Tài liệu ôn thi
Môn: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1
MỤC LỤC
Nhiều thách thức 50
Câu 1: CMR tiền tệ ra đời gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất và
trao đổi hàng hoá?
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử. Sự xuất
hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loại người trong lĩnh vực kinh tế, nó
có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi
bộ mặt kinh tế xã hôi. Một truờng phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu
khách quan của quá trình trao đổi hang hóa .Theo Mác, trong lịch sử phát triển
của loại người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự
nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên
chưa có tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm
móng của sự trao đổi. Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến
hành trực tiếp vật này lấy vật khác. Giá trị (tương đối) của một vật được biểu
hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá.
Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách
khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn. Tương ứng
với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng. Tham gia
trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng
hóa khác nhau. Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị
giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:
Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn
nhiều hàng hóa làm vật ngang giá Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một
hàng hóa lại không thuần nhất.Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển
thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của
nó. Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có
cùng muốn trao đổi, muốn trùng khớp. Như vậy, cùng với sự phát triển của sản
xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao
đổi hàng hoá dịch vụ và được sd để thnah toán trong nền KT. Tiền thực hiện
chức năng phương tiện trao đổi Giúp cho nền KT có sự chuyên môn hoá cao
hơn, sâu hơn, phát triển hơn.
-Đk để có thể là tiền:
+ Tiền phải được chấp nhận rộng rãi trong lưu thông: được con người chấp nhậ
nó là phương tiện trung gian trong trao đổi.
+ Có thể chia nhỏ được 1 cách dễ dàng: tiền phải có nhiều mệnh giá, thuận tiện
trong từng trường hợp mua bán khác nhau.
+ Không bị hư hỏng 1 cách nhanh chóng: để các chi phí phát hành thiền được
coi là nhỏ nhất
+ Nó phải là phương tiện đủ dùng trong trao đổi
*Chức năng thước đo giá trị
-Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so sánh để hình thành tỉ lệ trao
đổi. Chức năng này của tiền tệ biểu hiện giá trị hàng hoá thànht iền, nhờ đó mà
các hàng hoá có thể so sánh được với nhau về mặt lượng. điều này có tầm quan
trọng rất lớn do tiết kiệm được các chi phí giao dịch, bởi số lần hình thành giá
trung gian trong trao đổi trực tiếp. Chi phsi này càng trở nên nặng nề khi số
lượng hàng hoá tham gia trao đổi tăng lên và số lần hình thành giá trung gian
nhiều lên gấp bội. Về mặt này, chức năng tính toán giá trị cũng góp phần vào
việc tăng cường hiệu quả của sx XH
-Kd để tiền là thước đo giá trị
+ Tiền phải có giá trị
+ Phải có tiêu chuẩn giá cả
*Chức năng phương tiện tích lũy
-Khi con người SH tiền tệ ko sd tiền cho việc mua bán hàng hoá hiện tại mà đưa
vào dự trữ tích lũy nhằm mục đích để chuyển hoá thành hàng hoá địch vụ trong
ương lai thì tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện tích lũy
-Tiền được đưa vào tích lũy phải có các đk sau:
+ Tiền phải là tiền mặt (vì tiền có tính thanh khoản cáo nhất là đặc tính quan
trọng để ta tích lũy tiền mà ít là những ts #: nhà cửa, ô tô…)
phát triển sx
+ Giảm được chi phí giao dịch, giảm được chi phí phát hành, bảo quản tiền
thông qua việc lưu thông thương phiếu
+ Tham gia điều tiết nhu cầu thừa, thiếu vốn giữa các DN
-Nhược điểm:
+ Gây rủi ro trong quan hệ mua bán chịu Lợi tức dây chuyền cao phá sản
(nếu có rủi ro xảy ra mà ko thanh toán được nợ)
+ Vì mua bán chịu nên lượng hàng hoá bán ra với số lượng nhỏ, quy mô hẹp lại
phải cộng thêm các điều khoản mua bán chịu
+ Thời hạn tín dụng ngắn (thường trong 1 – 2 tháng)
+ Phạm vi tín dụng hẹp, các chủ thể thường phải có cung - cầu hàng hoá phù
hợp nhau.
+ Chỉ được thực hiện trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau
+ TDTM là “mầm mống” của khủng hoảng thừa
*Mqh giữa tín dụng thương mại với tín dụng ngân hàng
TDTM và TDNH đều là các hình thức tín dụng thúc đẩy qtrinh sx và lưu thông
hh phát triển.
Tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạn chế tín dụng
Tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạn chế tín dụngthương mại, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển thông
thương mại, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển thôngqua chiết khấu thương phiếu
qua chiết khấu thương phiếu. Trong qtrình hđ chúng bổ sung cho nhau và thúc
đẩy nhau cùng phát triển, bởi sự phát triển của TDTM tạo đk mở rộng hoạt
động của TDNH thông qua nghiệp vụ chiết khấu và cầm cố thương phiếu. Đồng
thời những hạn chế của TDTM cũng đã được TDNH khắc phục.
hợp nhau.
+ TDTM là “mầm mống” của khủng hoảng thừa
*Tín dụng ngân hàng
-ĐN: Là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa NH với các chủ thể KT # trong XH,
trong đó NH giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
-Ưu điểm:
+ Quy mô lớn: Các chủ thể cần vốn KD đều có thể vay vốn
+ Thời hạn tín dụng rất linh hoạt: ngắn hạn – trung hạn – dài hạn phfuhợp
với nhu cầu.
+ Phạm vi tín dụng: Ko hạn chế chủ thể, chi nhánh NH được bố trí rộng khắp
+ Thúc đẩy hoạt động trong lưu thông của TDTM
-Nhược điểm:
+ Đk TDNH đặt ra ko phải chủ thể nào cũng đáp ứng được
+ Khi xảy ra phá sản, hệ thống NH dễ bị sụp đổ theo dây chuyền
*Tín dụng nhà nước:
5
-ĐN: Là quan hệ TD giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong XH nhằm đảm
bảo thực hiện nhiều chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý KT
XH.
-Ưu điểm:
+ TDNN góp phần bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước
+ TDNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền KT
+ Các công cụ do Nhà nước phát hành có độ an toàn cao
-Nhược điểm:
+ Các công cụ do Nhà nước phát hành có lãi suất thấp
+ Rủi ro võ nợ Nhà nước
*TD thuê mua
-KN: là quan hệ TD nảy sinh giữa các công ty cho thuê tài chính và các DN sx
KD dưới hình thức cho thuê TS
-Ưu điểm:
-
Nhược điểm:
Nhược điểm:
Ko phải lúc nào cũng vay được
Ko phải lúc nào cũng vay được
*TD quốc tế:
-KN: Là mqh nảy sinh giữa chủ thể của 1 QG với chủ thể 1 QG # hoặc với tổ
chức QT
-Ưu điểm:
+ Giúp các QG nghèo, kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo
Đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển KT khi nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp
+ Góp phần nâng cao trình độ KHKT và kiến thức chuyên môn của người lđ
-Nhược điểm
+ Bị hạn chế bởi đk vay vốn, về mặt chính trị
+ Ko phải cứ vay được là vay mà pảhi tính đến nguồn trả nợ. Nếu ko sẽ lâm vào
tình trạng khủng hoảng nợ khủng hoảng tài chính mọi hoạt động của nền
KT đều bị ảnh hưởng
*Mối quan hệ giữa các hình thức tín dụng với nhau
Hệ thống tín dụng đa dạng đã giúp cung ứng vốn 1 cách kịp thời cho các nhu
cầu sx và tiêu dùng của các chủ thể KT trong XH nhằm thoả mãn nhu cầu đa
dạng về vốn của nền KT. Không những vậy còn làm cho sự tiếp cận các nguồn
vốn trở nên dễ dàng, tiết kiệm góp phần thúc đẩy quá trình tái sx XH
6
Không những vậy, việc mở rộng mối liên hệ giữa tín dụng nhà nước và các
quan hệ tín dụng # đã khiến cho tín dụng trở thành kênh chuyển tải tác động của
Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô đồng thời là công cụ thực hiện các chính sách
XH
Câu 5: Trình bày chức năng và vai trò của thị trường tài chính trong nền
kinh tế
1. Khái niệm:
gần với tiền.
3 chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: CN thanh khoản được
thực hiện tốt sẽ kích thích CN dẫn vốn và tiết kiệm.
3. Vai trò của thị trường tài chính:
a, TTTC góp phần năng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế:
Bất kỳ nền kinh tế nào, trong quá trình fát triển cũng fải đối đầu với sự khan
hiếm về nguồn lực. TTTC là sản fẩm tất yếu của sự đòi hỏi tập trung tài nguyên
cho sản xuất lớn và chống lãng fí dưới mọi hình thức. Với chức năng dẫn vốn
và chức năng tiết kiệm, TTTC đã tạo điều kiện để huy động nguồn lực trong xã
7
hội, lôi kéo các cá nhân trở thành các nhà đtư, tận dụng mọi nguồn lực nhỏ
nhất, thúc đẩy hoạt động sang tạo ra sp và dvụ.
Đối với ngân sách Nhà nước, việc bù đắp các khoản bội chi bằng cách vay nợ
trên TTTC thay vì fát hành thêm giấy bạc NH và lưu thông là một biện fáp hết
sức quan trọng, bởi vì làm như vậy sẽ vừa có thể kiềm chế được lạm fát vừa có
thể tạo đk cho tăng trưởng nền ktế.
Tóm lại, một TTTC hđ có hiệu quả sẽ tận dụng được ở mức cao nhất mọi nguồn
vốn tiềm tàng trong nước và từ nước ngoài để phát triển kt và cải thiện đời sống
của nhân dân.
b, TTTC tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kt của các chủ
thể kt khác nhau trên thị trường:
Thông qua các cuộc đấu giá tập trung giữa các nguồn cung và nguồn cầu, cơ
chế thị trường sẽ hình thành nên mức giá cả tốt nhất, có lợi cho cả người mua
và người bán, đảm bảo sự công bằng trên thị trường. Các cá nhân hoặc cộng
đồng chỉ có thể tìm thấy sự fát triển tốt nhất cho chính mình trong sự hỗ trợ để
các cá nhân hoặc cộng đồng khác cùng fát triển. Nếu thiếu TTTC hoặc TTTC
kém fát triển, điều kiện để cung cầu gặp gỡ, cọ xát sẽ bị hạn chế, do đó ko thể
có mức giá cả fản ánh đầy đủ chính xác sức mua, sức bán.
c, TTTC tạo nên công cụ kích thích tính hiệu quả của các DN:
Tự bản thân cơ chế giao dịch của TTTC sẽ chọn ra các DN, các dự án đtư có
- Chứng chỉ tiền gửi
- Hợp đồng mua lại
- Đô la châu âu
- Cổ fiếu
- Trái fiếu
- Chứng khoán fái sinh
Đặ
c
trư
ng
côn
g
cụ
- Có tính thanh khoản cao
- Mức rủi ro thấp
- Thời hạn của các công cụ tài chính
ngắn lãi suất ít biến động biến
động giá thấp
- Lợi nhuận thấp
- Có tính thanh khoản thấp
- Mức rủi ro cao
- Thời hạn của các công cụ tài
chính dài lãi suất biến động
mạnh biến động giá cao
- Lợi nhuận cao
Ch
ủ
thể
tha
m
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài
chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó các
nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác động
hỗ tương.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực
hiện đồng bộ đan xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo
thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính.
Việc phân định thị trường tài chính thành 2 bộ phận là thị trường tiền tệ và thị
trường vốn chỉ là biện pháp để tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu từng loại
thị trường. Trên thực tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực
chuyên môn hoá của thị trường tiền tệ và đâu là khu vực chuyên môn hoá của
thị trường vốn.
Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Các biến đổi về giá cả, lãi
suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường
9
vốn. Ngược lại, các biến đổi về chỉ số chứng khoán hoặc trị giá cổ phiểu của thị
trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt xấu đã đang và sẽ xảy ra trên thị
trường tiền tệ. Các chính sách của Nhà nước như chính sách lãi suất, tiền tệ với
mục đích phát triển thị trường tiền tệ đồng thời cũng là các yếu tố ngăn cản
phạm vi hoạt động của thị trường vốn.
Xét trong tương lai, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế, không thể tồn tại một thị
trường tiền tệ thuần tuý cũng như không thể tồn tài một thị trường vốn thuần
tuý mà phải tồn tại một thị trường tài chính bao gồm cả thị trường vốn và thị
trường tiền tệ hỗn hợp.
Câu 7: Phân biệt thị trường tài chính trực tiếp và thị trường tài chính gián
tiếp. Vai trò của các trung gian tài chính thể hiện trên các thị trường này
ntn?
1. Phân biệt thị trường tài chính trực tiếp và thị trường tài chính gián tiếp
Thị trường tài chính trực tiếp Thị trường tài chính gián tiếp
KN: là thị trường mà vốn đc chuyển
có quan hệ fáp lý với các trung gian tài
chính)
- Chi fí chuyển giao vốn thấp
- Biến đổi về qui mô, thời hạn
2. Vai trò của các trung gian tài chính thể hiện trên các thị trường này ntn?
a, Trên thị trường tài chính trực tiếp : vai trò của các trung gian tài chính ko
lớn, họ ko tgia vào thị trường mà chủ yếu với tư cách nhà môi giới kết nối cung
cầu vốn để hưởng hoa hồng và ko có quyền thực hiện giao dịch cho bản thân
b, Trên thị trường tài chính gián tiếp: vai trò của các trung gian tài chính rất
lớn, họ trực tiếp tham gia vào thị trường làm cho thị trường ngày càng sôi động
và fát triển. Trung gian tài chính khắc fục đc nhg hạn chế của đầu tư trực tiếp và
do đó kích thích mong muốn đtư bởi trung gian tài chính có lợi thế hơn trong
việc thu thập và fân tích thông tin liên quan đến đối tượng đtư, do đó đảm bảo
an toàn cho các khoản đtư. Ngoài ra, trung gian tài chính còn cung cấp các công
10
cụ đtư với tính lỏng cao và rủi ro thấp cho người đtư. Vai trò này cuar trung
gian tài chính được thể hiện bởi 2 CN:
* Chức năng môi giới: Các trung gian tài chính hoàn thành CN này khi đóng vai
trò là đại lý cho người tk trg vc cung cấp thông tin về các dịch vụ và giao dịch
theo yêu cầu. Với CN này, các TGTC góp fần quan trọng vào vc giảm các chi fí
liên quan đến thu thập và fân tích thông tin cũng như chi fí giao dịch, từ đó thúc
đẩy tỷ lệ đtư.
* Chức năng biến đổi tài sản:
Đây là CN chủ yếu hình thành nên lợi thế của kênh chuyển giao vốn gián tiếp
so với kênh chuyển giao vốn trực tiếp. Trong CN này các trung gian tài chính
fát hành các công cụ tài chính thứ cấp với tính lỏng cao, rủi ro thấp cho nhg
người tk nhằm thay thế cho các công cụ tài chính sơ cấp do nhg người đtư trực
tiếp fát hành.
Thông qua vai trò của các TGTC này, vốn từ tay người TK đến tay người sử
dụng đã biến đổi cả về khối lượng và thời hạn.
cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
- Lạm phát vừa phải
- Lạm phát vừa phải
cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
- Ngân sách nhà nước thâm hụt
- Ngân sách nhà nước thâm hụt
cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
* Các yếu tố tác động đến cung tiền - Thu nhập tăng
* Các yếu tố tác động đến cung tiền - Thu nhập tăng
cung tăng
cung tăng
- Tỷ suất lợi tức tăng
- Tỷ suất lợi tức tăng
cung tăng
cung tăng
- Công cụ của các công cụ đầu tư càng rủi ro và mạo hiểm
- Công cụ của các công cụ đầu tư càng rủi ro và mạo hiểm
tăng và ngược lại
tăng và ngược lại
* Chính sách tiền tệ
* Chính sách tiền tệ
:
:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Thị trường mở
- Thị trường mở
- Tái cấp vốn, tái chiết khấu
- Tái cấp vốn, tái chiết khấu
* Các nhân tố khác
* Các nhân tố khác
:
:
- Lạm phát tăng lãi suất tăng và ngược lại
- Lạm phát tăng lãi suất tăng và ngược lại
- Thời hạn dài, lãi suất cao và ngược lại
- Thời hạn dài, lãi suất cao và ngược lại
11
- Rủi ro cao, lãi suất cao và ngược lại.
- Rủi ro cao, lãi suất cao và ngược lại.
* Mqh giữa giá chứng khoán với lãi suất thị trường
* Mqh giữa giá chứng khoán với lãi suất thị trường
Lãi suất là khoản tiền chênh lệch thu được giữa vốn gốc ban đầu với khoản thu
nhận được trong tương lai
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu: Đây là mối quan hệ trực tiếp và
ngược chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi
suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do
−+++
++++
=
n
t
i
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ n giai đoạn
i
n
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ loại 1 giai đoạn
e
nt
e
t
e
n
iii
121
, ,,
−+++
: Lãi suất của một công cụ nợ loại 1 giai đoạn dự tính cho giai
đoạn kế tiếp
Theo lý thuyết này, nếu các mức lãi suất ngắn hạn dự tính (
e
nt
e
t
e
n
nt
e
nt
e
t
e
t
e
t
nt
k
n
iiii
i
+
++++
=
−+++
)1(21
Trong đó:
i
nt
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ loại n giai đoạn
i
t
: Lãi suất tại thời điểm t của công nợ loại 1 giai đoạn
e
nt
e
thưởng tính lỏng. Lý thuyết này cho rằng mức bù kì hạn luôn dương và tăng
cùng với kì hạn của công cụ nợ. Cách giải thích này xuất phát từ thực tế là các
công cụ nợ với thời hạn dài hơn sẽ chịu đựng mức rủi ro lãi suất lớn cao hơn vì
thế thời hạn càng dài, mức bù rủi ro tính lỏng càng cao. Như vậy hình dạng
đường cong lãi suất phản ánh sự biến động của một mức bù kù hạn luôn dương
và những thay đổi của các mức lãi suất ngắn hạn dự tính.
Lý thuyết môi trường ưu tiên và lý thuyết phần thưởng tính lỏng đã kết hợp các
đặc điểm của cả giả thuyết dự tính và lý thuyết thị trường phân cách. Những
giải thích về cấu trúc kì hạn lãi suất là khá thuyết phục và thực tiễn. Căn cứ vào
lý thuyết này, nội dung thông tin của đường cong lãi suất là rất rõ ràng: nó cho
phép dự đoán chiều hướng biến động của lãi suất ngắn hạn trong tương lai cũng
13
như cho thấy mức độ diễn biến theo nhau của các mức lãi suất trên các bộ phận
thị trường tài chính
Câu 10: Trình bày lộ trình tự do hoá lãi suất ở VN
1. Tự do hóa lãi suất là gì?
Tự do hóa lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất
cân bằng, NHTW chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều
chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển
của nền kinh tế.
Quá trình tự do hóa lãi suất ở VN
1. Trước năm 1988: Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo
phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung
2. Từ năm 1988 đến 2006: Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang
nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà
nước
a) Giai đoạn (1989-5.1992): Thực hiện cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố
định
b) Giai đoạn (6.1992-1995): Thực hiện cơ chế điều hành khung lãi suất
c) Giai đoạn (1996-7.2000): Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất trần
+ Những ts Có #
+ Các dịch vụ NH
b) NH phát triển
- KN: Là Nh có chức năng chủ yếu là huy động các nguồn vốn trung và dài hạn
dưới hình thức cấp TD, góp vốn mua cổ phiếu
- Mục tiêu: Mang tính chất phục vụ sự nghiệp xd và phát triển đất nước trên cơ
sở tập trung vốn cho những khu vực KT thiết yếu có tính chất quyết định đến sự
phát triển KT XH của QG, mục tiêu lợi nhuận chỉ là thứ yếu
- Huy động vốn: Chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn từ các
nguồn tiền gửi có kì hạn của công chúng, phát hành các chứng khoán có giả để
thu hút vốn vay trên thị trường tiền tệ và vay ngắn hạn từ các NHTW tiếp nhận
các khoản vốn từ ngân sách cho mục tiêu phát triển.
- Sd vốn: Chú ý là cấp TD trung và dài hạn cho các dự án đầu tư, phát trểin sx,
cho các DN đầu tư vào cổ phiểu, thực hiện bảo lãnh vay vốn.
c) NH đầu tư
- ĐN: là NH hđ vì mục tiêu lợi nhuận mà hđ chủ yếu là lĩnh vực chứng khoán
và các dịch vụ liên quan đến phát hành, bảo lãnh chứng khoán.
- Mục tiêu: là lợi nhuận, chủ yếu hđ trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán và các
dịch vụ liên quan.
- Huy động vốn: Các NH đầu tư thường là các NH “bán buôn”, nguồn tiền gửi
hầu hết là có kì hạn của các định chế tài chính công ty và cá nhân. Nó cũng
được quyền phát hành chứng từ có giá để thu hút vốn hoặc đi vay các định chế
tài chính #
- Sd vốn: Chấp nhận hối phiếu, tư vấn cho các hđ tài chính công ty, giao dịch
chứng khoán, quỹ đầu tư phát triển.
d) NH Chính sách
- ĐN: là NH cổ phần nhà nước, hđ ko vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho các
đối tượng chính sách nhằm hiện thực các chính sách KT XH của QG
- Mục tiêu: Nhằm tài trợ vốn cho các đối tượng chính sách vì mục đích XH và
phát triển nên ko vì mục tiêu lợi nhuận
thực hiện chức năng làm thủ quỹ cho XH. Việc nhận tiền gửi và theo dỗi các
khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền để ngân hàng thực
hiệnv ai trò trung gian thanh toán. Mặt khác, việc tính toán trực tiếp bằng tiền
mặt giữa các chủ thể KT có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do vận chuyển tiền, chi
phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu
cầu thanh toán qua ngân hàng.
* Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động
KT. Trước hết, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết
kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa
chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng
thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Điều này góp phần tăng nhanh
tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái
SX XH.
Thứ hai, việc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất
lượng làm tăng uy tín cho ngân hàng và do đó tạo đk để thu hút nguồn vốn tiền
gửi.
*Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữa người có vốn dư
thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền KT, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của
nó rồi đem cho vay đối với nền KT, mà chủ yếu là vay ngắn hạn. Với chức
năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người
cho vay.
Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm hoàn vốn tiền tệ trong quá
trình tái sx XH. Sở dĩ ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một tổ chức
chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình
cung cầu về tín dụng. Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn,
ngân hàng có thể giải quyết mqh giữa cung và cầu tín dụng cả về khối lượng
vốn cho vay và thời gian cho vay.
16
thanh toán. Ngày nay hầu như các ngân hàng trung gian đều được phép nhận
tiền gửi không kì hạn, làm trung gian thanh toán và do vậy đều có khả năng tạo
ra tiền gửi thanh toán. Sự phân biệt các loại hình ngân hàng trung gian chủ yếu
dựa vào tài sản Có, vào mục đích cho vay và đầu tư.
Các chức năng của ngân hàng thương mại có mqh chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ
sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt
chức năng thủ quỹ và trugn gian thanh toán lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín
dụng, mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng
Câu 16: Phân tích tính chất và tầm quan trọng các nguồn vốn của NHTM.
để khơi tăng nguồn vốn các NHTM cần phải làm j.
Cho đến thập niên 1960, nguồn vốn của NHTM trên khắp thế giới vẫn tập trung
vào 3 nhóm phổ biến, đó là:
-Vốn tiền gửi
+ Tiền gửi không kì hạn:
17
Tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc
nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản này để chi trả
cho người được hưởng về tiền hàng hoá, cung ứng lao vụ. Đồng thời khách
hàng cũng có thể yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản
này. Đối với khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm
đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng và
do vậy nó thường được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Ở nhiều nước phần
lớn các giao dịch thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán được thực
hiện bằng séc và do vậy người ta cũng có thể gọi đây là tài khoản tiền gửi có thể
phát hành séc.
Tiền gửi có thể phát hành séc là một nguồn vốn quan trọng và rẻ nhất của
NHTM. Tuy vậy, ngoài lãi suất, chi phí đầy đủ cho việc huy động vốn này phải
kể đến cả chi phí duy trì tiền gửi có thể phát hành séc, bao gồm chi phí trong
việc phục vụ những tài khoản này (xử lý và lưu giữ những séc đã thanh toán,
thị trường tiền tệ và các tổ chức tài chính khác nắm giữ như là tài sản thay thế
cho các tín phiếu Kho bạc và những trái khoán ngắn hạn khác. Việc xuất hiện
18
CD là một cuộc cách mạng trong hoạt động ngân hàng. Các chủ ngân hàng giờ
đây có trong tay công cụ huy động vốn chủ động theo nhu cầu sd vốn mà không
phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu gửi tiền của khách hàng.
* Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hưởng lãi.
Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền tiết kiệm có sổ. Đối với loại tiền
gửi này, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền
gửi vào và tiền rút ra. Đồng thời quyển sổ này cũng xác nhận số tiền số tiền đã
gửi. Loại hình này vẫn còn tồn tại đến nay và trong những năm 90 nó có thể
chuyển sang tài khoản séc dễ dàng. Do vậy, nó có khả năng thanh toán rất cao.
Ngoài ra ở nhiều nước còn có tiền gửi tiết kiệm phổ biến chẳng hạn như chứng
chỉ tiết kiệm (Saving certificates), trái phiếu tiết kiệm (Saving bands).
Ở VN, các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi
nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào.
- Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn nhất
định. Tuy vậy khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể đáp ứng với
đk hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm ko kì hạn)
hoặc thậm chí ko được hưởng lãi. Các ngân hàng có thể áp dụng tiền gửi tiết
kiệm có kì hạn thông thường (người gửi được hưởng lãổnhặc trong những thời
kì) và có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có thưởng kèm theo lãi để khuyến khích
nhân dân gửi tiết kiệm vào ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Những người tham gia loại hình tiết kiệm này
ngoài việc hưởng lãi còn được ngân hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm
vốn xây dựng nhà ở.
hưởng quyền vay tại NHTW trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả
dụng. NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới 2 hình thức:
i/ Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá.
Ii/ Cho vay thế chấp hay ứng trước
Hình thức tái cấp vốn được NHNN VN thực hiện theo 3 cách:
i/ Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng
ii/ Chiếu khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
iii/ Cho vay đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền trung ương, đến việc thực hiện chính
sách tiền tệ của NhTW.
+ Vay các ngân hàng và tổ chức tài chính khác
Một mục đích quan trọng của loại vay này là nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả
dụng trong thời gian ngắn. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những
ngày cho vay quá nhiều hoặc có nhu cầu lớn về các nghĩa vụ tài chính dẫn đến
sự thiếu hụt dự trữ tại NHTW. Trong khi đó lại có một vài NHTM khác trong
tình trạng thừa dự trữ. Hành vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nhằm đảm
bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng.
+ Các nguồn vốn đi vay khác:
* Tiền vay từ những công ty mẹ của ngân hàng (những công ty nắm giữ ngân
hàng)
Ở các nước có nền KT phát triển, một công ty hoặc tập đoàn kinh doanh có thể
là chủ của một hoặc nhiều NHTM. Bởi vì khi ngân hàng phát hành trái phiếu
hoặc giấy nợ để vay tiền trên thị trường, nó có thể chịu sự quản lý và rằng buộc
của NHTW về dự trữ, lãi suất và thủ tục. Trong khi công ty mẹ thực hiện điều
này, nó không phải bị rằng buộc bởi những điều đó vì bản thân nó không phải là
một ngân hàng. Do vậy các công ty mẹ của ngân hàng thường thay thế nó phát
hành trái phiếu công ty để huy đôngọ vốn, sau đó chuyển vốn huy động được về
ngân hàng hoạt động dưới hình thức cho vay.
* Phát hành hợp đồng mua lại. Đây là những thảo thuận vay tiền từ các công ty.
của các ngân hàng Mỹ). Vào những năm 1940, thị trường vay chủ yếu của các
ngân hàng Mỹ là Châu Âu nên phát sinh thuật ngữ đôla hoá Châu Âu (Euro
Dollars) để chỉ các khoản vay USD từ châu Âu của các NHTM Mỹ.
Đến những năm 1960, các NHTM ở các nước Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh cũng
phát hành phiếu nợ để vay USD từ nước ngoài không chỉ ở châu Âu mà còn lan
sang thị trường giàu có USD khác như các nước xuất khẩu dầu khí Trung Đông,
Nam Mỹ, Đông Á… Tuy nhiên thuật ngữ đôla hoá Châu Âu vẫn tiếp tục được
sd khá phổ biến ở phần lớn các ngân hàng trên thế giới để chỉ khoản tài sản Nợ
này.
Loại trái phiếu đôla hoá châu Âu chỉ dùng để vay USD và khi đến hạn cũng trả
vốn và lãi bằng USD. Thời gian đến hạn của loại trái phiếu này thường rất
ngắn, dưới 3 tháng. Trong những thị trường tài chính lớn như New York,
London, Paris, Franfrut, Tokyo… loại trái phiếu này được xem không khác gì
USD.
Ở nhiều nước (Hàn Quốc, VN, Thái Lan…) việc phát hành loại trái phiếu Euro
Dollars chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng Ngoại
thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu.
Vốn vay đã trở thành nguồn vốn quan trọng của ngân hàng khi nó làm cho các
ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Việc áp dụng một chính
sách lãi suất linh hoạt kèm theo các đk phi lãi suất thích hợp đố với các công cụ
nợ khi đi vay ngân hàng có thể chủ động nguồn vốn phù hợp với nhu cầu.
21
-Vốn của ngân hàng
Khoản mục cuối cùng trong phần tài sản Nợ của bảng quyết toán tài sản ngân
hàng là vốn thuộc sở hữu ngân hàng. Nó bằng hiệu số giữa tổng tài sản Có với
tài sản Nợ. Ở VN, khoản mục vốn bao bồm 2 bộ phận: Vốn tự có và coi như tự
có.
+ Vốn tự có, bao gồm:
* Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt
đôngọ được ghi vào trong văn bản pháp quy. Tùy theo hình thức sở hữu mà
tiền gửi thanh toán tại NHTW.
Các bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của NHTM. Mặc dù dự trữ ngân
hàng không tại nên lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanht oán và các
nghĩa vụ tài chính khác cho ngân hàng. Vì thế mà nó hạn chế rủi ro thanh toán,
nâng cao uy tín cho ngân hàng, toạ nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời
của ngân hàng.
-Nghiệp vụ cho vay:
22
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các
nhu cầu sx, tiêu dùng tren cơ sở thoả mãn các đk vay vốn của ngân hàng. Khi
thực hiện nghiệp vụ vay, ngân hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên
mục đích sd tiền vay. đối với các ngân hàng truyền thống, cho vay là nghiệp vụ
sinh lời chủ yếu và được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau:
+ Chiết khấu thương phiếu:
Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó ngân hàng
mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với giá trị
bằng giá trị thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí. Đến
thời hạn thanh toán của thương phiếu, Ngân hàng đòi hỏi người mắc nợ thương
phiếu theo giá trị của thương phiếu.
+ Cho vay ứng trước
Tín dụng ứng trước là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó người đi vay được phép sd một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định. Để thực hiện nghiệp vụ chuyển số tiền cho vay vào tìa khoản đó
để khách hàng sd.
+ Cho vay vượt chi (thấu chi)
Đây la hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trước, thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó người vay được phép sd dư nợ trong giới hạn và thời hạn
nhất định trên tài khoản vãng lai. Gọi là vay thấu chi vì về nguyên tắc, khách
hàng luôn phải có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán để sẵn sàng chi trả và
chỉ được chi trong số vốn có của mình. Như vậy ngân hàng đã tự động cho vay
*Tín dụng chấp nhận là việc ngân hàng đứng ra chấp nhận thương phiếu cho
khách hàng, hoặc là xác nhận việc đảm bảo thanh toán vốn của người trả tiền
thương phiếu. Ở nghiệp vụ này ngân hàng đã cho mượn uy tín của mình để
khách hàng vay vốn (người mua chịu được sd dụng vốn của người bán chịu
hàng hoá).
*Tín dụng bảo lãnh: Tín dụng bảo lãnh là việc ngân hàng đứng ra đảm bảo
thực hiện một nghĩa vụ của khách hàng thao cho người được bảo lãnh nếu
người này khôgn thực hiện được nghĩa vụ. Điểm này được cụ thể hoá bằng
vănb ản của ngân hàng gọi là thư bảo lãnh.
Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh trong các trườnghợp DN đề nghị bảo
lãnh để tham gia dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo đảm hoàn trả tiền
ứng trước, bảo đảm thanh toán, bảo đảm chất lượng sp theo hợp đồng, bảo đảm
hoàn trả vốn vay…
+ Tín dụng tiêu dùng
Đây là hình thức tín dụng được thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của
cá nhân. Tùy thuộc vào tình hình tài chính của mình mà người vay có nhu cầu
vay khác nhau. Tín dụng tiêu dùng chủ yếu tài trợ cho việc mua sắm, sửa chữa,
cải tạo, nâng cấp nhà ở, xe hơi, xe máy, các đồ dùng sinh hoạt đắt tiền…
-Nghiệp vụ đầu tư
Đầu tư vào chứng khoán là hình thức phổ biến nhất trong nghiệp vụ tài sản Có
của NHTM và các tổ chức tín dụng Ngân hàng có thể đầu tư vào trái khoán
Chính phủ hoặc trái khoán công ty để thu lợi tức đầu tư, do đó mạng lại thu
nhập cho ngân hàng. Nghiệp vụ này cũng nâng cao khả năng thanh toán cho
Ngân hàng, bảo tồn ngân quỹ, đặc biệt là đầu tư vào trái khoán chính phủ vì loại
trái khoán này có tính lỏng cao. Đồng thời nó còn làm đa dạng hoá các hoạt
động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Ở VN, theo Luật các Tổ chức tín dụng, ngoài việc đầu tư vào trái khoán, các tổ
chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của DN và các tổ chức tín dụng khác
như V( tốc độ lưu thông tiền tệ) ít thay đổi trong ngắn hạn và P đc tự động điều
chỉnh bởi thị trg thì M( cầu tiền tệ) là 1 hàm của thu nhập M=k*f(Y) cho nên
phụ thuộc vào thu nhập.
* Quan điểm của các nhà kinh tế học tân cổ điển: về cơ bản thống nhất với các
nhà ktế học cổ điển. M=P/V(Y), song lại chỉ ra đc rằng cả P và V là những nhân
tố thay đổi, thậm chí ngay cả trong ngắn hạn, do vậy mà M phụ thuộc cả P,V.
Ngoài ra, các nhà kinh tế Tân cổ điển còn cho rằng dường như lãi suất cũng có
tác động đến M.
* Quan điểm của J.M.Keynes: Đây là quan điểm có thể coi như sự hoàn chỉnh
học thuyết về cầu tiền tệ. Thành phần của cầu tiền tệ gồm:
- Cầu giao dịch phụ thuộc vào tần suất thanh toán, giá cả, thu nhập…
- Cầu dự phòng, phụ thuộc vào thu nhập và các yếu tố xã hội khác.
- Cầu đầu cơ hay đầu tư, phụ thuộc vào thu nhập, lãi suất, và các yếu tố khác.
Vì vậy mà hàm cầu tiền theo quan điểm của J.M.keynes:
MD=
δ
(Y
+
, P,i
-
,Z)
Trong đó:
-Y là thu nhập,
-P là mức giá;
- f tần suất đc nhận các khoản thu nhập;
- I là lãi suất của nền kinh tế;
- Z là các yếu tố khác của nền ktế xã hội.
* Quan điểm của M.Friedman: có thể coi đay là sự phát triển quan điểm của
J.M.Keynes và gồm 2 phần chính:
- Giống quan điểm của keynes về thành phần và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu