Tiểu luận: Tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình phát triển của làng nghề thêu ren của THANH HÀ (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) - Pdf 19

Tiểu luận
Tìm hiểu, phân tích và đánh giá
tình hình phát triển của làng nghề
thêu ren của THANH HÀ (huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Nghiên cứu: Tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình phát triển của
làng nghề thêu ren của THANH HÀ (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)
1.1. Sự cần thiết của đề tài
Từ xa xưa, hệ thống các làng nghề tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm vị
trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng
quê Việt Nam. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý
nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy
những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Trước đây kinh tế của người Việt chủ yếu sống dựa vào nghề trồng lúa
nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc. Chỉ những ngày đầu
vụ và cuối vụ người dân mới có việc làm còn những ngày còn lại thì rất nông
nhàn. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm
nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng
ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương hỗ trợ và phát triển nông
nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước, các ngành nghề, làng nghề tiểu thủ
công nghiệp ở nước ta đã và đang được khôi phục và phát triển. Nhiều làng
nghề tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra việc làm thường xuyên cho trên 50% lao
động và sử dụng được phần lớn lao động nông nhàn
Thanh Hà (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) là xã có nghề thêu ren
truyền thống từ lâu đời. Những năm gần đây, các làng nghề thêu ren ở xã
được khôi phục và phát triển ở tất cả các thôn, xóm. Có thể nói, phát triển các
làng nghề thêu ren là một thế mạnh thực sự để xã tiến hành công nghiệp hóa,

thành từ rất sớm. Làng ra đời gắn với hai yếu tố “định canh" và "định cư”. Ở
những khu vực nào mà dân cư đã định canh sẽ đưa đến việc định cư và đã
định cư, định canh thì làng xuất hiện.
Tiểu thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công
và các cơ sở công nghiệp nhỏ. Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này có
nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (làng nghề): là làng có nghề tiểu thủ
công nghiệp phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệ thu nhập từ nghề TTCN
nhất định, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu được của
người dân trong làng. Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ở Việt
Nam đang có xu hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập
của làng từ nghề thủ công. Tỷ lệ đó được duy trì và ổn định trong nhiều năm.
2.2. Phân loại làng nghể tiểu thủ công nghiệp (TTCN)
- Theo thời gian (sự hình thành của làng nghề):
+ Làng nghề truyền thống: là làng nghề có lịch sử hình thành và phát
triển lâu đời. Sản phẩm của làng nghề có nét độc đáo, có tính riêng biệt mang
đặc thù của địa phương, chứa đựng cả yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, được
nhiều người biết đến và được tiêu thụ ở nhiều nơi. Làng nghề truyền thống có thể
đang phát triển, có thể đang bị mai một hoặc không còn làm nghề nữa.
+ Làng nghề mới: là làng nghề mới được hình thành do yêu cầu phát triển
sản xuất và đời sống trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế của địa phương.
- Theo nghề TTCN:
+ Làng nghề thủ công mỹ nghệ (sản xuất ra các sản phẩm như: thêu
ren, thảm, khảm, sơn mài, gốm sứ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, kim hoàn, ).
+ Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm.
+ Làng nghề vật liệu xây dựng.
+ Làng nghề dệt nhuộm.
+ Làng nghề tái chế chất thải (giấy, nhựa, kim loại, ).v.v
- Theo tính chất của sản xuất: làng nông nghiệp kiêm nghề thủ công,
làng nghề thủ công chuyên nghiệp, làng nghề thủ công xuất khẩu.v.v

Thêu là một nghề thủ công truyền thống mang tính chất nghệ thuật
trang trí tạo hình truyền thống của nước ta, xuất hiện từ thuở vua Hùng dựng
nước. Nghề thêu ren phát triển thành làng nghề vào thế kỷ thứ 17. Kế thừa
những kinh nghiệm quý báu của cha ông truyền lại, người thợ thêu đã vận
dụng kỹ thuật thêu một cách hiệu quả vào việc tạo nên những mẫu thêu đạt
trình độ nghệ thuật cao, cung ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, góp phần tăng thu nhập trong từng hộ gia đình, chiếm vị trí quan trọng
trong sản xuất, đời sống và trong nền kinh tế quốc dân.
Nghề thêu ren không quá phức tạp, đòi hỏi lớn nhất với những người
làm nghề là sự kiên trì, cẩn thận và ý thức làm việc tập thể. Công cụ dùng
trong nghề thêu ren khá đơn giản. Các thợ thêu chỉ sử dụng một số thứ vật liệu
ở mức tối thiểu như khung thêu, kim thêu các cỡ (kiểu tròn và kiểu chữ nhật),
kéo, thước, bút lông, phấn mỡ, vải thêu (vải trắng, sa tanh, lụa ), chỉ thêu các
màu. Chính vì thế, nghề thêu ren rất phù hợp với khả năng nguồn lao động
của nước ta, nhất là ở khu vực nông thôn. Mũi kim thoăn thoắt đưa đi đưa lại
những đường chỉ cùng đó là những hình thù với màu sắc sống động dần hiện
ra. Các sản phẩm thêu ren trước hết là những vật phẩm có giá trị nghệ thuật
cao, không bao giờ lỗi mốt, chúng rất gần gũi với cuộc sống con người và tô
điểm cho cuộc sống của con người kể từ lúc chào đời cho đến khi giã từ cuộc
sống, từ những tấm khăn tay đến các loại khăn trải bàn, ga gối, rèm cửa, quần
áo, đến tranh thêu.
Ngoài giá trị sử dụng phục vụ nhu cầu của con người, hàng thêu ren
còn có giá trị văn hoá lịch sử thể hiện nét văn hoá dân tộc độc đáo.
Vì vậy , nghề thêu ren cần phát triển cho tương xứng với tiềm năng của nó.
B, Đặc điểm của làng nghề thủ công xã Thanh Hà
Xã Thanh Hà (Thanh Liêm) nằm cạnh quốc lộ 1A, có 2.626 hộ với 9.699
người ở 7 thôn. Trong số 2.626 hộ thì có 2.002 hộ làm nghề thêu ren chiếm
76,2%, với 5.740 lao động tham gia, trong số này lao động chính có 2.684
người, lao động phụ là 2.896 người và lao động thuê là 160 người. Những con
số trên chứng tỏ Thanh Hà là xã mà số hộ và số lao động làm nghề thêu ren

3.1. Thực trạng của làng nghề thêu ren xã Thanh Hà
a. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của xã đã có những chuyển biến
tích cực. Giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
- thương mại đều tăng, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch, đời sống của đại bộ
phận dân cư đã được cải thiện.
Tổng giá trị sản xuất của xã tăng từ 71,4 tỷ đồng năm 2003 lên 107,8 tỷ
đồng năm 2007 (theo giá hiện hành), tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân
giai đoạn 2003 - 2007 đạt 10,8%, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng tăng
13,4%, ngành thương mại - dịch vụ tăng 8,2% và ngành nông nghiệp tăng 3,8%.
Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Thanh Hà 2003 - 2007
(theo giá hiện hành)
Đơn vị: tỷ đồng,%
Chỉ tiêu
Năm 2003 Năm 2007
GTSX Cơ cấu GTSX Cơ cấu
GTSX 71,4 100 107,8 100
1. Nông nghiệp - thuỷ sản 20,2 28,3 27,2 25,2
2. Công nghiệp, TTCN - xây
dựng
30,2 42,3 48,1 44,7
3. Dịch vụ - thương mại 21,0 29,4 32,5 30,1
Nguồn: Tổng hợp Báo cáo của UBND xã Thanh Hà, giai đoạn 2003 - 2007
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của xã thời gian qua có
sự chuyển dịch tích cực phù hợp với xu thế chung của huyện và tỉnh, giảm
dần tỷ trọng nông nghiệp, thuỷ sản trong tổng giá trị sản xuất (về giá trị vẫn
tăng), tăng dần tỷ trọng công nghiệp, TTCN, xây dựng và thương mại, dịch
vụ. Năm 2003, tỷ trọng nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất là 28,3%, công
nghiệp - TTCN - xây dựng 42,3% và thương mại, dịch vụ 29,4% (xem bảng
2.2). Năm 2007, tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn 25,2%, công nghiệp -

1 An Hoà 120.100 42,5 7.900 40,3
2 Hoà Ngãi 58.500 20,7 4.800 24,5
3 Thạch Tổ 24.600 8,7 1.500 7,7
4 Dương Xá 31.300 11,1 2.300 11,7
5 Ứng Liêm 19.200 6,8 1.100 5,6
6 Mậu Chử 21.700 7,7 1.400 7,1
7 Quang Trung 7.100 2,5 600 3,1
Nguồn: Phòng Công thương huyện Thanh Liêm
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy quy mô sản lượng sản phẩm thêu ren ở 2
làng nghề An Hoà và Hoà Ngãi chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2007, riêng 2
làng nghề này chiếm 63,2% tổng sản lượng hàng thêu và 64,8% tổng sản
lượng hàng ren của xã, trong đó lượng sản phẩm thêu ren của làng nghề An
Hoà chiếm trên 40%, tiếp đến là làng nghề Hoà Ngãi chiếm trên 20% tổng sản
lượng toàn xã.
Về mặt giá trị: Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Thanh Hà
qua các năm được thể hiện ở bảng 2.5.
Bảng 2.5: Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Thanh Hà qua các năm
Đơn vị: triệu đồng
TT Tên làng nghề Giá trị sản xuất qua các năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
1 An Hoà 18.700 20.900 23.400 26.270 29.510 33.150 37.860
2 Hoà Ngãi 5.900 6.500 7.200 8.060 9.050 10.210 11.570
3 Thạch Tổ 3.400 3.810 4.300 4.870 5.520 6.260 7.180
4 Dương Xá 4.700 5.200 5.800 6.460 7.250 8.140 9.170
5 Ứng Liêm 2.300 2.600 2.950 3.360 3.840 4.390 5.030
6 Mậu Chử 2.800 3.100 3.480 3.940 4.510 5.170 5.940
7 Quang Trung 1.100 1.240 1.410 1.610 1.840 2.110 2.420
Tổng cộng toàn xã 38.900 43.350 48.540 54.570 61.520 69.430 79.170
Nguồn: Phòng Công thương huyện Thanh Liêm
Giá trị sản xuất sản phẩm thêu ren của các làng nghề những năm gần

Cơ cấu lao động ở các làng nghề được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.7: Cơ cấu lao động ở các làng nghề thêu ren xã Thanh Hà năm 2007
Tên làng Lao động TTCN
Lao động dịch
vụ
Lao động NN
An Hoà 87,6 9,3 3,1
Hoà Ngãi 78,7 7,1 14,2
Thạch Tổ 69,3 2,4 28,3
Mậu Chử 65,4 3,2 31,4
Dương Xá 67,2 4,1 28,7
Ứng Liêm 66,5 2,3 31,2
Quang Trung 62,1 22,7 15,2
Nguồn: UBND xã Thanh Hà
Qua bảng trên ta thấy các làng nghề thêu ren xã Thanh Hà có tỷ lệ lao
động tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn. Điều này cho thấy sự phát triển
của các làng nghề có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết việc làm, đã giải
quyết đáng kể lực lượng lao động dư thừa của địa phương và lao động từ các
địa phương khác đến nhưng thường là lao động nông nghiệp thời vụ đến để
học nghề.
Qua điều tra khảo sát ở 7 làng nghề cho thấy những người thợ thêu lao
động thường xuyên làm việc khoảng 8 - 10 giờ/ngày, trong những đợt cao
điểm có thể lên đến 12 giờ/ngày và làm việc quanh năm.
Quy mô sử dụng lao động nghề thêu ren của hộ gia đình thường từ 5 -
10 lao động (kể cả lao động của gia đình). Khi thực hiện các hợp đồng gia
công nhiều sản phẩm trong một thời gian có hạn, các hộ gia đình có thể thuê
mướn (từ 25 - 30) lao động thời vụ.
Lao động trong các cơ sở sản xuất ở các làng nghề thêu ren như sau:
Bảng 2.8: Tình hình sử dụng lao động trong các cơ sở sản xuất hàng thêu
ren năm 2007

ĐVT: đồng
STT Tên làng nghề Thu nhập bình quân tháng
1 An Hoà 850.000
2 Hoà Ngãi 800.000 - 850.000
3 Thạch Tổ 750.000 - 800.000
4 Dương Xá 750.000 - 800.000
5 Mậu Chử 700.000 - 750.000
6 Ứng Liêm 700.000 - 750.000
7 Quang Trung 700.000 - 750.000
Nguồn: Điều tra khảo sát của Phòng Công thương Thanh Liêm
d, Quy trình thêu ren
Quy trình sản xuất sản phẩm thêu ren bao gồm những công đoạn cơ
bản: pha cắt, in kẻ, thêu, kiểm hoá, giặt là, đóng gói.
Pha cắt: Đây có thể được coi là khâu khởi đầu để tạo nên sản phẩm thêu
ren. Trên cơ sở mẫu đã được thiết kế, đội ngũ nghệ nhân, thợ, cán bộ kỹ thuật
của cơ sở sản xuất tiến hành tính toán định mức vải cần sử dụng để có thể làm
nên sản phẩm theo đúng kích cỡ, tiêu chuẩn khách hàng yêu cầu.
In kẻ: Sau khi có số liệu từ khâu pha cắt, những người thợ làng nghề
tiến hành in kẻ. Đây là khâu đòi hỏi độ chính xác rất cao.
Thêu: Sản phẩm thêu ren của cơ sở sản xuất làng nghề được các nghệ
nhân, những người thợ thực hiện bằng đôi bàn tay khéo léo cùng với tâm hồn
thăng hoa của người dân làng nghề thêu ren truyền thống.
Kiểm hoá: Để có thể có được một sản phẩm thêu ren hoàn hảo cả về kỹ
thuật và hình thức, các cơ sở làng nghề rất coi trọng khâu kiểm hoá. Với kinh
nghiệm và tay nghề của mình, những tay kim, những kỹ thuật viên luôn cố
gắng tìm ra và chỉnh sửa lại từ những sai sót nhỏ nhất của sản phẩm thêu ren
như đường thêu, sợi chỉ thừa,
Giặt là: Sản phẩm sau khi được kiểm hoá sẽ được chuyển sang khâu
giặt là. Tại đây, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở các cơ sở sản xuất sẽ giúp làm
sạch những vết dơ, rồi là ủi kỹ theo từng đường nét thêu.

(%)
SL
(tr.đ)
CC(%)
SL
(tr.đ)
CC
(%)
SL
(tr.đ)
CC
(%)
Chỉ tiêu kết quả
1. Tổng giá trị SX (GO) 43,7 100 35,9 100 47,5 100 40,9 100 52,1 100 47,1 100
- Nông nghiệp 4,1 9,4 6,4 17,8 4,3 9,1 7,0 17,1 4,6 8,8 7,4 15,7
- Nghề thêu ren 39,6 90,6 27,1 75,5 43,2 90,9 31,2 76,3 47,5 91,2 36,1 76,6
- Khác 0 0 2,4 6,7 0 0 2,7 6,6 0 0 3,6 7,6
2. Tổng chi phí 23,5 100 18,7 100 25,5 100 21,4 100 27,9 100 25,2 100
- Nông nghiệp 2,2 9,4 2,5 13,3 2,4 9,4 2,9 13,6 2,7 9,7 3,3 13,1
- Nghề thêu ren 21,3 90,6 14,9 79,7 23,1 90,6 17,1 79,9 25,2 90,3 19,8 78,6
- Khác 0 0 1,3 7,0 0 0 1,4 6,5 0 0 2,1 8,3
3. Thu nhập hỗn hợp (MI) 20,2 100 17,2 100 22,0 100 19,5 100 24,2 100 21,9 100
- Nông nghiệp 1,9 9,4 3,9 22,7 1,9 8,6 4,1 21,0 1,9 7,9 4,1 18,7
- Nghề thêu ren 18,3 90,6 12,2 70,9 20,1 91,4 14,1 72,3 22,3 92,1 16,3 74,4
- Khác 0 0 1,1 6,4 0 0 1,3 6,7 0 0 1,5 6,8
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra
Qua số liệu bảng phân tích ta thấy giá trị sản xuất từ nghề thêu ren của hộ
trong các làng nghề chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng dần qua các năm.
Trong các làng nghề thêu ren trên địa bàn xã, các hộ chuyên sản xuất đạt
giá trị sản xuất từ nghề thêu ren cao hơn so với các hộ kiêm sản xuất nông

0,469 đồng thu nhập Nhờ hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các làng nghề thêu
ren tăng lên nên đã làm cho thu nhập bình quân của người lao động làm nghề
tăng lên, năm 2005 thu nhập bình quân người lao động là 663.736 đồng/tháng
nhưng đến năm 2007 đã tăng lên 808.815 đồng/tháng. Đây là mức thu nhập cao
so với mức bình quân chung của người lao động trên địa bàn huyện Thanh
Liêm (năm 2007 khoảng 650.000 - 700.000 đồng/tháng).
* Hiệu quả về xã hội:
Hoạt động sản xuất kinh doanh ở các làng nghề đã góp phần vào việc giải
quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân xã Thanh Hà.
Hoạt động sản xuất nghề thêu ren ở các làng nghề đã thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn Thanh Hà theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Việc phát triển sản xuất nghề thêu ren ở xã Thanh Hà còn góp phần quan
trọng vào việc giữ gìn những sản phẩm có giá trị cao vừa mang ý nghĩa về kinh
tế và vừa có ý nghĩa về bản sắc truyền thống của địa phương.
3.3. Hạn chế
- Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề trên địa bàn xã thiếu mặt bằng
sản xuất, thiếu vốn đầu tư để phát triển sản xuất.
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là phục vụ xuất khẩu, nhưng hầu
hết là xuất khẩu gián tiếp, làm gia công nên dễ bị ép giá, giảm hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
+ Các doanh nghiệp cung cấp đầu vào nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm
cho làng nghề còn thiếu và yếu dẫn đến việc nhiều làng nghề TTCN không ổn
định sản xuất, tiêu thụ hàng hoá gặp nhiều khó khăn.
- Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về phát triển công nghiệp.
- TTCN ở các làng nghề chưa được quan tâm đúng mức.
- Điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, ngân sách eo hẹp (thu không đủ chi)
nên không có vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng (như đường giao thông, hệ thống
cấp thoát nước, hệ thống điện, cây xanh, ) ở các làng nghề thêu ren trên địa bàn xã,
phần lớn trông chờ vào vào sự hỗ trợ từ ngân sách huyện, tỉnh, Trung ương.

lượng lao động hiện có và lực lượng lao động được bổ sung thường xuyên; thực
hiện chuyển dịch cơ cấu lao động bằng cách chuyển một bộ phận lao động nông
nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp theo quan điểm “ly nông bất ly hương”.
- Phát triển các làng nghề thêu ren trên địa bàn xã cần hình thành các khu
sản xuất tập trung ở các làng nghề, tạo thuận lợi về kết cấu hạ tầng, mặt bằng
để các cơ sở sản xuất, các hộ làng nghề thêu ren đầu tư mở rộng quy mô, phát
triển sản xuất kinh doanh.
- Phát triển các làng nghề thêu ren theo hướng đa dạng hoá hình thức sở
hữu, mô hình tổ chức sản xuất, định hướng ưu tiên đưa công nghệ tiên tiến, hiện
đại kết hợp với công nghệ cổ truyền trong các làng nghề.
- Phát triển làng nghề cần chú ý đến vấn đề môi trường và phải đặt nó
trong sự phát triển tổng thể, coi đó là một yếu tố quan trọng của sự phát triển
bền vững; do đó cần tập trung di dời các cơ sở sản xuất, trước hết là những cơ
sở gây ô nhiễm (các xưởng giặt, là, nhuộm) nằm xen kẽ trong khu dân cư đến
cụm sản xuất TTCN tập trung để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường, đảm bảo
sức khỏe cộng đồng.
- Phải xuất phát từ nhu cầu thị trường để lựa chọn các mặt hàng, chủng
loại, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng và giá
cả sản phẩm; sản phẩm thêu ren của làng nghề phải có sức cạnh tranh với sản
phẩm cùng loại được sản xuất ở các địa phương khác trong cả nước.
- Phải gắn với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh xuất
khẩu. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho các làng
nghề thêu ren ở xã tạo việc làm để tăng trưởng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu
song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho sự phát triển; vì vậy, việc phát
triển các làng nghề cần chủ động chuẩn bị đầy đủ về nội lực để từng bước phát
triển theo hướng bền vững.
Phương hướng của làng nghề đến năm 2015:
- Xây dựng được thương hiệu sản phẩm làng nghề thêu ren truyền thống
xã Thanh Hà, tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường của sản phẩm thêu ren của
các làng nghề với thương hiệu của mình.

trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế:
- Làng nghề phát triển góp phần phát huy tiềm năng, thế mạnh nội lực
của địa phương:
- Phát triển làng nghề góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc của địa phương:
IV. KẾT LUẬN
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạng và sự phát triển của
làng nghề thêu ren xã Thanh Hà, chúng ta có thể đưa ra những kết quả sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận về sự cần thiết phát triển làng nghề tiểu thủ công
nghiệp trong nông thôn.
- Vai trò của nghề thêu ren truyền thống.
- Thực trạng của ngành thêu ren của xã Thanh Hà
- Phương hướng và giải pháp phát triển ngành thêu ren truyền thống.
Từ đó, chúng ta cần có những nhận thức đúng đắn và sự quan tâm hơn
nữa tới nghề thêu ren truyền thống của riêng xã Thanh Hà cũng như nghề thêu
ren truyền thống của nước ta, để nó xứng đáng với tầm quan trọng của nó. Và
qua đây nêu lên một vài ý kiến giúp cho sự phát triển như sau:
- Cần tổng kết kinh nghiệm phát triển các làng nghề TTCN ở Việt Nam
trong thời gian qua và xây dựng một chương trình toàn diện và cụ thể về phát
triển làng nghề trong chương trình tổng thể về CNH, HĐH nông thôn.
- Thực thi đồng bộ nhiều chính sách và giải pháp nhằm khuyến khích, hỗ
trợ, giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi cho sự khôi phục, hình thành và phát triển
của các làng nghề TTCN. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến các chính sách và
biện pháp hỗ trợ các làng nghề ổn định và mở rộng thị trường, tạo lập và tăng
cường vốn, đổi mới và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy sự liên kết giữa các
doanh nghiệp với các hộ sản xuất kinh doanh, hỗ trợ đào tạo các nhà doanh
nghiệp, người lao động, tăng cường quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
và giải quyết mặt bằng sản xuất cho các cơ sở sản xuất của các làng nghề.
V: nguồn tài liệu tham khảo
Hệ thống Website:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status