Tiểu luận : Phân tích hợp đồng giao nhận thầu xây lắp công trình giữa Công ty xây dựng công nghiệp và Công ty may Thái Bình - Pdf 20

Tiểu luận

Phân tích hợp đồng giao nhận
thầu xây lắp công trình giữa
Công ty xây dựng công nghiệp
và Công ty may Thái Bình

Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
PHẦN MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, được điều chỉnh bởi Luật kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp được thành
lập ngày một nhiều hơn, góp phần tăng thêm của cải cho xã hội và giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động. Với tư cách là một đơn vị sản xuất hàng
hoá độc lập - mỗi doanh nghiệp, người kinh doanh và tổ chức kinh doanh có
quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh của mình, nhưng dù muốn hay không cũng phải thiết lập quan hệ
kinh tế với các tổ chức kinh doanh khác. Các quan hệ đó dựa trên cơ sở sự
thoả thuận giữa các bên mà hình thức pháp lý của chúng là các hợp đồng. Có
thể nói rằng nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ
hợp đồng. Trong đó hợp đồng kinh tế là công cụ không thể thiếu được của các
nhà kinh doanh để họ thực hiện việc trao đổi sản phẩm hàng hoá - dịch vụ của
mình. Phân tích những vụ kinh doanh thất bại trên thương trường, không mấy
khó khăn để nhận thấy rằng không ít những nguyên nhân dẫn đến thất bại và
phá sản của doanh nghiệp lại bắt đầu từ khâu đàm phán, soạn thảo và ký kết
các bản hợp đồng kinh tế.
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của việc soạn thảo và ký kết

đình chỉ HĐKT, trách nhiệm do vị phạm HĐKT.
Theo chủ nghĩa chủ quan: Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản hoặc tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết hợp đồng về việc thực hiện
công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy
định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. (Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế ngày 25/9/1989)
II. NỘI DUNG HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Nội dung Hợp đồng kinh tế là toàn bộ những điều khoản mà các bên đã
thoả thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên với nhau. Về
phương diện khoa học pháp lý, căn cứ vào tính chất, vai trò của điều khoản,
nội dung HĐKT được chia thành 3 loại điều khoản:
- Điều khoản chủ yếu: là những điều khoản cơ bản, quan trọng nhất của
Hợp đồng, nếu thiếu những điều khoản này thì coi như hợp đồng kinh tế chưa
được ký kết.
Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
- Điều khoản thường lệ: là những điều khoản đã được pháp luật ghi
nhận, nếu các bên không ghi vào bản hợp đồng thì coi như các bên đã mặc
nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện các quy định đó.
- Điều khoản tuỳ nghi: là các điều khoản do các bên tự thoả thuận với
nhau khi chưa có quy định của Nhà nước, do các bên linh hoạt đưa vào mà
không trái pháp luật.
Theo điều 12 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, nội dung của Hợp đồng kinh
tế bao gồm những điều khoản cụ thể sau:
a. Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản
và ngân hàng giao dịch của hai bên; họ và tên người đại diện, người đứng tên
đăng ký kinh doanh.
b. Số lượng, khối lượng sản phẩm hay kết quả công việc phải đạt được.
c. Chất lượng, chủng loại, quy cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng

kéo dài thêm thời hạn.
- Hợp đồng bị đình chỉ hoặc do hai bên đồng dỡ bỏ.

CHƯƠNG II. CƠ CẤU CỦA VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ

I. KHÁI NIỆM VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Văn bản hợp đồng kinh tế là một loại tài liệu đặc biệt do các chủ thể của
Hợp đồng kinh tế tự xây dựng trên cơ sở những quy định của pháp luật Nhà
nước về Hợp đồng kinh tế. Văn bản này có giá trị pháp lý, bắt buộc các bên
phải có trách nhiệm thực hiện các điều khoản mà các bên đã thoả thuận và ký
kết trong Hợp đồng kinh tế. Nhà nước thực hiện sự kiểm soát và bảo hộ quyền
lợi cho các bên khi cần thiết dựa trên cơ sở nội dung văn bản Hợp đồng kinh
tế đã ký kết.
II. CÁC LOẠI VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ TRONG THỰC TẾ SẢN XUẤT
KINH DOANH
- Văn bản hợp đồng mua bán hàng hoá
- Văn bản hợp đồng vận chuyển hàng hoá
Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
- Văn bản hợp đồng kinh tế dịch vụ
- Văn bản hợp đồng giao nhận thầu trong xây dựng cơ bản
- Văn bản hợp đồng gia công đặt hàng
- Văn bản hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
- Văn bản hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu
- Văn bản hợp đồng chuyển giao công nghệ
- Văn bản hợp đồng kinh tế trong liên kết kinh tế
- Văn bản hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật. CHƯƠNG III. PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHỦ YẾU CỦA

- Fax: 04.8318606
- Tài khoản số: 7620-3110E
- Mở tại: CN ngân hàng đầu tư và phát triển khu vực Cầu giấy - Hà Nội
- Đại diện là ông Chức vụ: Giám đốc
- Nhà thầu xây dựng (bên B): Công ty xây dựng công nghiệp
- Địa chỉ: Láng Hạ - Hà Nội
- Điện thoại: 04.8318607
- Fax: 04.8318606
- Tài khoản số: 7620 - 3110E
- Mở tại:
- Đại diện là ông: Chức vụ: giám đốc
Điều khoản 2: Khối lượng và tiến độ công trình
1. Tên công trình: Gói thầu số 2 (Nhà sản xuất chính) - Dự án khu sản
xuất hàng gia công Tiền Hải - Thái Bình.
2. Nội dung công việc: Bên B nhận cung cấp, lắp dựng khung thép, mái
tôn các xưởng may gia công thuộc dự án.
3. Địa điểm xây dựng, thời gian thực hiện hợp đồng và tiến độ thi công:
- Địa điểm xây dựng: Thái Bình
- Thời gian thực hiện hợp đồng: 30 ngày kể từ ngày khởi công.
Điều khoản 3: Giá trị hợp đồng
Giá trị hợp đồng lấy theo giá trúng thầu đã được giám đốc Công ty may
Thái Bình phê duyệt là: 8517865000 đồng
Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
Giá trị trên đã bao gồm tất cả các chi phí cần thiết để thi công xây dựng
công trình theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt và thuế VAT đầu ra 5%
Những khối lượng phát sinh ngoài hồ sơ thiết kế theo yêu cầu của bên
A, sẽ được bổ sung vào giá trị quyết toán công trình theo đơn giá XDCB Thái
Bình và các chi phí khác theo quy định hiện hành. Nếu trên 10% phải có thiết
kế, dự toán đã thẩm định bổ sung. Với những hạng mục không có trong đơn

2. Trách nhiệm bên B:
- Nhận bàn giao và quản lý thống nhất mặt bằng xây dựng công trình.
- Nộp cho bên A giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng với giá trị 5% giá trị
hợp đồng.
- Trong quá trình thi công bên B có trách nhiệm phối hợp với giam sát
bên A và các nhà thầu khác có liên quan (nếu có) để thực hiện công việc. Mọi
khối lượng phát sinh xảy ra do lỗi không phối hợp của bên B, bên A không
chịu trách nhiệm.
- Bảo đảm an ninh trật tự và an toàn lao động trên công trình.
- Tiếp nhận bảo quản các hồ sơ tài liệu kỹ thuật được bên A giao.
Điều khoản 6: Nghiệm thu và bàn giao công trình
1. Bên A có trách nhiệm thành lập và chủ trì hội đồng nghiệm thu theo
quy định của Nhà nước (có lập biên bản ghi rõ thành phần).
2. Hội đồng nghiệm thu sẽ tiến hành nghiệm thu từng khâu công việc
chủ yếu, từng hạng mục công trình và cuối cùng là toàn bộ công trình.
3. Bên B có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để nghiệm thu.
4. Sau khi thực hiện xong nghiệm thu, hai bên lập biên bản nghiệm thu,
bàn giao để đưa công trình vào sử dụng. Bên B có trách nhiệm bàn giao từng
hạng mục công trình và toàn bộ công trình, cùng với 7 bộ hồ sơ hoàn công
cho bên A để làm tài liệu lưu trữ theo đúng quy định của Nhà nước.
Điều khoản 7: Phương thức và điều kiện thanh quyết toán
1. Thanh toán: Bên A sẽ thanh toán cho bên B theo các giai đoạn như
sau:
Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
- Lần 1: Sau khi khối lượng công việc đã thực hiện được hai bên xác
nhận bằng 70% giá trị hợp đồng, bên A sẽ ứng cho bên B là 60% giá trị khối
lượng công việc đã thực hiện.
- Lần 2: Sau khi công trình hoàn thành, chậm nhất là 30 ngày hai bên
hoàn chỉnh hồ sơ quyết toán theo quy định hiện hành và bên A thanh toán hết

Ở đây có thể nói thêm rằng, đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc
người đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thay
mình ký Hợp đồng kinh tế (thường là cấp phó của mình). Người được uỷ
quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba. Điều này càng có ý
nghĩa quan trọng với loại hợp đồng giao nhận thầu xây dựng cơ bản, bởi loại
hợp đồng này thường liên quan tới khối lượng tài sản rất lớn, thủ trưởng uỷ
quyền cho người khác ký thay nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm như bản thân
mình trực tiếp ký.
Hợp đồng kinh tế được ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch, công văn
điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng và được coi là hình thành và có hiệu
lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản, hoặc từ khi các bên nhận
được tài liệu giao dịch thực hiện sự thoả thuận về tất cả các điều khoản chủ
yếu của hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với Hợp
đồng kinh tế.
Căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước ký ban
hành ngày 25/9/1989 và căn cứ vào Quy chế về Hợp đồng kinh tế trong xây
dựng cơ bản ban hành theo quyết định số 29 ngày 1/6/1992 của Liên bộ: Bộ
xây dựng - trọng tài kinh tế Nhà nước, có thể thấy rằng, về cơ bản Hợp đồng
giao nhận thầu xây dựng cơ bản giữa Công ty xây dựng công nghiệp và Công
ty may Thái Bình đã đảm bảo các yêu cầu về soạn thảo, ký kết Hợp đồng kinh
tế nói chung và hợp đồng xây dựng cơ bản nói riêng với các điều khoản chủ
yếu được quy định khá đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Điều này thể hiện sự đầu
tư, nghiên cứu kỹ lưỡng Pháp lệnh về Hợp đồng kinh tế và các tài liệu khác
có liên quan, thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng Pháp luật của hai bên, tất nhiên
cũng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình.
Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
Tuy nhiên, hợp đồng này lại không đề cập tới quy định về thưởng phạt.
Đây là một thiếu sót không nhỏ vì điều khoản này cũng là một điều khoản
quan trọng cần được hai bên thống nhất thông qua trướcư khi thực hiện ký kết

Tiểu luận Luật Kinh tế
SV: Phan Bùi Minh - MSV: 02D 3100
PHẦN KẾT LUẬN

Vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay đã
khác nhiều với vai trò của nó trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp
trước đây. Trong cơ chế cũ, Hợp đồng kinh tế có những vai trò và chức năng
cực kỳ "vĩ đại", được coi là công cụ cơ bản để quản lý nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, Hợp đồng kinh tế không đơn thuần chỉ là
công cụ pháp lý của Nhà nước, không còn là biện pháp để xây dựng và thực
hiện kế hoạch của Nhà nước mà là sự thoả thuận của các chủ thể kinh doanh
theo nguyên tắc tự do, tự nguyện. Nhà nước chỉ có thể sử dụng pháp luật để
tác động vào các quan hệ Hợp đồng kinh tế, đảm bảo lợi ích chính đáng của
các bên tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích chung của toàn xã hội. Dẫu
vậy, không thể phủ nhận rằng Hợp đồng kinh tế chỉ có thể thực hiện được "sứ
mệnh" của nó với sự hỗ trợ tích cực của cơ quan Nhà nước. "Sự hỗ trợ tích
cực" ở đây có thể hiểu là một hệ thống các quy định tạo thành pháp lệnh về
Hợp đồng kinh tế, làm cơ sở để cơ quan trọng tài phán xét xử khi có tranh
chấp, cũng có thể là các trọng tài kinh tế Nhà nước thông qua hoạt động thanh
tra, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hợp đồng để buộc các đơn vị kinh tế
thực hiện đúng những gì đã cam kết. Như vậy, nhận thức không đúng về Hợp
đồng kinh tế sẽ làm giảm đi vai trò to lớn của nó, phải hiểu rõ bản chất của
Hợp đồng kinh tế mới có thể xây dựng được những quy định đáp ứng được
những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường.


PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
Chương I. Khái niệm và nội dung của Hợp đồng kinh tế 3
I. Khái niệm Hợp đồng kinh tế 3
II. Nội dung Hợp đồng kinh tế 3
III. Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế 4
Chương II. Cơ cấu của văn bản hợp đồng kinh tế 5
I. Khái niệm văn bản hợp đồng kinh tế 5
II. Các loại văn bản hợp đồng kinh tế trong thực tế sản xuất kinh doanh 5
Chương III. Phân tích những điều khoản chủ yếu của hợp đồng giao nhận thầu
xây lắp công trình giữa công ty xây dựng công nghiệp và công ty may thái
bình 6
I. Phân tích những điều khoản chủ yếu của Hợp đồng 6
II. Một số nhận xét về bản hợp đồng trên 10
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status