Tiểu luận: Một số thành lũy tiêu biểu ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam potx - Pdf 19

Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”

Tiểu luận
Một số thành lũy
tiêu biểu ở Việt Nam
trong tiến trình lịch
sử Việt Nam
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 1
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia ra đời và tồn tại với lịch sử mấy nghìn
năm. Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của mình, cộng đồng cư dân
sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đã phát minh ra nhiều giá trị vật chất và
tinh thần mà giá trị của nói vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Với một quốc gia luôn phải chống chịu hàng trăm cuộc xâm chiếm
của các thế lực bên ngoài thì một yêu cầu đặt ra để bảo đảm sự tồn tại của
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 2
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
đất nước đó là phải có biện pháp hữu hiệu để chống lại các thế lực ngoại
bang. Một trong những công trình nhằm chống lại sự xâm lấn của ngoại
bang là Thành – một công trình có nhiều ý nghĩa cho sự tồn tại của một
quốc gia, dân tộc.

Thành lũy ra đời ở nước ta tương đối sớm từ thời các vua Hùng, các
công trình phòng thủ mang tính chất công sự chiến đấu đã được hình thành
dưới những hình thức sơ khai nhất. Trong giai đoạn đầu của xã hội Việt
Nam do sự thiếu ổn định về mặt kinh tế, chính trị nên trong xã hội luôn có
các cuộc đấu tranh giữ các bộ lạc với nhau, sự tranh chấp địa bàn cư trú này
dần dần trở thành những xung đột quân sự lớn. Các bộ lạc nhỏ yếu thông
thường phải dựa vào những công sự sơ khai được dựng lên như những
chướng ngại vật để chặn bước tiến của thù để bảo vệ sự tồn tại của bộ lạc
và cộng đồng của mình. Sự đe dọa lớn hơn bắt đầu đến từ bên ngoài với sự
xâm lược của các đạo quân phương Bắc. Dần dần chính những tác dụng có
lợi của các dạng công sự sơ khai này khiến người ta lưu tâm hơn và bắt đầu
cho xây dựng những công trình kiên cố hơn, để phục vụ công tác quốc
phòng của bộ lạc và đất nước. Các công trình thành lũy dần được ra đời
trên cơ sở hoàn thiện kinh nghiệm từ nhiều thế hệ và có sự giao lưu với các
quốc gia lân bang.
Ngoài những thành sơ khai được xây dựng đơn giản đến nay khảo cổ
học đã phát hiện trong giai đoạn này nhiều thành còn dấu vết đến ngày nay:
Thành cổ Mê Linh - nơi Hai Bà Trưng đóng đô, Thành Cổ Loa Đông Anh
– Hà Nôi, Thành cổ Phong Châu, theo An Nam chí chép : Ở phía tây bắc
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 4
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
phủ Giao Chỉ, tức đất Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ đời Hán. Luỹ cổ của
Trưng Vương: ở xã Cư An. Nay là thôn Cư An xã Tam Đồng huyện Mê
Linh. Thành Luy Lâu, thành Hoa Lư – Ninh Bình…đó là những thành lũy
đầu tiên mang nặng kiến trúc và tư duy quân sự của người Việt.
1.3. Vài nét về tiêu chí chọn địa điểm xây dựng thành lũy Việt Nam
Do đặc điểm dân cư nước ta giai đoạn đâu thưa thớt và phải thường
xuyên chống đỡ những cuộc “Chinh man” của chủ nghĩa bành trướng

công sự thành lũy phải ở khu vực gần dân, phải có dân. Từ xưa, cha ông ta
đã biết mối quan hệ khăng khít quân với dân như cá với nước nên xây dựng
quân sự không thể nơi không có dân cư. Dân là tai, mắt là nguồn nuôi sống
quân đội và là cội nguồn sức mạnh Việt Nam. Xây dựng thành phải ở nơi
có sự bổ sung thường xuyên về lương thực và quân số. Tức là sự kết hợp
lôgic hai yếu tố quân đội và hậu cần tại chổ. Tạo nên sự vững mạnh cho
quân đội từ bên trong. Yếu tô sống còn cho sức mạnh quân sự của bất kỳ
đạo quân nào. Huống hồ, nghệ thuật quân sự của cha ông ta là chiên tranh
nhân dân của toàn dân đánh giặc.
Nếu chỉ nhìn vấn đề từ hai yếu tố trên thì chưa đủ, để chọn khảnh đất
này làm nơi xây thành đắp lũy mảnh đất kia cất đặt bố phòng. Nó còn phải
đảm bảo tiêu chí “tính thiêng” của thắng địa, là nơi có nguyên liệu dồi dào,
giao thông thuận lợi.
Để đạt tới sức mạnh tối đa con người ta thường hay gữi gắm niềm tin
của mình vào một thế lực siêu nhiên nào đó. Trong quân sự điều này cũng
không ngoại lệ. Thành Cổ Loa người ta thêu dệt nên “tính thiêng” này bằng
việc giúp sức của thần Kim Quy và chiếc móng Rùa Thần, các thành lũy
khác cũng có thế lực thần linh bảo trợ để nó trở thành thành lũy kiên cố bất
khả xâm phạm.
Các yếu tố nguyên liệu dồi dào để thuận lợi cho xây dựng và giữ
thành. Giao thông thuận lợi là để tác chiến thuật tiện đặc biệt với quân đội
ta tư thế thủy quân và bộ binh thì yếu tố này càng trở nên quan trọng. Vận
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 6
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
chuyển dễ dàng chi viện thuận lợi khi có chiến tranh và thuận lợi thông
thương khi ở thời bình cũng là tiêu chí lựa chọn mỗi khi quyết định địa thế
xây dựng thành lũy.
Tóm lại, tiêu chí chọn đất xây dựng thành lũy Việt Nam có thể gói

đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu
một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển
trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng
đồng bằng.
2.1.2. Vật liệu và kỷ thuật xây dựng
Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch
nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong
1,6 km Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương
pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó.
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 8
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong
đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8-12 m. Chân lũy rộng
20-30 m, mặt lũy rộng 6-12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu
mét khối. Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựng
thành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Khi xẻ
dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố
thành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có
đường kính 15 cm, hòn lớn 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới
thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho
việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh
2.1.3. Cấu trúc thành Cổ Loa
Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ
nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong
lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các
địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho
cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường

Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt
thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có
một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.
Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng,
dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm
cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn
thông với sông Hoàng.
Thành ngoài cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000 m,
cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m).
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình
từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn. Các vòng hào đều thông với nhau
và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 10
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự
vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở về
phía Tây Nam và Nam. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ
gò Cột Cờ đến Đầm Cả. Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm
Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình
dáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông
vào vòng hào của thành Nội.
Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả
hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi. Theo truyền thuyết, An
Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng
2.1.4. Chức năng.
Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm
phong phú thêm tổng thể kiến trúc này. Đó là những gò đất dài hoặc tròn

Sử chép rằng: "Mậu Thìn năm thứ 1 (Tống, Khai Bảo năm thứ nhất),
Vua (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về
động Hoa Lư, xây dựng đô mới, đắp thành đào hào, làm cung điện, đặt
triều nghi". Đây là chép về vua Đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp xong các sứ
quân, thống nhất đất nước, lên ngôi vua và xây dựng kinh đô.
Sử lại chép "Giáp thân năm thứ 5 (984) Dựng nhiều cung điện, làm
điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, có cột điện dát vàng bạc, làm nơi
coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Từ Hoa, bên tả là
điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng
điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng
điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc". Đây là chép về vua Lê Đại Hành, sau
khi lên ngôi đã tiếp tục xây dựng kinh đô Hoa Lư thành một thủ đô tráng lệ.
Sử chép tiếp: "Canh tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 (1010) Mùa thu
tháng 7, Vua dời kinh đô từ thành Hoa Lư sang kinh đô lớn là Đại La của
kinh phủ. Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự,
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 12
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
vì thế đổi là thành Thăng Long. Đồi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức,
thành Hoa Lư làm phủ Trường Yên ".
Theo sử sách thì Hoa Lư đã đóng vai trò thủ đô 42 năm. Trong 42
năm đó, trải ba triều: Đinh - Lê - Lý, Hoa Lư đã được tu bổ xây dựng khá
nhiều. Ít nhất nơi đây đã là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế và quân sự
của hai triều Đinh và Tiền Lê.
2.2.1. Vị trí địa lý
Thành Hoa Lư thuộc đất xã Trường Yên, huyện Gia Khánh, tỉnh
Ninh Bình cũ (hay là Hà Nam Ninh); cách Hà Nội khoảng 10 km về phía
tây bắc.
Hệ thống núi đá vôi của huyện Gia Khánh phát triển thành những dải

tại vững vàng đến ngày nay.
Mặt trên thân tường thành là một lõi gạch xây cao như bức tường, lõi
gạch dày 0,45 m, cao 1,75m. Dưới chân tường thành gạch có kê bằng đá
tảng và những cọc gỗ lớn. Đây là hoạt động xây đắp gia cố thêm cho những
đoạn thành nhân tạo kém hiểm trở so với những dãy núi đá thiên nhiên.
Đất đắp thành là loại đất sét thuần nhất, khá mịn, có màu xám, có
vân nâu hoặc vàng được đầm khá chắc. Gạch xây tường thành là viên gạch
chữ nhật, có kích thước 30*16*4 cm. Trên gạch được in chữ “Đại Việt
quốc quân thành chuyên” và “Giang Tây chuyên”.
2.2.3. Kiến Trúc
Kinh đô Hoa Lư được bao bọc bởi nhiều ngọn núi, các triều vua đã
dựa theo địa hình tự nhiên cho đắp 10 đoạn tường thành nối các núi đá,
dựng nên thành Hoa Lư thuộc xã Trường Yên với diện tích hơn 300 ha.
Phía Nam thành Hoa Lư là thành Tràng An (còn được gọi là thành Nam) là
khu vực phòng thủ hậu cứ của kinh đô. Thành Hoa Lư có rất nhiều cổng bộ
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 14
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
để đi vào, bên cạnh đó còn có cổng thủy do sông Sào Khê chảy xuyên qua
thành. Thành Hoa Lư có hai vòng sát nhau: thành ngoài và thành trong.
Thành ngoài rộng khoảng 140 ha, nằm ở phía đông thành trong, có 5
đoạn tường thành nối các dãy núi tạo nên vòng thành khép kín.
Đoạn 1 nối núi Đầm với núi Thanh Lâu, được gọi là "tường
Đông", dài 320m;
Đoạn 2 từ núi Thanh Lâu đến núi Cột Cờ, dài 230m;
Đoạn 3 từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ, dài 300m;
Đoạn 4 từ núi Chẽ đến núi Chợ, dài 300m;
Đoạn 5 từ núi Mã Yên sang một núi hang Quàn, dài 200m.
Khu thành Ngoài là nơi làm việc hàng ngày của triều đình Hoa Lư. Ðây là

lũy kiểu Hán ngang bằng sổ ngay, phương hướng tề chỉnh, quy cách xây
dựng trở thành công thức, đã mọc lên không ít ở nhiều nơi. Nhưng thành
Hoa Lư độc đáo được xây dựng lại không theo một khuôn mẫu Trung Quốc
của bất cứ thời nào. Là một căn cứ quân sự, Hoa Lư đã đạt tới đỉnh cao về
mức độ kiên cố, hiểm trở của một công trình phòng thủ. Có thể coi Hoa Lư
là một công trình kiến trúc quân sự hiếm có trong lịch sử Việt Nam và cả
trong lịch sử các nước khác đương thời. Hoa Lư là một tòa nhà điển hình
cho phương pháp xây dựng lợi dụng địa thế tự nhiên. Cũng bởi lẽ đó mà
thành Hoa Lư có dáng hình độc đáo, có đầy đủ tính chất kiên cố, hiểm trở
của một công trình quân sự, lại thêm tính kỳ vĩ, hữu tình của một thắng
cảnh.
2.2.4. Chức năng
Vua Đinh Tiên Hoàng đã biết khai thác triệt để thiên nhiện phục vụ
con người. Có thể nói, kinh đô Hoa Lư là một quân thành vững chắc do
thiên nhiên và con người làm nên. Phia bắc thành nằm bên sông Hoàng
Long rất thuận tiện cho giao thong đường thủy. Núi cao bao quanh tạo nên
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 16
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
bức tường thành kiên cố. Từ Hoa Lư còn có nhiều con đường len lõi trong
vùng, qua những vách núi cheo leo để đi sâu vào vào vùng núi hoặc phía
nam. Thành Hoa Lư có dáng hình độc đáo, có đầy đủ tính chất kiên cố,
hiểm trở của một công trình quân sự.
Một tổng thể kinh thành gồm hai tòa thành riêng biệt, rất thuận lợi
cho việc bố trí từng khu triều đình, quan lại hay quân sĩ. Việc qua lại giữa
hai thành không vì vậy mà trở ngại, thiên nhiên đã khéo bố trí cho một con
đường kín đáo mà thuận tiện đó là Quèn Vông, quãng tiếp giáp giữa núi
Hang Sung và núi Quèn Dót.
Hoa Lư ở thế đất hiểm, khiến kẻ thù khó tấn công và không thể bao

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh
thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An
Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới
thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình
kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử
và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt
Nam.
2.3.1. Vị trí địa lý
Thành Thăng Long nằm ở đồng băng Bắc Bộ nước ta có địa thế
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, là nơi cư trú của nhân dân: “cư dân
khỏi chịu khổ ngập lụt”, là nơi thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp,
thương nghiệp. Nơi này đúng là kinh đô bậc nhất của nước ta. Trong Chiếu
dời đô viết “thật là chón hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước cũng là
kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”
Trong Chiếu dời đô năm 1010 vua Lý Thái Tổ cũng viết: “…Đại La
thành trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chánh
nam bắc, đông, tây chi vị, tiện giang sơn hướng bội chi nghi” (thành Đại
La ở vào chổ trung tâm trời đất, có thế rồng chầu hổ phục, đúng vị trí giữa
bốn phương nam bắc đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước) nên đã
quyết ddingj làm chốn “kinh sư cho muôn đời”. Như vậy kinh đô Thăng
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 18
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
Long là nơi có thể phát triển về kinh tế, lại là thành có địa thế thuận lợi cho
phát triển quân sự cả quân bộ và thủy quân. Ngày nay là thủ đô Hà Nội có
một vị thế rất lớn về văn hóa, xã hội. Là trung tâm chính trị của cả nước.
Hà nội quá khứ vàng son nghìn thủa và vị thế hiện tại thủ đô nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tọa đọ vị trí thuận lợi về nhiều mặt,
nằm trên trục đồng bằn hình tam giác do sông Hồng và các phụ lưu của nó

Bắc.
Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây
Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng mở gần Cửa nam hiện nay. Cửa Dục
Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng (Hà Nội)
ngày nay.
Năm 1029, Lý Thái Tông xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau
khi nơi đâu bị tàn phá bởi vụ Loạn tam vương. Trên nền cũ điện Càn
Nguyên, Lý Thái Tông cho dựng điện Thiên An là sân Rồng có đặt một
quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân rồng có đặt gác chuông. Phía Đông, tây
sân Rồng là điện Văn minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân rồng là điện
Phụng Tiên, trên điện có lầu chính Dương là nơi báo canh báo khắc. Sau
điện Thiên An là điện Thiên Kháng hình bát giác. Sau điện Thiên Khánh là
điện Trường Xuân. Trên điện trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên
Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng
hoàng.
Năm 1203, vua Lý Cao Tông bắt đầu một đợt xây dựng mới. Cung
điện mới được xây dựng ở phía tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương
Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi, ở trên xây điện Kính Thiên, thềm
gọi là Lệ giao. Ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành,
thềm gọi là Ngân Hồng. Đẵng sau xây điện thắng Thọ. Bên trái xây gác
Nhật kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang thềm
gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch, phía tây xây
gác Dục Đường (nhà tắm). Phia sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 20
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
Tiêu. Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư, trên ao xây đình
Ngoạn Y. Ba mặt đình trồng hoa thơm cỏ lạ nước thông với sông.
Ngoài ra, các cung điện khác cũng được xây dựng liên tục, không

Triều ở phía tây.”
Trong những biến loạn cuối thời Lý, Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề.
2.3.3. Ý Nghĩa của thành Thăng Long
Trong suốt một ngàn năm lịch sử Thang Long là trung tâm quân sự, kinh
tế, văn hóa, chính trị lớn nhất nước ta với sự phát triển cực thịnh chủ yếu
dưới thời Lý.
Thăng Long là một di sản văn hóa vô giá mà bao nhiêu thế hệ tổ tiên đã
sáng tạo nên và lòng đất này đã gìn giữ chúng được cho đến hôn nay, vì thế
chúng ta phải gánh vác trách nhiệm tiếp tục bảo tồn, phát huy rồi chuyển
giao lại cho thế hệ mai sau với nhiệm vụ cao cả là gìn giữu, bảo tồn một di
sản văn hóa vô giá của dân tộc Việt Nam.
2.3.4. Tiểu kết
Sau các cuộc khai quật đã thu được một khối lượng tư liệu đồ sộ về hoàng
thành Thăng Long. Các tư liệu khảo cổ đã góp phần một lần nữa phản ánh
trung thực đời sống xã hội, kinh tế và văn hóa của mọi tầng lớp cư dân kinh
thành trong suốt một ngìn năm lịch sử của dân tộc.
Hoàng thành Thăng Long là trung tâm quyền lực – chính trị của quốc gia
tồn tại suốt thời lý nói riêng và tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam nói
chung.
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu ba thành tiêu biểu trong hệ thống thành lũy
Việt Nam có thể khẳng định rằng các thành lũy này nói riêng và tất cả
SVTH: Phan Minh Quốc – MSSV: 0711676 – Lớp LSK31
Trang 22
Bài Tiểu Luận Khảo Cổ Học Lịch Sử Việt Nam
Đề tài: Một số thành cổ ở Việt Nam (do khảo cổ học phát hiện)”
các thành lũy tồn tại trên lành thổ Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử
có một vai trò vô cùng to lớn cho sự hình thành, phát triển và tồn vong
của dân tộc. Thành lũy là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của đất
nước, là chứng nhân của biết bao biến cố lịch sử của dân tộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status