Báo cáo thực tập : Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang - Pdf 26

B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
MỞ ĐẦU

Nền sản xuất hàng hoá ra đời đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc
của xã hội loài người. Cùng với đó, các quan hệ kinh tế trong phân phối sản
phẩm xã hội dưới hình thức giá trị đã bắt đầu được hình thành. Nó chính là tiền
đề, là cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của phạm trù tài chính. Trải qua
các giai đoạn lịch sử khác nhau, hệ thống tài chính đã chứng tỏ được vị trí và vai
trò quan trọng của nó trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội của
mỗi quốc gia cũng như trên pham vi toàn thế giới.
Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng được một hệ thống tài chính linh hoạt
và phát triển bền vững đang là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. Nó vừa là một
cam kết mạnh mẽ vừa là một đòi hỏi có tính tất yếu, khách quan hậu thời kỳ gia
nhập WTO. Và trong hệ thống tài chính đó thì bộ phận tài chính doanh nghiệp
luôn được đặt lên hàng đầu vì nó được xem là “tế bào có khả năng tái tạo ra
các nguồn tài chính khác” cho đất nước.
Bởi vậy nên, đối với mỗi doanh nghiệp nói chung thì việc nghiên cứu,
đánh giá và vận hành các quan hệ tài chính phát sinh theo cơ chế kinh doanh
hướng tới lợi nhuận cao là một trong những mục đích sống còn, đảm bảo sự tồn
tại lâu dài của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh mang tính khốc liệt
như hiện nay. Nói cách khác là doanh nghiệp cần phải quản trị tài chính sao cho
thật chủ động, thật linh hoạt và hiệu quả!
Để trau dồi khả năng hiểu biết về những kiến thức đã được trang bị
đồng thời để nắm bắt được những kỹ năng xác thực hơn, chuyên sâu hơn về lĩnh
vực tài chính nên em đã lựa chọn thực tập nghiệp vụ quản trị tài chính tại Công
ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang mà cụ thể là nghiệp vụ Quản trị tài
chính về vốn kinh doanh của Công ty. Đây là một công ty tuy chỉ mới được cổ
phần hóa từ năm 2000 nhưng xét theo bề dày lịch sử thì đó vẫn là một trong
những đơn vị sản xuất - kinh doanh giàu truyền thống nhất tại quê hương Tuyên
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
Quang. Và đó cũng là lý do chính để em lựa chọn Công ty làm cơ sở thực tập

Kể từ khi thành lập, trụ sở chính của công ty được đặt tại số nhà 219a, tổ
7, phường Tân Quang, thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Vào thời điểm
hiện nay, Chủ tịch hội đồng quản trị-Giám đốc lãnh đạo công ty là ông Vũ Xuân
Tiến. Công ty có 2 Phó giám đốc, 3 phòng chức năng và 12 độị sản xuất với
ngành nghề kinh doanh chủ yếu là xây dựng các công trình như: dân dụng, công
nghiệp, giao thông, thuỷ lợi có quy mô đến nhóm B và kinh doanh các loại vật
liệu xây dựng.
1.3 Vốn điều lệ và hình thức sở hữu
Vốn điều lệ của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang theo
quyết định số 1962/QĐ-UB ngày 28/12/2000 của UBND tỉnh Tuyên Quang về
việc xác định giá trị doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hoá là: 2.9594 tỷ đồng
(Hai tỷ chín trăm năm mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng). Tại thời điểm cổ
phần hoá, tỷ lệ cổ phần nhà nước chiếm 49% còn tỷ lệ cổ phần của các cổ đông
khác chiếm 51% vốn điều lệ. Trị giá 01 cổ phần của công ty là 100 nghìn đồng.
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
1.4 Năng lực kinh doanh
Thi công, xây dựng những công trình dân dụng, công nghiệp; công trình giao
thông, thuỷ lợi có quy mô vừa và nhỏ. Tư vấn lập dự án đầu tư và thẩm định hồ
sơ thiết kế đồng thời phụ trách giám sát kỹ thuật đối với các công trình và hạng
mục công trình được đảm nhiệm. Bên cạnh đó, Công ty có khả năng khai thác,
sản xuất và mua bán đá trắng, Cacbonnat, các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn và
các loại vật liệu xây dựng. Ngoài ra, công ty còn có năng lực kinh doanh trong
một số ngành nghề được cấp giấy phép kinh doanh khác.
1.5 Nhiệm vụ trọng tâm
Cùng với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá, đất nước ta đang không
ngừng đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là cơ sở hạ tầng đã có
những bước chuyển biến tích cực. Các công trình xây dựng từ tầm vi mô đến các
công trình mang tính lịch sử đã dược xây dựng trên khắp mọi miền của Tổ quốc.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ
để xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội thì vị trí, vai trò và nhiệm vụ

đầu tư ngắn hạn; giá trị của các khoản nợ phải thu; giá trị hàng tồn kho và giá trị
bằng tiền của các tài sản lưu động khác…
Dựa vào bảng 1 ta lập biểu đồ mô hình hóa về tình hình tăng giảm vốn lưu
động của Công ty như sau :

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
2006 so với 2005
(+,-) %
Vốn LĐ 19.13 20.24 17.84 28.80 41.19 44.35 3.16 7.6%
Vốn CĐ 1.40 1.55 2.20 2.15 1.90 1.70 -0.2 -10.5%
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
Tính từ năm 2001 trở lại đây thì lượng vốn lưu động của công ty có sự biến
động không đồng đều nhưng nhìn chung là đã tăng lên với tốc độ rất cao. Sự gia
tăng này phần lớn là do giá trị hàng tồn kho của Công ty ngày càng tăng cao qua
các năm. Xét riêng trong năm 2006 thì lượng vốn lưu động đã tăng lên 3.16 tỷ
đồng tương đương 7.6% so với năm 2005 và tăng khoảng 132% so với thời điểm
mốc là năm 2001. Như vậy là tuy lượng vốn lưu động vận động không ổn định
nhưng xét trong một giai đoạn tổng thể (2001-2006) thì nó đã cho thấy được khả
năng đảm bảo và tăng trưởng vốn để đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất-
kinh doanh của Công ty.
* Vốn cố định :
Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản cố định và đầu tư dài hạn
của công ty như: Giá trị còn lại của các loại máy móc, thiết bị, nhà kho, sân bãi;
giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn; giá trị của những công trình xây dựng
cơ bản dở dang và các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn.
Khác so với các doanh nghiệp sản xuất là thường có lượng vốn cố định khá
lớn ,Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang lại có một lượng vốn cố
định nhỏ hơn nhiều so với vốn lưu động. Điều này không phải do ý muốn chủ
quan của Công ty mà chủ yếu là do đặc điểm của ngành nghề sản xuất – kinh
doanh trong lĩnh vực xây dựng tổng hợp quy định.

B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
thấy tổng lượng vốn kinh doanh của công ty trong năm này chỉ còn giảm nhẹ
1.75 tỷ đồng tương ứng 8% so với năm 2002. Nếu xét tổng thể trong toàn bộ giai
đoạn 6 năm chuyển đổi thì ta thấy là tổng vốn kinh doanh của Công ty đã tăng
lên một cách rất nhanh chóng. Cụ thể là trong năm 2006, nó đã tăng 2.96 tỷ
đồng (6.8%) so với năm 2005 và so với năm 2001, con số này là trên 25.5 tỷ
đồng, tương đương với tốc độ tăng vọt là 125%.
Dưới đây là biểu đồ mô hình hoá về xu hướng vận động của tổng vốn kinh
doanh từ năm 2001 đến năm 2006 :

Như vậy, qua biểu đồ trên ta thấy tổng vốn kinh doanh của Công ty trong
3 năm đầu không có nhiều sự thay đổi nhưng vào năm 2006, nó đã tăng lên gấp
hơn 2 lần so với năm 2001 (125%). Vốn tăng nghĩa là tài sản của Công ty tăng!
Điều này chứng tỏ Công ty có khả năng huy động vốn cao và nếu xét trên góc
độ kế toán cũng như trên phương diện quản trị tài chính thì có thể đưa ra kết
luận ban đầu về tình hình sản xuất- kinh doanh của công ty là “làm ăn có uy tín,
có hiệu quả và tăng trưởng!” .
b) Cơ cấu vốn
Do chịu tác động bởi các tính chất và đặc điểm của ngành nghề sản
xuất-kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng nên Công ty cổ phần xây dựng tổng
hợp Tuyên Quang có một lượng vốn lưu động tương đối lớn và chiếm tỷ trọng
rất cao so với vốn cố định. Và nhìn chung là từ năm 2001 đến nay thì cơ cấu vốn
của công ty không có nhiều thay đổi. Lượng vốn lưu động vẫn luôn chiếm tỷ
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
trọng hơn 90%, cụ thể là từ nguồn số liệu ở bảng 1và 2, ta tính toán được bảng
sau:
Bảng 3: Cơ cấu vốn kinh doanh của công ty (2001-2006)
(đơn vị: %)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
% vốn lưu động 93.6 93.3 90.1 93.5 95.8 96.3

Bảng 4: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của Công ty (2001-2006)
(đv: tỷ đồng)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
2006 so với 2005
(+, -) %
VCSH 3.54 3.84 4.07 3.98 4.16 4.26 0.1 2.4%
NPT 16.99 17.95 15.97 26.97 38.93 41.79 2.86 7.3%
%VCSH 17.24 17.62 20 13 9.65 9.25 - -0.4%
%NPT 82.7
6
82.3
8
80 87 90.35 90.75
- 0.4%
(Nguồn số liệu: Phòng Kế toán-Tài vụ, Công ty CPXDTH Tuyên Quang )
* Nguồn vốn chủ sở hữu :
Là nguồn vốn do các cổ đông đóng góp, đây là yếu tố quyết định để hình
thành Công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của Công ty, trong đó tỷ lệ vốn
chủ sở hữu mà Nhà nước nắm giữ chiếm 49%, còn lại 51% do cán bộ công nhân
viên trong Công ty nắm giữ. Và nếu như tại thời điểm chuyển đổi hình thức sở
hữu (năm 2000), Công ty có số vốn chủ sở hữu là 2.95 tỷ đồng thì đến nay con
số này đã tăng lên 4.26 tỷ đồng. Cụ thể, ta thấy trong năm 2006, vốn chủ sở hữu
của Công ty đã tăng nhẹ 0.1 tỷ đồng ( tương đương 2.4%) so với năm 2005 và
tăng được 1.52 tỷ đồng ( tương đương 28.8%) so với năm 2001. Sự gia tăng này
chủ yếu là do huy động vốn từ lợi nhuận để lại chứ Công ty không phát hành
thêm cổ phiếu mới để huy động vốn chủ sở hữu.
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
Dựa vào bảng 4, ta lập được biểu đồ mô tả về lượng vốn chủ sở hữu của
Công ty như sau:


hạng mục công trình.
+) Vay cán bộ công nhân viên trong công ty và các chủ thể khác…
Dựa vào các số liệu ở bảng 4, ta lập biểu đồ minh họa về tình hình công
nợ của Công ty trong giai đoạn bắt đầu từ khi chuyển đổi hình thức sở hữu đến
nay:

Như vậy, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ tăng với tốc độ khá nhẹ thì nợ
phải trả của Công ty lại tăng lên với tốc độ chóng mặt! Chỉ riêng trong năm
2006, nó đã tăng 2.86 tỷ tương ứng 7.3% so với năm 2005 và so với năm 2001
thì nó đã tăng lên 24.8 tỷ đồng, tương đương với tốc độ tăng là 146%! Sự gia
tăng mạnh này một mặt là để đáp ứng nhu cầu về lượng vốn lưu động ngày càng
lớn, mặt khác, Công ty cũng muốn tranh thủ và tận dụng triệt để được nguồn
vốn vay với chi phí thấp. Tuy nhiên, nếu xét trong mối quan hệ tương quan với
vốn chủ sở hữu thì quả thật là ở đây có sự chênh lệch rất lớn! Và như vậy nó sẽ
làm tăng nguy cơ rủi ro của cổ phiếu Công ty dẫn đến hậu quả là làm giảm tính
hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư vốn không ưa mạo hiểm! Dưới đây là biểu đồ
B¸o c¸o thùc tËp nghiÖp vô
phản ánh về sự chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của Công ty xét
riêng cho năm 2006.
Tuy có sự chênh lệch lớn như vậy nhưng do phần lớn vốn vay đều được
sử dụng để đầu tư vào các tài sản lưu động cho nên với một lượng vốn lưu động
lớn như đã trình bày ở trên thì ta có thể khẳng định là công ty vẫn hoàn toàn có
đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn. Hơn nữa, không phải
cứ vay nợ nhiều là kinh doanh kém hiệu quả, hàng năm Công ty vẫn thu được
một khoản lợi nhuận không nhỏ và điều này cho thấy là Công ty đã có được
niềm tin và sự kỳ vọng của các chủ thể cho vay đối với hoạt động sản xuất- kinh
doanh của mình.
b) Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Xét theo căn cứ này thì nguồn vốn của Công ty được chia thành nguồn vốn
thường xuyên (NVTX) và nguồn vốn tạm thời (NVTT)với các số liệu ở bảng

*Nguồn vốn tạm thời:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn dùng để đáp ứng nhu cầu có tính
chất tạm thời hoặc bất thường trong hoạt động sản xuất- kinh doanh của Công ty
như: Chi tạm ứng cho cán bộ, công nhân viên; chi tiếp khách hành chính; chi
tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế; đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản
chi tạm thời khác…
Từ bảng 6, ta có thể thấy là nguồn vốn tạm thời của Công ty cũng đã tăng
rất mạnh sau 6 năm chuyển đổi hình thức sở hữu. Chẳng hạn như trong năm
2006, con số này đã tăng lên 0.73 tỷ đồng (tương đương 9.13%) so với năm
2005 và tăng 6.03 tỷ đồng ( tương đương 225% !) so với năm 2001. Và so với
cách phân loại ở phần trước thì cách phân loại này có sự chênh lệch ít hơn trong
cơ cấu tổng nguồn vốn của Công ty. Và để làm rõ vấn đề này cũng như để tiện
cho việc so sánh giữa các cách phân loại về nguồn vốn, ta sẽ lấy số liệu của năm
2006 để biểu diễn bằng biểu đồ cơ cấu như sau :

Trích đoạn *Cơ cấu nguồn vốn chưa tối ưu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status