II
TIỂU LUẬN
NGƯỜI NÔNG DÂN
VIỆT NAM VỚI
SÁNG CHẾ
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc sống của người nông dân là rất vất vả. Họ tất bật với công việc đồng áng,
một nắng hai sương ở trên đồng ruộng, đầu tắt mặt tối với công việc gia đình. Do đó
hiện nay nhu cầu máy nông nghiệp phục vụ sản xuất và các loại máy phục vụ cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày của nông dân là rất lớn và phong phú để làm cho cuộc
sống của họ đỡ vất vả hơn. Nhưng ngành cơ khí nông nghiệp trong nước chưa đáp
2
ứng đầy đủ nhu cầu đa dạng của họ.Bên cạnh đó những máy móc mà những nhà
khoa học làm thường là những máy móc rất lớn ở tầm vĩ mô, mà người nông dân
cần những thứ phục vụ ngay cho sản xuất và cuộc sống hàng ngày. Từ những nhu
cầu đó bằng những kinh nghiệm tích lũy được trong lao động, sản xuất thực tế
những người nông dân đã trở thành những nhà sáng chế ra các trang thiết bị phục vụ
cho công việc của họ. Những cải tiến, sáng chế đó đã góp phần làm vơi đi nỗi vất vả
cho bà con nông dân và đạt được hiệu quả kinh tế đáng ghi nhận.
Những thiết bị phục vụ công việc đồng áng, chăn nuôi, sinh hoạt gia đình, bảo vệ
hoa màu… được nông dân làm ra theo “đơn đặt hàng của cuộc sống”. Điều này cho
thấy tiềm năng sáng tạo to lớn của con người Việt Nam. Tuy nhiên, từ đây cũng nảy
sinh câu hỏi về mối quan hệ giữa các nhà khoa học, cơ sở sản xuất công nghiệp và
người nông dân. Các nhà khoa học đã cố gắng rất nhiều và đã cho ra đời nhiều sản
phẩm nhưng so với nhu cầu bức thiết của nông dân thì chưa thấm tháp vào đâu.
Cũng cần phải nói rõ rằng, đối tượng của sản xuất nông nghiệp rất đa dạng, các
vùng miền có điều kiện tự nhiên (địa hình, đất đai…), trình độ, tập quán canh tác
phóng sức người.
2.Về thực trạng sử dụng máy móc:
Việc áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp được coi là
một trong những yếu tố quyết định , đảm bảo sự thành công của sự nghiệp công
nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Thực tế cho thấy , ở nông thôn nước ta hiện nay
nhiều hộ gia đình nông nghiệp đã tiếp thu và vận dụng những thành tựu , tiến bộ của
khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất , đặc biệt là họ đã biết cách sử dụng các
loại giống mới, các cách làm mới trong trồng trọt và chăn nuôi , đem lại hiệu quả
kinh tế cao , do vậy đời sống của người dân cũng phần nào được cải thiện.
Cả nước hiện có khoảng 1.300 cơ sở chuyên sản xuất, kinh doanh các loại máy
kéo, máy nông nghiệp và thiết bị cơ khí phục vụ nông nghiệp; 1.218 cơ sở chuyên
sửa chữa, bảo dưỡng bảo hành máy móc, thiết bị cơ khí, nhưng nhìn chung vẫn
chưa thể đáp ứng được nhu cầu; trong khi đó, lượng máy nhập khẩu thấp.
Cả nước có khoảng 22.000 ô tô loại nhỏ, 20.000 tàu, thuyền gắn máy, có thể
đảm bảo 80% việc vận chuyển ở nông thôn. Số lượng máy kéo các loại có khoảng
300.000 chiếc, tổng công suất 3,5 triệu mã lực. Trong đó đa phần là máy kéo 2 bánh
4
dưới 15 mã lực (75,3%), máy kéo 4 bánh 15-35 mã lực (15,2%), máy kéo trên 35
mã lực chỉ chiếm 9,5%. Tây Nguyên là địa bàn có tỷ lệ sử dụng máy nông nghiệp
cao nhất, chiếm 34,54%, thấp nhất là trung du miền núi phía Bắc (4,47- 6%) và
duyên hải Nam Trung Bộ (4,29 - 4,53%).
Đất đai manh mún, quy mô ruộng đất phân tán, nhỏ lẻ làm cho việc sử dụng
máy móc, thiết bị nông nghiệp khó phát huy tác dụng, chi phí cao trong khi hiệu
quả thu được lại thấp. Nếu xét trên góc độ kĩ thuật thì máy móc gần như luôn đạt
hiệu quả ( nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm). Nhưng để có hiệu quả trên
góc độ kinh tế thì phải xét tới chi phí của nó.Người nông dân chưa mạnh dạn đưa
máy móc vào sản xuất nông nghiệp vì lo ngại sẽ tăng chi phí. Mặt khác giá cả máy
móc, nhiên liệu chưa thực sự khuyến khích nông dân sử dụng máy móc.
Các loại máy móc thiết bị trên thị trường sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt hiện
nay là rất đa dạng. Các nhà khoa học đã cố gắng rất nhiều và đã cho ra đời nhiều
Việt Nam được thể hiện rất rõ qua những sáng chế này”.
-Những nhà khoa học thì làm ở tầm vĩ mô, máy móc rất lớn, mà nông dân cần
những thứ phục vụ ngay cho sản xuất và cuộc sống hàng ngày.
III. Những thành tựu đạt được từ công việc sáng chế của người nông dân:
Trong số 21 nông dân có sản phẩm cải tiến, sáng chế máy móc , thiết bị phục
vụ nông nghiệp được trao Bằng khen tại Triển lãm nông nghiệp (Agroviet) 2009 thì
Hà Nội là địa phương chiếm đông nhất với 5 đại diện (23,8%). Các sản phẩm sáng
chế của người nông dân bao gồm:
1. Máy móc phục vụ sản xuất :
- Anh Phan Văn Lệ, ở xã Hồ Xá, Vĩnh Linh, Quảng Trị, đã sáng chế thành công
chiếc máy tuốt hồ tiêu. Máy tuốt hồ tiêu anh Lệ đang là một thương hiệu rất
được người trồng hồ tiêu vùng Quảng Trị, Quảng Bình tín nhiệm cao. Trước
đây, một người tuốt nhanh mỗi giờ chỉ được 50 kg hồ tiêu, nhưng nay dùng
bằng máy thì gấp 20 lần (1 tấn/giờ) và còn tự động phân chia hồ tiêu hạt to chắc
với hạt nhỏ lép và cọng qua 3 máng riêng biệt.
6
- Anh Võ Văn Nghiêm, huyện Krông Pa (Gia Lai) đã sáng chế thành công máy
xới cỏ với công suất là 2 ha/ngày, còn máy mi-ni bán trên thị trường tối đa chỉ
xới cỏ được 1 ha/. Lúc trước làm cỏ bằng tay phải mất tới 15 lao động/ha/ngày,
còn giờ sử dụng máy xới cỏ của anh Nghiêm chỉ mất có 3 lao động/ha/ngày.
Dùng máy này rất thuận tiện, sạch cỏ tới trên 90%.
-Anh Nguyễn Tất Hải, người sống ở vùng miền núi heo hút Quỳ Hợp (Nghệ
An) đã sáng chế ra chiếc máy bơm nước đạp chân với năng suất cấp nước lý
tưởng 15 m3/giờ. Tuy nhiên, nó cồng kềnh, nặng nề, chỉ phù hợp với địa hình
của ruộng nhà ông. Mong muốn có một cái máy bơm phù hợp với tất cả các loại
địa hình, mọi người đều có thể sử dụng được, dễ vận chuyển, tiện lợi, ông
nghiên cứu tiếp và cho ra đời một chiếc máy hoàn có thể vận chuyển đến bất cứ
địa hình nào, năng suất bằng 8 người tát gầu sòng và gấp đôi máy bơm công
suất 370 kW của Trung Quốc, mà giá thành chỉ có 300.000 đồng/máy.
-Anh Lê Hồng Phương ấp Tân Lập, xã Tân Quy Tây (thị xã Sa Đéc - Đồng
-Anh Lâm Văn Liêm, dân tộc Cao Lan ở thôn Ruồng, xã vùng cao Đèo Gia
(Lục Ngạn - Bắc Giang) đã miệt mài nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc
máy tróc vỏ và thái sắn. Máy hoạt động hiệu quả rất cao, một ngày có thể làm
bằng cả 100 người lao động thủ công.
3.Máy móc phục vụ các sản phẩm mới:
-Anh Bùi Đỗ Hậu đã làm ra chiếc máy tráng bánh cuốn tự động với công suất 1
tạ bánh mỗi giờ. Nếu so với cách làm truyền thống thì máy tráng bánh cuốn cho
năng suất hơn 10 - 20 lần. Không những có năng suất vượt trội, bánh cuốn được
tráng bằng máy còn có chất lượng ngon hơn so với tráng bằng tay bởi khi tráng
bằng máy, nguyên liệu được nhào trộn rất đều và kỹ nên bánh có độ dẻo, dai
hơn, thời gian nhanh hơn nên giữ được độ nóng. Ngay sau đó, nhiều hộ làm
bánh cuốn trong làng đã đặt anh làm những chiếc máy tương tự. Đến nay, hầu
hết các hộ làm bánh ở thôn Thanh Lương đều ứng dụng máy tráng bánh cuốn tự
động của anh Hậu vào sản xuất. Máy cũng đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong
cả nước, và thời gian gần đây còn có một số Việt kiều ở các nước về đặt anh
làm những chiếc máy làm bún, bánh cuốn mang sang nước ngoài để sản xuất.
8
-Hai ông Đặng Văn Nguyên 51 tuổi và Trần Văn Phong 43 tuổi ở thôn 7, xã
Nga Liên, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa đã chế tạo ra chiếc máy dệt chiếu có thể
dệt 12-13 lá chiếu trong 8 tiếng đồng hồ, gấp 6 lần so với dệt thủ công.
- Máy phát điện chạy bằng khí sinh học biogas, khi hết khí biogas có thể thay
thế được bằng xăng nhưng tiết kiệm 30%.
Ngoài ra những người nông dân thuộc các dân tộc khác nhau, từ khắp mọi làng
quê của Tổ quốc đã tạo ra những chiếc máy bơm nước đạp chân DH4 sử dụng cho
những hộ canh tác lúa ở vùng núi, nơi chưa có điên; máy trục bùn; máy đa năng có
thể tra hạt, vun xới, cày bừa; máy gieo đậu tương 8 hàng; máy bạt gốc mía, máy dệt
chiếu; máy làm bánh cuốn liên hoàn; máy tráng bánh đa nem; máy thái rau lợn đa
năng và máy dàn rạch hàng - cày sâu kết hợp bón phân góp phần giải phóng sức
người, nâng cao năng suất lao động, tạo nên những vụ mùa bội thu.
IV. Ý nghĩa của các sản phẩm sáng chế của người nông dân:
V.Mặt khó khăn trong công việc sáng chế:
1.Những khó khăn mà người nông dân gặp phải khi thực hiện công việc
sáng chế:
- Đa số những nhười nông dân xuất phát từ nghề nông, không được đào tạo bài
bản, không có bằng cấp.
- Để có được những sáng chế, cải tiến tối ưu này, những “nhà sáng chế” đã phải
bỏ ra khá nhiều thời gian, tiền của, mồ hôi và nước mắt.
- Thông tin về sản phẩm khó đến với người tiêu dùng, khó thuyết phục họ mua
và sử dụng sản phẩm.
-Sự tiếp cận thông tin của người dân về những chủ trương, thậm chí cụ thể hơn
là danh sách các đề tài, dự án chế tạo máy, hoặc danh sách các máy mới, công cụ
mới rất hạn chế.
-Thiếu mặt bằng, thiếu vốn, đội ngũ thợ không chuyên nghiệp, không am hiểu
kỹ thuật… Các “nhà sáng chế chân đất” gặp khó ở cả đầu vào lẫn đầu ra.
10
- Hiện nay sự hỗ trợ về khoa học – kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ đối với doanh
nghiệp nông thôn rất khó, hầu như là không. Còn các cấp xã, huyện, tỉnh thì rất
quan tâm nhưng là quan tâm về chính sách, còn những khó khăn thực, ví dụ như
nghiên cứu, rồi vốn thì rất khó khăn. Mình phải tự lo là chủ yếu”.
- Tất cả máy móc này chưa đưa vào đại trà, chưa thành sản phẩm công nghiệp
vì còn thiếu những kiến thức về khoa học. Cho nên những cái máy đó chỉ ứng dụng
được ở trình độ thủ công, chưa thể phổ biến được. Muốn vượt qua cái đó thì phải có
cơ quan nghiên cứu, đầu tư.
- Một số ý tưởng của nông dân đã được các nhà khoa học chỉnh sửa cho chuẩn
mực về kỹ thuật, hoạt động rất hiệu quả. Tuy nhiên, máy móc, giải pháp khoa học
của các nhà khoa học đến với nông dân chủ yếu thông qua kênh khuyến nông,
khuyến công, nhưng sự đặt hàng của nông dân, bao gồm cả nhu cầu được giúp đỡ
về mặt kỹ thuật khi chế tạo máy móc nông nghiệp đối với các nhà khoa học lại chưa
đi theo con đường này một cách chính thức. Sự hợp tác giữa các nhà khoa học với
nông dân có ý tưởng chế tạo máy, giải pháp khoa học, cách làm hay mới chỉ mang
nông dân muốn sở hữu chiếc máy xới đất của anh Cường cũng phải bỏ ra hơn 6
triệu đồng trong khi giá thành máy xới của Trung Quốc (tính năng tương tự nhưng
không bằng với máy xới của anh Cường) thì chỉ có giá khoảng 4 triệu đồng, mẫu
mã lại bắt mắt, được bảo hành trong thời gian dài).
-Một điều bất lợi cho người nông dân có sản phẩm khoa học phục vụ nông
nghiệp đó là việc được bảo hộ bản quyền sở hữu trí tuệ. Khi làm ra máy móc nào
đó, họ không hề suy nghĩ đến “bản quyền sở hữu trí tuệ” là gì, chỉ nghĩ làm sao để
sản phẩm phục vụ tốt nhất cho nghề nghiệp của mình mà thôi. Nhưng khi một chiếc
máy, một sản phẩm đưa ra thị trường thì sẽ có nhiều người lợi dụng sơ hở đó để
“nhái” lại, giống y chang với sản phẩm của người nông dân và đi đăng kí bản
quyền. Vì vậy người nông dân sẽ dễ mất đi công sức, tâm huyết mình đã bỏ ra bao
nhiêu lâu mày mò sáng chế. Nhưng cũng từ nỗi lo này sẽ hướng người nông dân
đến một phong cách chuyên nghiệp hơn như phải thường xuyên cải tiến công nghệ,
cải tiến thiết bị, máy móc, luôn luôn tìm tòi thay thế phụ tùng để giảm giá thành mà
chất lượng lại được nâng cao.
12
-Một khó khăn không nhỏ nữa để đưa những máy móc do “kỹ sư chân đất” sáng
chế đến với nông dân là ở chỗ kênh quảng bá, mua bán, phân phối sản phẩm đến
với người nông dân còn chưa được quan tâm. Đa phần là do người dân tự tìm đến
nơi sản xuất để mua chứ ít có ai quan tâm đến việc mở rộng thị trường.
- công tác kiểm định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của ta còn rất lỏng lẻo.
VI. Biện pháp khắc phục:
1.Ở tầm vĩ mô: các biện pháp từ phía nhà nước, các cấp, ngành, chính
quyền…:
- Các tổ chức, cá nhân được vay vốn tín dụng ưu đãi với lãi suất 0% theo đề án
được các cấp có thẩm quyền phê duyệt để nghiên cứu, chế tạo máy móc, thiết bị
phục vụ giảm tổn thất sau thu hoạch. Khuyến khích nông dân cải tiến máy móc,
thiết bị phục vụ sản xuất. Những vấn đề trên nếu được giải quyết một cách thỏa
đáng và nhanh chóng, sẽ hứa hẹn cho Việt Nam một nền nông nghiệp phát triển và
bền vững.
tối đa không quá 10 triệu đồng/hộ, số còn lại, nông dân phải tự bỏ vốn đầu tư. Mức
lãi suất tiền vay là 2%/năm, trả trong thời hạn 3 năm và được UBND tỉnh hỗ trợ.
-Trong điều kiện hiện nay, một mặt các nhà khoa học phải nỗ lực hơn nữa, mặt
khác, chúng tôi đã xác định ưu tiên cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ của Bộ
có sự tham gia ngay từ đầu trong quá trình nghiên cứu của nông dân, hộ gia đình,
trang trại, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng nông sản… Họ sẽ là
những người “ra đề” thích hợp nhất, để sau này đầu ra của sản phẩm có địa chỉ rõ
ràng. Nói cách khác máy móc, thiết bị đã được đặt hàng bởi chính bà con nông dân,
những người đang gặp phải những bức xúc trong quá trình làm nghề nông.
-Theo các chuyên gia chế tạo máy, để đảm bảo an toàn cho người sử dụng,
nhà nước nên có chương trình giúp những "nhà nông làm khoa học" được tập huấn,
trao đổi kinh nghiệm, phổ biến kiến thức khoa học để bù đắp vào những chỗ còn
trống về kiến thức cho người sáng chế và người sử dụng. Đồng thời, cần siết chặt
hơn quy trình kiểm định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, nếu các thiết bị máy móc
14
không đảm bảo an toàn, không có cảnh báo nguy cơ rủi ro… thì tuyệt đối không cấp
phép lưu hành để đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
-Cần “siết” kiểm định máy nông nghiệp.
2.Ở tầm vi mô: từ phía bản thân người dân:
-Cần không ngừng sáng chế ra các sản phẩm thực sự có chất lượng. Đảm bảo an
toàn cho người sử dụng.
-Bản thân người nông dân phải tự học hỏi, nghiên cứu, đi học thêm các lớp đào
tạo…
VII. Kết luận:
Vượt qua những khó khăn về tài chính, hiểu biết khoa học chính thống nhưng
bằng đôi bàn tay tài hoa và bộ óc sáng tạo của mình những người nông dân đã rất
thành công trong việc sáng chế, tạo ra các sản phẩm máy móc góp phần phục vụ
thiết thực cho công việc sản xuất và cuộc sống sinh hoạt của người nông dân.Tuy
gặp rất nhiều khó khăn nhưng trong suy nghĩ của những người nông dân họ sẽ
không bao giờ ngừng sáng tạo, cải tiến cũng như quay lưng với máy móc thiệt