1
Đề tài
Kế toán quản trị với việc lập dự
toán và báo cáo chi phí tại Công ty
Dệt May 29/3
2
MỤC LỤC
Ch ng I:ươ 4
NH NG V N C B N V CÔNG TÁC L P D TOÁNỮ Ấ ĐỀ Ơ Ả Ề Ậ Ự 4
VÀ KI M SOÁT CHI PHÍ TRONG K TOÁN QU N TRỂ Ế Ả Ị 4
CHI PHÍ C A DOANH NGHI PỦ Ệ 4
B NG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NGUYÊN V T LI UẢ Ậ Ệ 14
B NG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NHÂN CÔNG TR C TI PẢ Ự Ế 15
B NG KÊ PHÂN TÍCH CHI PHÍ S N XU T CHUNGẢ Ả Ấ 17
Th c tự ế 17
K T LU N CH NG IẾ Ậ ƯƠ 21
Ch ng II:ươ 22
TÌNH HÌNH TH C T CÔNG TÁC L P D TOÁN VÀ BÁO CÁO KI M Ự Ế Ậ Ự Ể
SOÁT CHI PHÍ T I CÔNG TY D T MAY 29/3Ạ Ệ 22
M T S S N PH M KH N CH Y U C A CÔNG TYỘ Ố Ả Ẩ Ă Ủ Ế Ủ 24
Ch ng III:ươ 48
HOÀN THI N N I DUNG CÔNG TÁC L P D TOÁNỆ Ộ Ậ Ự 48
VÀ BÁO CÁO CHI PHÍ T I CÔNG TY D T MAY 29/3Ạ Ệ 48
CH NG IƯƠ 70
NH NG LÝ LU N C B NỮ Ậ Ơ Ả 70
CH NG IIƯƠ 84
TÌNH HÌNH TH C T QU N TR CHI PHÍ T I CÔNG TY D T MAY 29/3Ự Ế Ả Ị Ạ Ệ 84
M T S S N PH M KH N CH Y U C A CÔNG TYỘ Ố Ả Ẩ Ă Ủ Ế Ủ 86
CH NG IIIƯƠ 105
3
Lời mở đầu
toán và báo cáo chi phí tại Công ty Dệt May 29/3".
4
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN
VÀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ CỦA DOANH NGHIỆP
I. BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ
1. Bản chất của kế toán quản trị
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị nhưng nếu đứng
trên góc độ sử dụng thông tin để phục vụ cho chức năng quản lý thì:
"Kế toán quản trị là một chuyên ngành kế toán thực hiện việc ghi chép,
đo lường, tính toán, thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế có
thể định lượng nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà quản trị trong quá trình
hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh".
Qua đó ta thấy rõ bản chất của kế toán quản trị là một bộ phận của hệ
thống kế toán nhằm cung cấp thông tin chủ yếu cho các nhà quản trị nội bộ ở
mỗi tổ chức. Kế toán quản trị không chỉ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin
phản ánh quá khứ mà cả thông tin hướng về tương lai mà các nhà KTTC
không thể đảm trách được. Đó là những thông tin được xử lý dựa vào những
thành tựu của công cụ quản lý, phương tiện tính toán hiện đại nhằm tăng
cường tính linh hoạt, kịp thời, hữu ích nhưng đơn giản. Đồng thời kế toán
quản trị hợp nhất với KTTC làm cho quy trình công việc kế toán hoàn thiện
và phong phú hơn.
2. Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Thông qua quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị thì
chúng ta nhận ra rằng kế toán quản trị chi phí trước hết phải là kế toán chi phí.
Nếu như những thông tin mà kế toán chi phí cung cấp là những thông
tin đã xảy ra trước đó thông qua việc lập các báo cáo chi phí và giá thành
nhằm kiểm soát chi phí, hạ giá thành thì thông tin mà kế toán quản trị chi phí
quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức cùng phối hợp để đạt mục tiêu
chung của tổ chức. Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin để thực hiện
chức năng này thông qua việc thiết lập các bộ phận, xác lập quyền hạn và
trách nhiệm của các bộ phận trong bộ máy hoạt động của tổ chức để giám sát
việc thực hiện các kế hoạch chi phí đã đề ra trong từng khâu, từng bước công
việc.
- Với chức năng kiểm tra: khi kế hoạch đã được lập để đảm bảo tính
khả thi đòi hỏi phải so sánh với thực tế. Kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp
cho nhà quản trị những thông tin thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với
kế hoạch.
Ví dụ: báo cáo chi phí, báo cáo tình hình thực hiện định mức.
Nếu giữa báo cáo thực hiện với mục tiêu đề ra có sự sai biệt lớn thì
phải tiến hành điều tra để tìm hiểu nguyên nhân nhằm tìm ra hướng giải
quyết.
- Với chức năng ra quyết định:
Để có thông tin thích hợp đáp ứng nhu cầu ra quyết định của các nhà
quản trị, kế toán quản trị chi phí sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết thích
hợp rồi tổng hợp trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu giải trình cho các
nhà quản trị. Kế toán quản trị chi phí không chỉ dừng lại ở việc cung cấp
thông tin, số liệu mà còn phải thực hiện với phân tích, đánh giá và nêu lên
kiến nghị, đề xuất tư vấn cho các nhà quản trị ra các quyết định phù hợp.
6
4. Các kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản trong kế toán quản trị chi phí
Có bốn phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản:
- Thiết kế thông tin ở dạng so sánh được: Thông tin sẽ không phát huy
hết tác dụng của nó nếu không có tiêu chuẩn để so sánh. Do vậy kế toán quản
trị phải thiết kế thông tin dưới dạng những báo cáo có thể so sánh được làm
cho thông tin có ích với nhà quản trị.
- Nhận diện và phân loại chi phí:
Nhận diện các cách phân loại chi phí sao cho thích hợp và hữu ích, là
2. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Có nhiều cách phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau:
a. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
- Chi phí nhân công.
- Chi phí nguyên vật liệu.
- Chi phí khấu hao TSCĐ.
- Chi phí dịch vụ thuê ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.
b. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế (theo khoản mục)
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
- Chi phí bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí khác.
c. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả
- Chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩm.
8
d. Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp
- Chi phí trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp.
e. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Đây là cách phân loại chi phí phổ biến nhất trong kế toán quản trị. Theo
cách phân loại này, chi phí trong kỳ kế toán bao gồm: biến phí, định phí và
chi phí hỗn hợp:
- Biến phí:
Biến phí là những chi phí nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với
mức hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm
tiêu thụ, số giờ máy vận hành Ngược lại nếu xét trên một đơn vị mức độ
+ Định phí bắt buộc: là những loại chi phí liên quan đến việc sử dụng
tài sản dài hạn như: khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng
+ Định phí không bắt buộc: còn được xem như định phí quản trị. Chi
phí này phát sinh gắn liền với quyết định hàng năm của nhà quản trị: chi phí
quảng cáo, nghiên cứu, giao tế. Về phương diện quản lý, nhà quản trị không
bị ràng buộc bởi quyết định về định phí không bắt buộc. Định phí không bắt
buộc có bản chất ngắn hạn trong những trường hợp cần thiết có thể bị cắt
giảm.
- Chi phí hỗn hợp:
Là những chi phí ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp là
định phí, thể hiện đặc điểm của định phí ở mức độ hoạt động khác, nó có thể
bao gồm cả định phí và biến phí. Vì vậy để quản lý chi phí hỗn hợp phải kết
hợp hai phạm vi ứng xử tương ứng, phải cân nhắc, khảo sát chi tiết, tỉ mỉ tính
hữu dụng của chi phí hỗn hợp trong tương lai để tránh lãng phí, khi tiến hành
phải tăng công suất hoạt động để đơn giá bình quân của chúng giảm xuống.
Để xác định các thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp
theo từng phạm vi hoạt động, có thể dùng các mô hình toán học để kiểm định,
phân tích hoặc thực nghiệm. Dưới đây là các phương pháp cơ bản thường
được sử dụng:
- Phương pháp cực đại - cực tiểu.
- Phương pháp bình phương bé nhất.
- Phương pháp đồ thị phân tán.
f. Các cách phân loại khác về chi phí
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí chênh lệch
- Chi phí chìm
- Chi phí cơ hội
III. NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ BÁO CÁO KIỂM SOÁT
CHI PHÍ TRONG KTQT CHI PHÍ
1. Lập dự toán chi phí sản xuất
=
Dự toán
SPSX
x
Định mức thời gian sản
xuất sản phẩm
Dự toán CPNC
trực tiếp
=
Dự toán thời
gian lao động
x
Định mức giá của mỗi
đơn vị thời gian lao động
1.3. Dự toán chi phí sản xuất chung
Dự toán chi phí sản xuất chung: Bao gồm dự toán biến phí sản xuất
chung và dự toán định phí sản xuất chung.
•
Dự toán biến phí sản xuất chung:
Trường hợp biến phí sản xuất chung được xây dựng theo từng yếu tố
chi phí (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp ) theo mỗi đơn
vị hoạt động thì quá trình lập dự toán biến phí sản xuất chung được thực hiện
tương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân
công trực tiếp.
Ví dụ: biến phí sản xuất chung cho 1 giờ máy hoạt động là 2000đ, dự
toán số giờ máy hoạt động trong kỳ là 6000 giờ, dự toán biến phí sản xuất
chung là 6000 x 2000 = 12.000.000đ
- Trường hợp biến phí sản xuất chung được xác định bằng một tỷ lệ
trên biến phí trực tiếp thì dựa vào dự toán biến phí trực tiếp, tỷ lệ biến phí sản
xuất để lập dự toán biến phí sản xuất chung.
bán hàng
=
Dự toán số lượng
sản phẩm tiêu thụ
x
Định mức biến
phí bán hàng
•
Dự toán định phí bán hàng: tương tự như lập dự toán định phí sản
xuất chung. Điều này có nghĩa là dự toán định phí bán hàng chính là tổng hợp
dự toán định phí bắt buộc và định phí quản trị cần thiết cho kỳ bán hàng.
Dự toán chi phí
bán hàng
=
Dự toán biến phí
bán hàng
+
Dự toán định phí
bán hàng
1.5. Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán biến phí
quản lý doanh nghiệp
=
Dự toán biến
phí trực tiếp
x
Tỷ lệ biến phí quản
lý doanh nghiệp
•
Dự toán định phí quản lý doanh nghiệp:
chi phí thành:
- Chi phí cố định: là chi phí mà nó không đổi khi mức sản xuất và tiêu
thụ thay đổi.
- Chi phí biến đổi: là chi phí thay đổi cùng với mức sản xuất và tiêu
thụ.
Ví dụ minh hoạ:
12
Biến phí sản xuất: 50 triệu
Chi phí cố định : 50 triệu 2000 sản phẩm
=> Biến phí đơn vị:
2000
50
= 25.000 đồng/sản phẩm
Ngân sách linh hoạt:
SX/ tiêu thụ (đvsp)
chi phí (đồng
Ngân sách 1
2000
100 triệu
Ngân sách 2
3000
(50tr+25.000 x 3.000) 125 triệu
Báo cáo kiểm soát thực hiện ngân sách:
SX/ tiêu thụ (đvsp)
chi phí (đồng
Ngân sách
2700
(50tr+25000x2700)
117,5tr
Thực tế
quá trình đánh giá.
13
2.1. Báo cáo về nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu
chính, vật liệu phụ, kể cả bán thành phẩm mua ngoài dùng trực tiếp để sản
xuất ra sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá
thành sản phẩm trong ngành công nghiệp nhẹ cho nên việc kiểm soát chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp có ý nghĩa lớn đến việc hạ giá thành.
CPNVLTT = SLSPSX x Định mức tiêu hao NVLTT x Đơn giá mua
Do đó mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố:
- Số lượng sản phẩm sản xuất .
- Định mức tiêu hao.
- Đơn giá mua.
Tuy nhiên, sự tăng giảm của chi phí sản xuất không phản ánh kết quả
tiết kiệm hay lãng phí, vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí khả biến
nên sản phẩm sản xuất tăng thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng và ngược
lại. vì vậy cần phải đảm bảo sự phối hợp một cách chặt chẽ giữa khâu sản
xuất và khâu tiêu thụ đảm bảo chi phí tồn kho tối thiểu.
Vì vậy để tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì chúng ta cần
phải kiểm soát được định mức tiêu hao nguyên vật liệu và đơn giá nguyên vật
liệu.
Để làm rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp của từng loại sản phẩm, tỏng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
của doanh nghiệp giúp cho nhà quản trị trong việc kiểm soát chi phí chúng ta
có thể xây dựng bảng báo cáo và phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
như sau:
14
BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU
Chỉ tiêu Sản phẩm A Sản phẩm B Sản phẩm
nguyên nhân chủ quan hay khách quan tác động đến sự biến động này và đồng thời đề ra các giải pháp thích hợp để
kiểm soát chi phí nguyên vật liệu ở đầu vào và khai thác các khả năng còn tiềm tàng.
15
2.2. Báo cáo chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là biểu hiện bằng tiền khoản hao phí về lao
động sống mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất bao
gồm: tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp theo lương và các
khoản BHXH, BHYT, KPCĐ được trích theo tỷ lệ trên tiền lương và tính vào
chi phí. Do chi phí nhân công trực tiếp là chi phí khả biến nên mức độ hoạt
động tăng lên, chi phí tăng lên và ngược lại. Thông qua quá trình phân tích
chi phí nhân công trực tiếp giúp cho nhà quản trị kiểm sóat chi phí hiệu quả
hơn.
Ta có:
Tổng CPNCTT = x CP nhân công bình quân
Do vậy khi phân tích chi phí nhân công trực tiếp cần phải so sánh chi
phí nhân công với đại lượng kết quả hoàn thành như chỉ tiêu số lượng sản
phẩm, giá trị sản xuất hay doanh thu, so sánh mức độ tăng năng suất lao động
với mức độ tăng của chi phí nhân công bình quân cho thấy việc tuyển dụng và
sử dụng lao động có hiệu quả hơn, lao động đem lại nhiều lợi ích hơn và
ngược lại.
Như chúng ta đã biết hệ thống các báo cáo về lao động hiện nay tại các
doanh nghiệp chỉ mới tập trung vào việc cung cấp thông tin cho việc tính
lượng chứ chưa đi vào phân tích và đánh giá nguyên nhân của những biến
động của chi phí lao động theo hướng bất lợi hay có lợi. Để đáp ứng yêu cầu
trên thì chúng ta có thể áp dụng bảng phân tích chi phí nhân công trực tiếp
theo mẫu sau:
BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
Chỉ tiêu
Kế
x CPNC
0
∆TCPNCTT - NSLĐ = GTSX
1
x
)
NSLÂ
1
NSLÂ
1
(
01
−
x CPNC
0
16
∆TCPNCTT - CPNC = GTSX
1
x
1
NSLÂ
1
x (CPNC
1
- CPNC
0
)
Thông qua số liệu trên bảng cho thấy việc sử dụng lao động chi trả
lương của doanh nghiệp thực tế có hiệu quả so với kế hoạch hay không có
đảm bảo kết hợp lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người lao động hay
giá
Chênh
lệch do
khối lượng
1. Biến phí SXC
- CP vật liệu
- Nhiên liệu
- Công cụ
- Tiền lương
2. Định phí SX chung
- Vật liệu gián tiếp
- Tiền lương
- Khấu hao TSCĐ
- Tiền thuê nhà xưởng
- Tiền bảo hiểm tài sản
Mức hoạt động thực tế Mức hoạt động thực tế
x Đơn giá thực tế x Đơn giá dự toán
Mức độ HĐ thực tế Mức độ HĐ tiêu chuẩn
x Đơn giá dự toán x Đơn giá dự toán
Bảng phân tích chi phí sản xuất chung cho thấy chi phí sản xuất chung
biến động theo chiều hướng có lợi hay bất lợi qua đó tìm hiểu nguyên nhân
chủ quan hay khách quan dẫn đến sự biến động đó và đề ra các giải pháp
nhằm kiểm soát tốt các chi phí sản xuất chung phát sinh.
2.4. Lập báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận theo phương pháp số
dư đảm phí
Báo cáo bộ phận là một bộ phận cung cấp thông tin doanh thu, chi phí,
lợi nhuận trong nội bộ của doanh nghiệp.
Báo cáo bộ phận được thành lập theo mô hình ứng xử chi phí, nghĩa là
Tỷ lệ
1. Doanh thu
2. Các khoản giảm trừ DT
3. Biến phí bộ phận
4. Số dư đảm phí
5. Định phí bộ phận
6. Số dư bộ phận (LN bộ phận)
7. Chi phí cấp trên phân bổ
8. Lợi nhuận sau phân bổ chi
phí cấp trên
Ngày tháng năm
Kế toán phụ trách Giám đốc
Với hình thức báo cáo theo tổng giá trị và tỷ lệ giúp nhà quản trị có
những thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động quản trị như tổng mức giá trị
và tỷ lệ của doanh thu biến phí, số dư đảm phí, định phí từng cấp, lợi nhuận
từng phạm vi.
19
2. Hình thức thứ hai: Thể hiện các chỉ tiêu theo giá trị và đơn vị:
Chỉ tiêu
Toàn công
ty (bộ
phận)
Bộ phận sản
phẩm, khu vực
Bộ phận (sản
phẩm, khu vực)
Số tiền Số tiền Đơn vị Số tiền Đơn vị
1. Doanh thu
2. Các khoản giảm trừ DT
3. Biến phí bộ phận
20
Chi phí sản xuất trên
báo cáo kết quả
=
Tổng chi phí SX trong kỳ
x
Mức độ tiêu
thụ trong kỳ
Mức hoạt động SX trong kỳ
Do nhu cầu phải kịp thời có số liệu chi phí đơn vị để đánh giá công việc
hoàn thành và cho các quyết định kinh doanh khác mà chi phí sản xuất chung
đến cuối kỳ mới tập hợp được, nên các doanh nghiệp ước tính chi phí sản xuất
chung ngay từ đầu và dựa vào mức sản lượng dự kiến để tiến hành phân bổ
mức chi phí sản xuất chung ước tính. Đến cuối kỳ xử lý chênh lệch chi phí
sản xuất chung. Có hai trường hợp.
- Chi phí sản xuất chung thực tế lớn hơn chi phí sản xuất chung ước
tính trường hợp này làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận.
- Ngược lại chi phí sản xuất chung thực tế nhỏ hơn chi phí sản xuất
chung ước tính trường hợp này ghi giảm chi phí và tăng lợi nhuận.
Phương pháp tính giá toàn bộ cung cấp số liệu cho các doanh nghiệp
lập các báo cáo tài chính theo quy định, song xét về góc độ quản trị phương
pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các
kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình
huống quy mô sản xuất khác nhau và các quyết định về giá bán sản phẩm với
mức sản lượng khác nhau. Phương pháp tính chi phí thứ hai sẽ giúp các doanh
nghiệp khắc phục được hạn chế này. Đó là phương pháp tính chi phí trực tiếp.
3.2. Xác định chi phí theo phương pháp trực tiếp
Phương pháp xác định chi phí toàn bộ là phương pháp phân bổ một
phần chi phí sản xuất chung bất biến cho từng đơn vị sản phẩm sản xuất ra
trong kỳ cùng với chi phí khả biến. Chi phí đơn vị sản phẩm bao gồm cả chi
nay đang phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt của giá trong việc tìm
kiếm bạn hàng.
22
Chương II:
TÌNH HÌNH THỰC TẾ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ BÁO
CÁO KIỂM SOÁT CHI PHÍ TẠI CÔNG TY DỆT MAY
29/3
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT MAY 29/3
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY DỆT
MAY 29/3
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Dệt may 29/3
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trước nhu cầu khách quan về
sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu làm đẹp ngày càng tăng, đồng thời
nhằm xây dựng nền kinh tế đồng bộ và hoàn chỉnh. Các nhà tiểu thương Đà
Nẵng đã cùng nhau góp vốn thành lập nên "Tổ Hợp dệt 29/3". Lúc bấy giờ, cơ
sở vật chất còn thô sơ và mang tính thủ công. Toàn cơ sở chỉ có 12 máy dệt,
40 nhân viên hoạt động hoàn toàn bằng kỹ thuật thủ công do 38 cổ đông đóng
góp. Ngày 29/3/1976 nhân dịp kỉ niệm 1 năm ngày giải phóng Đà Nẵng "Tổ
hợp dệt" đã chính thức được khánh thành. Từ những năm 1976 đến năm 1978,
kỹ nghệ dệt khăn bông còn khá mới mẻ. Để có điều kiện để phát triển và mở
rộng sản xuất, ngày 28/01/1978 "Tổ hợp dệt" được chuyển thành "Công ty
hợp doanh 29/3" vói tổng số vốn trên 1 tỷ đồng và đã sản xuất ra hàng triệu
khăn mặt, mặc dù chất lượng chưa cao nhưng đáp ứng được nhu cầu thị
trường trong nước, góp được phần nào vào nền kinh tế trong thời kỳ bao cấp
khó khăn của đất nước.
Hoà cùng xu thế của nền kinh tế đang phát triển , ngày 29/3/1984 xí
nghiệp được cho phép chuyển thành đơn vị quốc doanh và được đổi tên thành
"Nhà máy Dệt 29/3". Nhà máy dệt 29/3 hoạt động với mục tiêu tạo công ăn
việc làm cho người lao động tỉnh nhà nâng cao mức thu nhập cho cán bộ công
nhân viên trong nhà máy. Đây là thời kỳ "Nhà máy dệt 29/3" đạt tốc độ phát
Thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG
TY DỆT MAY 29/3
Trong giai đoạn nền kinh tế đang trên đà phát triển cùng với sự cạnh
tranh gay gắt của thị trường, công ty đã không ngừng đầu tư mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh, trang bị máy móc thiết bị mới, thay đổi quy trình
công nghệ hiện đại Hiện nay công ty đầu tư mở rộng chủ yếu hai lĩnh vực
dệt và may mặc.
24
1. Đặc điểm ngành dệt
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngành dệt có những bước thay đổi
đáng kể, sản phẩm ngành dệt rất đa dạng và phong phú: các loại khăn mặt,
khăn tay, khăn trải giường, áo choàng tắm sản lượng sản xuất ngày càng
tăng lên, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, thị trường tiêu thụ không ngừng
được mở rộng sang các nước như: Thái Lan, Nhật sản phẩm đa dạng về màu
sắc và đều được sản xuất chung bằng loại nguyên liệu vật liệu chính là cotton
100% với nhiều kích cỡ và kiểu dáng khác nhau.
1.1. Nguyên liệu vật liệu ngành dệt
Nguyên liệu vật liệu dùng cho sản xuất khăn bông bao gồm: sợi (chủ
yếu là sợi cotton Nm34). Nguồn cung cấp sợi cho công ty hiện nay là:
- Công ty dệt Hoà Thọ.
- Công ty Dệt Huế.
Ngoài ra công ty còn nhập sợi từ các nước: Ấn độ, Pakistan
1.2. Sản phẩm
Sản phẩm ngành dệt của công ty bao gồm nhiều loại khác nhau: khăn
mặt, khăn tắm, áo choàng tắm với kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc khác nhau.
Mặc dù có nhiều chủng loại nhưng sản phẩm khăn bông chủ yếu của công ty
có thể quy về hai dạng chung là khăn jaquad và khăn trơn.
MỘT SỐ SẢN PHẨM KHĂN CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY
ngày càng cao với hệ thống thiết bị tiên tiến. Mặt khác toàn bộ nguyên vật
liệu đều do nước ngoài cung cấp nên vấn đề chất lượng và cung ứng nguyên
vật liệu đều được đảm bảo. Trong năm 2000, công ty sản xuất xuất khẩu gần
4 triệu sản phẩm xâm nhập vào nhiều thị trường, Nhật, Đài Loan, Úc, và trong
tương lai sẽ mở rộng sang nhiều thị trường nước ngoài khác.
2.1. Nguyên liệu vật liệu
25
Nguyên liệu vật liệu chính là vải được sản xuất tại nước ngoài với chất
lượng cao.
2.2. Sản phẩm: Sản phẩm may ở công ty gồm áo jacket, áo sơ mi và
quần
III. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY DỆT MAY 29/3
1. Tổ chức sản xuất
1.1. Bộ phận sản xuất chính
Phân xưởng dệt: là nơi trực tiếp chế biến nguyên liệu vật liệu chính là
sợi mộc bằng cách kết hợp sợi ngang sợi dọc để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Phân xưởng may: khi nhận nguyên liệu vật liệu từ khách hàng sẽ tiến
hành gia công tạo ra thành phẩm theo đúng quy định trong đơn đặt hàng thực
hiện may từng công đoạn.
Phân xưởng tẩy nhuộm: thực hiện tẩy nhuộm sợi theo từng mẫu hàng
khác nhau.
Phân xưởng cắt.
Phân xưởng hoàn thành: hoàn thành sản phẩm, tiến hành đóng gói và
nhập kho.
1.2. Bộ phận phục vụ sản xuất
Gồm các tổ cơ điện, tổ lò hơi, lò mộc, tổ cơ khí phục vụ cho quá trình
sản xuất được liên tục, có nhiệm vụ cung cấp hơi điện, động cơ máy nổ
trong từng ca sản xuất.
1.3. Bộ phận sản xuất phụ: Có nhiệm vụ xử lý phế phẩm phế liệu.