơ bản BHYT , còn lại là số tiền kỳ II được lĩnh:
1.186.556 (đ) = 1.232.000 - 37.870 - 7574.
Cách tính lương cho ông Lê Hoài Nam và Bà Thu Hường cũng tính
tương tự
2.3. Tổ chức kế toán tiền lương đối với công nhân trực tiếp sản xuất
Phù hợp với hoạt động sản xuất trong nền kinh tế thị trường,việc trả
lương cho công nhân trực tiếp sản xuất ở các phân xưởng chủ yếu áp dụng
hình thức trả lương theo sản phẩm ,nhưng vẫn lấy thước đo thời gian làm cơ
sở và dựa vào tay nghề bậc thợ để tính toán trả lương cho người lao động.
Khi phân xưởng nhận được công việc do Công ty giao cho, biết được số
tiền công để bố trí công nhân làm việc đảm bảo đúng thời gian quy định. Cơ
sở để tính lương là bảng chấm công, Bảng chấm công được các tổ sản xuất