Đề Tài
Những cơ hội và thách thức
khi Việt Nam gia nhập
WTO
1
Mục Lục
Biểu số 2 Error: Reference source not found
Công ty CPXD số 4 HD Error: Reference source not found
Biểu số 5 Error: Reference source not found
BHYT: 3% Error: Reference source not found
Kinh phí CĐ: 2% Error: Reference source not found
Biểu số 8 Error: Reference source not found
HẢI DƯƠNG Error: Reference source not found
QUÝ 4/2005 Error: Reference source not found
Biểu số 9 Error: Reference source not found
Chi phí của TSCĐ dùng trực tiếp cho sản xuất thì tập hợp vào chi phí sản xuất Error:
Reference source not found
Biếu số 4 Error: Reference source not found
Biểu số 10 Error: Reference source not found
HẢI DƯƠNG Error: Reference source not found
Quý 4/2005 Error: Reference source not found
Biểu số 11 Error: Reference source not found
Biểu số 12 Error: Reference source not found
HẢI DƯƠNG Error: Reference source not found
Biểu số 13 Error: Reference source not found
HẢI DƯƠNG Error: Reference source not found
Quý 4/2005 Error: Reference source not found
Biểu số 14 Error: Reference source not found
Biểu số 7 Error: Reference source not found
Có TK 152 Error: Reference source not found
Tên tài khoản : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Số hiệu : 621 Error: Reference source
not found
Quý 4 năm 2005 Error: Reference source not found
Tên tài khoản : Chi phí nhân công trực tiếp Số hiệu : 622 Error: Reference source not
found
Quý 4 năm 2005 Error: Reference source not found
Có TK 334,338 Error: Reference source not found
Nợ TK 623 (623.4 – 623.4.1) Error: Reference source not found
Có TK 214 Error: Reference source not found
Nợ TK623 Error: Reference source not found
Cuối kỳ kết chuyển vào TK 154 Error: Reference source not found
Nợ TK 623 Error: Reference source not found
Kế toán ghi: Nợ TK 154 Error: Reference source not found
Nợ TK 154 – chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang Error: Reference source not found
Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang Error: Reference source not found
Ý KIẾN ĐƠN VỊ THỰC TẬP Error: Reference source not found
Hải Dương, ngày tháng năm 2006 Error: Reference source not found
Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Error: Reference source not found
Hải Dương, ngày tháng năm 2006 Error: Reference source not found
LỜI NÓI ĐẦU Error: Reference source not found
CHƯƠNG I Error: Reference source not found
CHƯƠNG II Error: Reference source not found
CHƯƠNG III Error: Reference source not found
3
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm cả thế giới. Khi toàn cầu
hóa về nền kinh tế đang trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu hội
nhập nền kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách. Toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi
nước phải liên kết với các quốc gia khác để cùng phát triển. Và Việt Nam cũng
tế (IMF). Một tổ chức chung về thương mại cũng được đề xuất thành lập với
tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO).
Phạm vi đề ra cho ITO là khá lớn, bao trùm lên cả các vấn đề việc làm,
đầu tư, cạnh tranh, dịch vụ, vì thế việc đàm phán Hiến chương (hiểu cách khác
là Điều lệ) của ITO diễn ra khá lâu. Trong khi đó, vì mong muốn sớm cắt giảm
thuế quan để đẩy mạnh công cuộc tái thiết sau chiến tranh, năm 1946, một
nhóm 23 nước đã đàm phán riêng rẽ và đạt được một số ưu đãi thuế quan nhất
định. Để ràng buộc những ưu đãi đã đạt được, nhóm 23 nước này quyết định
lấy một phần về chính sách thương mại trong dự thảo Hiến chương ITO, biến
nó thành Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT có
hiệu lực từ 1/1/1948 như một thoả thuận tạm thời trong khi chờ ITO được
thành lập. Nhưng ITO không ra đời: mặc dù Hiến chương ITO đã được thông
qua tại Havana (Cuba) tháng 3/1948, nhưng việc Quốc hội Hoa Kỳ trì hoãn
không phê chuẩn Hiến chương làm cho các nước khác cũng không phê chuẩn,
dẫn đến ITO không trở thành hiện thực. Do vậy, GATT trở thành cơ cấu đa
phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế cho đến khi WTO ra đời.
Có thể nói, trong 48 năm tồn tại của mình, GATT đã có những đóng góp
to lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại thế
giới. Số lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh. Cho tới trước khi Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1/1/1995, GATT đã có
124 bên ký kết và đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập. Nội dung của GATT
5
ngày một bao trùm và quy mô ngày một lớn: bắt đầu từ việc giảm thuế quan
cho tới các biện pháp phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, và tìm kiếm một
cơ chế quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia. Từ
mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình
của các nước phát triển chỉ còn khoảng 4% và thuế quan trung bình của các
nước đang phát triển còn khoảng 15%.
1.1.2 Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước
thành viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động đối thiểu.
Theo như Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, tổ chức này có năm
chức năng cơ bản như sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương
mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật
cho các nước thành viên thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa
phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng
WTO.
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến
việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa
phương.
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên,
bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy
định của WTO.
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ
Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định
những chính sách và dụ báo về xu hướng phát triển tương lai của nèn kinh tế
toàn cầu.
1.1.4 Nguyên tắc pháp lý của WTO
7
WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức
tạp, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau
điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế. Tuy vậy, tất cả các văn
bản đó đều được xây dựng trên cơ sở 4 nguyên tắc pháp lý nền tảng là: tối huệ
quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng.
- Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most favoured nation), là
nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO.Theo nguyên tắc MFN, WTO
tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau”. Việc thúc đẩy cạnh tranh
công bằng bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính “ không công bằng” như
trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giành thị phần.
1.1.5 Cơ cấu tổ chức của WTO
Hiện nay, WTO có 153 nước thành viên (tính đến tháng 9/2009), Đại
Hội đồng WTO đã chấp thuận Cape Verde là thành viên thứ 153 của WTO).
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, họp ít
nhất hai năm một lần, là cơ quan đưa ra quyết định đối với mọi vấn đề của bất
kỳ hiệp định cụ thể nào. Thông thường, Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các đường
lối, chính sách chung để các cơ quan cấp dưới tiến hành triển khai.
Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại Hội đồng, tiến hành các công việc hàng
ngày của WTO trong thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng, thông qua ba cơ
quan chức năng là: Đại Hội đồng, Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) và
Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại (TPRB).
Đại Hội đồng giải quyết các vấn đề của WTO thay mặt cho Hội nghị Bộ
trưởng và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Đại Hội đồng cũng đồng thời đóng
vai trò là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) và Cơ quan Rà soát chính
sách (TPRB).
Cơ quan Giải quyết Tranh chấp được phân ra làm Ban Hội thẩm (Panel)
và Uỷ ban Kháng nghị (Appellate). Các tranh chấp trước hết sẽ được đưa ra
9
Ban Hội thẩm để giải quyết. Nếu như các nước không hài lòng và đưa ra
kháng nghị thì Uỷ ban Kháng nghị sẽ có trách nhiệm xem xét vấn đề.
Dưới Đại Hội đồng, WTO có ba Hội đồng về ba lĩnh vực thương mại cụ
thể là Hội đồng Thương mại Hàng hoá, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội
đồng về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Các hội đồng này có
các cơ quan cấp dưới (các uỷ ban và các tiểu ban) để thực thi các công việc cụ
thể trong từng lĩnh vực. (Ví dụ, Hội đồng Thương mại Hàng hoá có 11 uỷ ban,
2 nhóm công tác và Cơ quan Giám sát Hàng dệt, Hội đồng Thương mại Dịch
vụ có 2 uỷ ban, 2 nhóm công tác ).
Phụ lục 1: Phục lục 1A gồm 20 hiệp định đa phương về thương mại
hàng hóa; Phụ lục 1B là Hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ ( GATS);
Phụ lục 1C là Hiệp định đa phương về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của sở hữu trí tuệ (TRIPS).
Phụ lục 2: Hiệp định đa phương về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh
việc giải quyết tranh chấp thương mại (DSU).
Phụ lục 3: Hiệp định đa phương về cơ chế rà sóat chính sách thương mại
(TPRM).
4 hiệp định nhiều bên về mua sắm máy bay dân dụng, mua sắm của
chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò.
23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thỏa
thuận trong Vòng đàm phán Uruguay.
1.2 Quá trình gia nhập của Việt Nam vào WTO
Sơ lược về thủ tục gia nhập WTO:
o Nộp đơn xin gia nhập
o Minh bạch hóa chính sách thương mại (nộp Bị vong lục)
11
o Trả lời các câu hỏi của Ban Công tác WTO
o Đàm phán đa phương (về thực hiện các quy định của WTO) và
Đàm phán song phương (về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch
vụ)
o Hoàn chỉnh hồ sơ gia nhập
o Kết nạp và công bố chính thức
1.2.1 Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam
Đảng Cộng sản VN với bản chất cách mạng và tư duy chính trị nhạy bén
đã khởi xướng và tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc
trên các lĩnh vực, cả về đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi
mới quan hệ kinh tế đối ngoại và cải cách nền hành chính quốc gia. Gắn kết
các nội dung đổi mới và để bảo đảm cho quá trình đổi mới là quá trình hoàn
thiện hệ thống luật pháp, cơ chế quản lý, từng bước hình thành đồng bộ các
kinh tế theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã từng bước xuất hiện lớp
cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, xuất hiện một
đội ngũ những nhà doanh nghiệp mới, có kiến thức, năng động và tự tin, dám
chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với cạnh tranh. Đây là nguồn lực quý báu
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhận thức được toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi
cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, năm 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới và kiên trì đàm phán và cải tổ để được gia
nhập tổ chức này.
1.2.2 Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam
4-1-1995: Đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam được Đại hội đồng
tiếp nhận.
31-1-1995: Ban xem xét công tác gia nhập (WP) của Việt Nam được
thành lập với chủ tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO.
13
24-8-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương VN và
gửi tới Ban thư ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác.
1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về
Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999,
và 11-2000. Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt
Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai
đoạn đàm phán mở cửa thị trường.
o 7-2000: ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ
o 12-2001: BTA có hiệu lực
Đầu năm 2002: Việt Nam gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch
vụ tới WTO và bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành
viên trên cơ sở bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ.
4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác. Việt
Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Bắt đầu tiến hành đàm
phán song phương.
phương với từng nước. Hàng hoá của nước ta vỡ vậy sẽ cú cơ hội lớn hơn và
bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. Do điều
kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong một số ngành,
đặc biệt là trong ngành nông nghiệp và dệt may. Đây là hai ngành được WTO
rất quan tâm và đó đề ra nhiều biện pháp để xoá bỏ dần các rào cản thương
mại. Chẳng hạn, theo Hiệp định Dệt may của WTO (ATC), mọi hạn chế định
lượng đối với mặt hàng dệt may được xoá bỏ từ ngày 1/1/2005.
Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích này nếu có mối quan
hệ thương mại "như thế nào đó" đối với các nước thành viên WTO. Đối với
thương mại hàng nông sản, các thành viên WTO cũng đó và đang đưa ra nhiều
cam kết về cắt giảm trợ cấp, giảm thuế và loại bỏ hàng rào phi thuế quan, từ đó
mang lại cơ hội mới cho những nước xuất khẩu nông sản như Việt Nam.
Thứ nhất, với quan điểm và nguyên tắc rõ ràng, Việt Nam đẩy nhanh
quá trình hội nhập. Đường lối ở tầm vĩ mô không thể tránh khỏi đối với sự
phát triển của quá trình tham gia toàn cầu hoá thực tế có ý nghĩa rất lớn đối với
sự nghiệp đổi mới, hội nhập của Việt Nam. Từ nhận thức này trong những năm
qua Việt Nam đã có bước chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển kinh tế
đối ngoại. Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng
lớp khác nhau phụ thuộc vào thực lực của mỗi lĩnh vực.
16
Thứ hai, tham gia toàn cầu hóa chính là tranh thủ các điều kiện quốc tế
để tranh thủ tiềm năng nước nhà, phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân
dân. Việt nam là nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng chưa được
khai thác hiệu quả. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không chỉ tạo
ta điều kiện cho việc phát triển các ngành khai thác chế biến mà còn thu hút
đầu tư của các công ty nước ngoài. Trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên
nhiên có sẵn, Việt nam có thể xác lập cơ cấu ngành kinh tế với những sản
phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng được nhu cầu trị trường thế giới.
Thứ ba: Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền kinh
tế trí tuệ, khoa học và công nghệ phát triển mạnh trở thành lực lượng sản xuất
với sự ổn đinh về chính trị xã hội, Việt Nam cũng có kinh nghiệm nhất định
sau hơn 17 năm đổi mới, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Cơ hội
chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta biết nắm bắt lấy nó. Nhận thức một cách
đúng đắn và đầy đủ các cơ hội để khai thác triệt để sẽ giúp cho nền kinh tế
Việt Nam phát triển. Khi nền kinh tế Việt Nam phát triển hơn bên cạnh các
thuận lợi chung cho mọi thành phần kinh tế.
Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Gia nhập WTO sẽ giúp chúng ta có được một môi trường pháp lý hoàn
chỉnh và minh bạch hơn, có sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp của nước
ngoài. Gia nhập WTO cũng là thông điệp hết sức rừ ràng về quyết tâm cải cách
của nước ta, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào làm ăn tại Việt
Nam. Ngoài ra, cơ hội tiếp cận thị trường của các thành viên WTO khác một
cách bình đẳng và minh bạch theo hướng đúng chuẩn mực của WTO, cũng là
một yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ
sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn.
Trước sức ép cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước bao gồm cả các doanh
nghiệp nhà nước, sẽ phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu
quả và sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ
các hàng rào phi thuế quan cũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố
đầu vào với chi phí hợp lý hơn, từ đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh
tranh không những ở trong nước mà còn trên thị trường quốc tế
Sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Môi trường thương mại quốc tế, sau này nhiều nỗ lực của WTO, đó trở
nên thông thoáng hơn. Tuy nhiên, khi tiến ra thị trường quốc tế, các doanh
nghiệp của nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại, trong đó có
cả những rào cản trá hình núp bóng các công cụ được WTO cho phép như
chống trợ cấp, chống bán phá giá… Tranh thủ thương mại là điều khó khăn mà
18
thứ quyền lực siêu hàng đang phát triển nhanh có thể gây ra tác động tiêu cức
trực tiếp đến an ninh kinh tế, văn hoá, xã hội theo hướng gây rối loạn và làm
lợi cho các thế lực bên ngoài. Vấn đề là kiểm soát việc tự do hoá thông tin,
19
truyền thông như thế nào để không từ bỏ lợi ích tận dụng khai thác nó mà vẫn
hạn chế tối đa nguy cơ gây thiệt hại sảy ra.
Thứ năm, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ yếu là với các quốc gia
có tiềm lực mạnh có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực như muốn kìm hãm
thậm chí gây sức ép buộc Việt Nam phải thay đổi định hướng, mục đích phát
triển.
Sức ép cạnh tranh
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị
trường dịch vụ… sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên
cạnh tranh hơn. Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp,
nhất là những doanh nghiệp đó quen với "bầu vú bao cấp" của Nhà nước. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp sẽ không có cách nào khác là chủ động và sẵn sàng
đối diện với thách thức này bởi đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển, là chặng
đường mà mọi quốc gia đều phải đi qua trên con đường hướng tới hiệu quả và
phồn vinh. Dù không gia nhập WTO thì thách thức này sớm hay muộn cũng sẽ
đến.
Riêng đối với khu vực nông nghiệp, việc gia nhập WTO có thể sẽ mang
lại khó khăn nhiều hơn bởi chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp khó
có thể diễn ra trong một sớm, một chiều. Chính phủ luôn lưu tâm đến yếu tố
này trong đàm phán gia nhập WTO và hy vọng kết quả đàm phán cuối cùng sẽ
là một kết quả chấp nhận được đối với lĩnh vực nông nghiệp.
Thách thức của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển
dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành sản
xuất không hiệu quả có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác
có hiệu quả hơn. Quá trình này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó có cả những
cũng là một thách thức to lớn đối với nước ta do phần đông cán bộ của ta còn
bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành một nền kinh tế mở, có sự tham gia của
yếu tố nước ngoài. Nếu không có sự chuẩn bị từ bây giờ, thách thức này sẽ
chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Ngoài ra, để tận
dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và tham gia có hiệu quả vào
các cuộc đàm phán trong tương lai của tổ chức này, chúng ta cũng cần phải có
một đội ngũ cán bộ thông thạo qui định và luật lệ của WTO, có kinh nghiệm
và kỹ năng đàm phán quốc tế. Thông qua đàm phán gia nhập, ta đó từng bước
xây dựng được đội ngũ này, nhưng vẫn còn thiếu.
Từ những cơ hội cũng như thách thức đó, hiện nay Việt Nam đang đẩy
nhanh công tác chuẩn bị gia nhập WTO. Về chuẩn bị điều kiện để thực hiện
các nghĩa vụ thành viên, thời gian qua Quốc hội và các cơ quan Chính phủ đó
21
khẩn trương đẩy nhanh chương trình xây dựng pháp luật. Quá trình rà soát văn
bản pháp luật đó tiến hành ở Trung ương. Bộ Tư pháp đang tiếp tục hướng dẫn
các tỉnh rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, có đối
chiếu với quy định của WTO và cam kết của nước ta. Các địa phương cũng
đang khẩn trương, nghiêm túc tiến hành rà soát, điều chỉnh các quy định, đặc
biệt là trong lĩnh vực thương mại - đầu tư để đảm bảo tính thống nhất với các
văn bản của Nhà nước và cam kết quốc tế. Đồng thời, chúng ta cũng đang đẩy
mạnh triển khai các chương trỡnh hành động thực hiện các hiệp định của WTO
như Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (IL); Hiệp định về các biện pháp
đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMs); Hiệp định về kiểm dịch và vệ
sinh an toàn thực phẩm (SPS)…
Để nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, chúng ta đó tập trung đầu tư
phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh để hướng vào xuất khẩu như nâng
cao chất lượng và giá trị chế biến của các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản; đầu tư
công nghệ và quản lý để nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng các mặt hàng xuất
khẩu truyền thống như dệt may, da giày…; khuyến khích các ngành hàng có
hàm lượng công nghệ và chất xám cao, có tiềm năng phát triển như điện tử, tin
Cơ hội tiếp cận tín dụng, công nghệ, thông tin, các dịch vụ, thiết bị, vật
tư đầu vào… tốt hơn.
Cơ hội xây dựng chiến lược kinh doanh, liên kết mới để phát triển.
Các tranh chấp TM quốc tế được giải quyết công bằng hơn.
b) Khó khăn / thách thức
Cạnh tranh quyết liệt hơn, cả ở thị trường trong nước
Phải học hỏi, hiểu các quy định của WTO, các cam kết khu vực & luật
lệ của các nước bạn hàng
Phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn trong nước và quốc tế
Phải thận trọng hơn khi chọn lựa bạn hàng, thị trường, phương thức kinh
doanh
Nhiều ưu đãi, trợ cấp, bảo hộ của Nhà nước bị bãi bỏ
Thị trường biến động nhanh, đòi hỏi khả năng thích ứng
Nhiều vấn đề tồn tại không dễ khắc phục
Một số ngành, sản phẩm, doanh nghiệp có thể bị thua thiệt
2.2.2 Tác động của gia nhập WTO đối với doanh nghiệp nông nghiệp Việt
Nam
a) Cơ hội:
Sự quan tâm, môi trường pháp lý & chính sách đối với nông nghiệp tốt
hơn, minh bạch, ổn định hơn
Nhà nước sẽ điều chỉnh chiến lược, qui hoạch phát triển nông nghiệp
theo hướng thị trường hơn, bền vững hơn
23
Các biện pháp, công cụ hỗ trợ mới của nhà nước đối với nông nghiệp &
phát triển nông thôn công bằng, phù hợp hơn
Các ngành dịch vụ, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp sẽ phát
triển, cơ sở hạ tầng ở nông thôn sẽ cải thiện
Triển vọng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn do vị thế mới của Việt
Nam trong WTO, trong vòng đàm phán Doha
Thị trường nội địa phát triển, hệ thống phân phối mở rộng, thuận lợi hơn
Nông sản Việt Nam có những hạn chế về chất lượng, quy cách, tính ổn
định & đồng đều, tiêu chuẩn an toàn Vệ sinh thực phẩm, môi trường, cách thu
hoạch & bảo quản, mức chế biến thấp… chưa phù hợp với yêu cầu ngày càng
cao của thị trường đô thị nội địa & xuất khẩu, thiếu thương hiệu mạnh.
Hệ thống tiêu thụ nông sản nội địa & hệ thống xuất khẩu đều cần cải
thiện nhiều mặt (hạ tầng, vốn, tổ chức & phương thức kinh doanh chuyên
nghiệp, marketing …)
Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam có những tồn tại chủ quan &
khách quan hạn chế năng lực cạnh tranh không dễ khắc phục.
Nhìn chung, đối với DN nông nghiệp VN, cơ hội là to lớn về lâu dài,
không dễ nắm bắt ngay, nhưng thách thức là hiện hữu, không dễ khắc phục do:
Cải cách, phát triển nông nghiệp đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, sự phối
hợp chiến lược & hành động của nhiều ngành, nhiều cấp, hệ thống quản lý và
con người, công nghệ… mà Việt Nam chưa có đủ trong những năm trước mắt.
Thị trường nông sản toàn cầu luôn luôn nhiều rủi ro, biến động, không
công bằng, được bảo hộ cao ở các nước nhập khẩu lớn, thua thiệt cho các nước
đang phát triển nhưng rất khó cải thiện; thị trường nội địa còn hạn hẹp, cạnh
tranh mạnh.
Kinh doanh nông sản rủi ro cao, lợi nhuận thấp; kinh doanh các ngành
công nghiệp và dịch vụ liên quan cũng khó hơn so với các lĩnh vực khác do
đặc thù của nông sản,nông dân.
2.2.3 Thách thức và cơ hội của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi gia
nhập WTO
a) Những lợi thế
Có tính năng động cao, linh hoạt, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường.
Có khả năng thích ứng cao với lý thuyết “kẽ hở thị trường”. Đáp ứng tốt
những nhu cầu nhỏ, đặc biệt thị trường địa phương và nội địa.
Có khả năng tận dụng được nguồn lực phong phú, có sẵn tại địa phương,
tiếp thu được kỹ thuật và kinh nghiệm bí truyền.
Am hiểu nhu cầu, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, văn hóa, luật pháp của